Trần gian người đời chương 13

By DƯƠNG HƯỚNG

 

 

 

Sau cái chết của Đào Bức trở nên lầm lỳ suốt ngày chẳng thèm nói một lời với Đô không rõ điều gì đã làm tâm tính Bức thay đổi hẳn. Lúc giao hết số thương binh về tuyến sau Đô trở lại trận địa Bức kéo tay Đô ra một chỗ nói nhỏ nhưng với thái độ dứt khoát.

- Mày thấy đấy tao còn đủ sức để quay lại trận địa với mày. Dứt khoát là như vậy không nói nhiều.

- Tao không có quyền quyết định - Đô nói và bỏ đi. Bức chộp lấy cổ tay Đô kéo lại mắt nó gườm gườm nhìn thẳng vào mặt Đô.

- Tao nói cho mày biết tao cần mẹ gì cái quyền của mày. Tao chỉ báo cho mày biết vậy để hai thằng cùng nhau về trận địa. Tao tình nguyện ra chỗ chết chứ có phải chạy trốn đâu mà tao sợ. Chỗ tao với mày tao chả ngại gì mà không nói thẳng rằng tao không thích về tuyến sau nó yếu người đi. Tao không tài nào chịu nổi ánh mắt các bố nhà ta cứ nhìn tao khang khác.

- Khác gì - Đô nói - mày chả sốt sắp chết đấy là gì .

- Ừ thì sốt nhưng mày trông cái thể lực của tao còn hơn chán vạn những thằng đang còn dưới trận địa. Tao không mượn mày phải thương hại tao. Với lại cái tạng tao có về tuyến sau cũng chỉ ba bữa là các bố phải tống tao đi. Mẹ kiếp lớ ngớ lại phải nhảy sang đơn vị khác thì hỏng. Tao muốn về với anh em mình...

Bức đã nói đến thế Đô đành phải chịu. Đêm cuối tháng trời tối đen Đô và Bức lần theo lối mòn trở về trận địa. Đêm nay bỗng dưng không gian lại yên ắng tới mức đáng ngờ. Từ lúc tối không hề có tiếng máy bay không một tiếng pháo nổ. Mặt sông Thu lặng lẽ trôi nghe rõ cả tiếng cá quẫy lúc búc. Con trâu bị thương vẫn nằm nguyên chỗ cũ đã bốc lên mùi khăn khẳn. Có tiếng chuột chít chít chúng đang bậu vào vết thương con trâu đục khoét xâu xé. Đô và Bức cắm đầu chạy. Trận địa trên dãy đồi trọc lờ mờ hiện lên một vệt đen mờ dọc theo quốc lộ 14. Có tiếng nổ "bụp" trên không một chùm pháo hiệu đỏ chói sáng rực cả khoảng trời trước mặt.

- Mẹ kiếp biết ngay mà - Bức nói - Nó bắt đầu rửng mỡ đấy.

Bức vừa nói dứt lời một loạt pháo 105 từ quốc lộ 14 bắn cấp tập lên trận địa. Mặt đất rung lên từng đợt. Trên trời tiếng phản lực gầm rít dội bom xuống trận địa. Dãy đồi trọc thành khối lửa khổng lồ tưởng chừng như đang rữa ra trong ánh sáng chớp giật của bom pháo. Đô và Bức nằm xuống vệ sông. Lại một loạt bom nổ gần và nước sông trào lên Đô bị sức ép của bom nằm ngất lịm. Khi tỉnh dậy Đô thấy đất trời lặng ngắt chìm trong màn đêm đen đặc. Cả thế gian này đã bị hủy diệt tan biến đi đâu hết. Một sự im lặng rùng rợn làm Đô hoảng sợ.

- Bức Bức ơi - Đô gọi - Mày có sao không Bức. Đô nghe tiếng Bức rên khe khẽ. Đô nhào đến bên Bức. Giọng Bức yếu ớt đứt quãng.

- Đô... Đô ơi tao chết... chết. Mày không phải nghĩ ngợi về tao mày nhớ lời tao dặn... Nga vẫn yêu mày đấy...

Đô bối rối xúc động hét lên:

- Mày lảm nhảm gì vậy. Mày phải sống phải sống.

Đô bật dậy chạy. Đô chạy như điên trong đêm tối. Lên tới dãy đồi trọc. Đô không nhận ra vị trí đường hướng của giao thông hào ngang dọc trên trận địa. Bom pháo cày xới đất đá ngổn ngang. Mùi da thịt cháy lẫn mùi thuốc bom pháo khét lẹt. Đô lần mò trong đêm tối rờ rẫm tìm đồng đội. Tất cả đã chết trong im lặng. Chết trong lòng đất chết trên giao thông hào. Đô chạy loạn lên tìm kiếm xem có ai sống sót. Đồng đội của Đô người bị cụt đầu cụt chân đứa bị vùi lấp nửa người thằng bị cháy thui nằm co quắp trên đất. Đô không còn nhận ra ai với ai. Đô áp tai xuống từng cái xác lắng nghe cố tìm kiếm sự sống trong cái thế giới đầy chết chóc. Không có chút dấu vết của sự sống. Đô quay trở lại với Bức.

 

*

 

Chiến dịch kết thúc cũng là lúc mùa mưa đến mưa dầm dề ngày đêm. Mưa thối đất rừng Bức phải cưa mất cả hai chân và một bàn tay. Sự mất mát đau đơn về thể xác kéo theo sự sụp đổ về tinh thần làm Bức nổi khùng lên với tất cả mọi người. Dịp này Đô xin trung đoàn mười ngày vệ trạm xá để có điều kiện trông nom Bức. Không ai hiểu rõ tâm tính Bức bằng Đô. Đô tìm mọi cách an ủi động viên để Bức yên tâm điều trị cho vết thương mau lành để chuẩn bị ra Bắc. Bức suốt ngày nằm bất động trên chiếc võng ny lông chẳng nói chẳng rằng. Đô cố tình gợi chuyện Bức bảo:

- Giá hôm đó mày để tao chết quách đi còn hơn.

- Này anh bạn anh phát biểu mất cả lập trường quan điểm - một người lính già bị cụt tay nằm cạnh Bức phản đối. Anh giơ một cánh tay cụt ngủn lên như cố tình khoe với Bức. Giọng anh ta có vẻ gay gắt - tớ nói để anh bạn biết  anh bị mắc căn bệnh tự ti rồi đấy. Giữa thời buổi bom đạn đầy trời mà còn giữ được cái gáo mang về là phúc tổ rồi đấy. Chú mày có nghĩ tới những anh em nằm lại vĩnh viễn nơi này thì sao? Tớ là tớ chả thấy buồn tý nào. Việc quái gì phải buồn trường hợp như anh bạn ra được đất Bắc theo chế độ là anh bạn được xếp vào loại đặc biệt có người hầu hạ cơm bưng nước rót chả sướng sao? Cái "món kia" của anh bạn vẫn còn chứ hả? Còn à? Ôi thế thì nhất rồi còn gì. Nghĩa là cái ấy còn thì cuộc đời còn biết tới cái sung sướng. Thú thực với anh bạn tớ là tớ chỉ lo mất mỗi cái ấy.

Người lính già vừa nói vừa nháy mắt nhìn Đô. Bức vẫn không cười. Đô cúi xuống bảo Bức:

- Tao cõng mày sang lán bên kia chơi nhé phải vận động đi một tý cho khỏe. Nay là tối thứ bảy lán bên kia có cái đài Nationa của một tay mới vào điều trị bệnh sốt rét nghe ngon lắm sang bên ấy nghe sân khấu truyền thanh.

Dù Đô có dụ bằng mọi cách Bức vẫn không chịu rời khỏi chiếc võng của mình.

Đô lững thững bước ra ngoài. Trời đêm tối đen. Ngoài suối tiếng nước chảy ào ào những giọt mưa vẫn rơi lộp bộp trên lá. Đô bước vào trong lán số ba dành riêng cho những người bị sốt rét. Mọi người ngồi quây quần quanh  đống lửa nghe đài Hà Nội. Điều bất ngờ làm Đô bàng hoàng xúc động là giữa chốn rừng xanh núi thẳm này Đô lại được nghe chính cái vở chèo "Huyền thoại tình yêu" do anh sáng tác từ mười năm trước do đội chèo làng Nguyệt Hạ biểu diễn ngày ấy. Điều làm Đô sửng sốt khi nghe người ta giới thiệu nghệ sĩ Thu Nga nào đó nữa. Chả lẽ Thu Nga của Đô và Bức đã trở thành nghệ sĩ chèo thực sự rồi sao? Đô nhìn vào tất cả gương mặt những người lính ngồi quanh đống lửa không ai hiểu gì hết. Ai mà ngờ ai mà tin vở chèo "Huyền thoại tình yêu" mọi người đang nghe mà tác giả của nó lại chính là Đô. Ai mà ngờ rằng nghệ sĩ Thu Nga đang hát lại là vợ Bức và là người yêu cũ của Đô. Nhưng mà sự thực là như vậy. Đô nhận ra giọng hát Thu Nga đúng là Nga của Đô xưa. Đô đứng bật dậy chạy vụt ra cửa.

- Bức Bức ơi - vừa chạy Đô vừa gọi Bức - Bức ơi tao cõng mày sang bên này có tin mừng thật là mừng....

Đô xốc Bức dậy cõng Bức sang lán số ba. Đô đặt Bức ngồi ngay trong lòng mình.

- Người ta đang diễn vở chèo "Huyền thoại tình yêu" của tớ đấy - đô khẽ thì thào vào tai Bức - Hãy nghe đi đã đừng khoe với ai vội. Đấy Nga của mày đóng vai công chúa Nguyệt Cầm đấy. Cô nàng của mày vào đoàn chèo chuyên nghiệp rồi. Nghệ sĩ ưu tú cơ đấy thật mà tao vừa nghe giới thiệu.

Đô nhận ra Bức cũng đang xúc động không kém gì mình Bức cũng chẳng nói được lời nào cứ ngồi lặng trong lòng Đô. Tiếng hát của Thu Nga tha thiết vang lên trong gian lán giữa rừng. Mọi kỷ niệm cũ lại trào dâng trong lòng Đô. Vở chèo "Huyền thoại tình yêu" kết thúc Đô cõng Bức về lán của mình. Ngoài trời mưa vẫn rơi lộp bộp trên lá.

- Khi nào về ngoài đó cho mình gửi lời chúc mừng Nga - Đô nói.

- Mừng cái con khỉ - Bức gắt lên - Thế là hết rồi. Hết thật sự.

- Hết cái gì ? Đằng ấy không mừng sao?

- Không - Bức trả lời - Tao không bao giờ chấp nhận chuyện này. Tao không thể tưởng tượng nổi Nga lại bỏ nhà ra đi. Giá mày để tao chết quách đi còn hơn. Tao sẽ không bao giờ thèm nhìn mặt cô ta nữa. Đấy rồi mày xem. Cái sân khấu chèo của nàng có thể hợp với mày nhưng với tao thì tao căm thù... căm thù mày hiểu chưa.

- Mày điên rồi sao - Đô gắt - Có thể mày còn ghen... tao khinh bỉ cái thói ích kỷ ghen tuông của mày. Nga là người tốt...

- Tốt thì mày đi mà yêu lấy còn tao thì tao khinh bỉ. Mày hãy bình tĩnh mà ngẫm lại coi từ bao năm nay cô ta vào văn công chuyên nghiệp hà hà... "Gái văn công - mông lính" với lại cô nàng bây giờ là một nghệ sĩ... còn tao thì thế này liệu cô nàng có còn muốn nhìn mặt nữa không chứ?

Đô yên lặng. Anh biết nói gì với Bức lúc này cũng là vô ích. Hơn nữa những điều Bức nói chưa hẳn là phi lý. Niềm vui trong anh chưa kịp nhen lên đã tắt ngấm! Đô cũng rơi vào trạng thái buồn bã như Bức.

 

 

More...

Bến không chồng: Chương 15

By DƯƠNG HƯỚNG

 

15

         

Có lẽ trên thế gian này các nước văn minh không đâu có những khoanh bùi nhùi rơm. Những khoành bùi nhùi rơm vàng ươm to bằng cái mẹt được buộc chắc sau gác ba ga xe đạp. Lúc đói kém đến trâu bò cũng phải nhường nhịn san sẻ từng cọng rơm ngọn cỏ.

Làng Đông huy động được ba chục nhân công mang rơm sang tỉnh Hải Hưng cứu đói cho số trâu bò bị lụt ngập không có cỏ. Ba chục người đã tập  trung đầy đủ trên sân kho để chuẩn bị lên đường thì anh chàng thợ ảnh chồng cái Thắm thập thễnh bước ra túm áo vợ:

- Về ngay! Bà con thấy không tôi đã thuê hẳn hai người đi thay nó mà nó còn cố tình đòi đi. Đồ đĩ đi mà đú đởn.

Mặt cái Thắm đỏ gay cố vùng vẫy khỏi tay chồng. Anh chàng thợ ảnh tuy thọt nhưng sức lực rất cường tráng bàn tay anh ta tóm chặt lấy vợ lôi về.

- Anh buông em ra để em về đàng hoàng. Cái Thắm cố gượng cười với chồng. Eo ơi mình làm thế này người ta lại cười cho.

Anh chàng thợ ảnh vừa buông tay vợ ra Thắm vùng chạy lại xe rơm nhảy phốc lên đạp tuốt ra đường làng. Mọi người cười rũ lần lượt đạp theo Thắm. Anh chàng thợ ảnh đứng sững lại mặt hằm hằm tức giận vì cái tính đỏng đảnh của vợ.

- Tôi nói cho chị biết - Anh chàng thợ ảnh đến đứng trước Hạnh - Tất cả là tại nhà chị rủ rê. Nó đi chuyến này về thì đừng hòng thoát khỏi tay thằng này.

Anh chàng thợ ảnh trút cơn giận dữ với Hạnh rồi tập tễnh bỏ về. Hạnh nhảy lên xe đạp theo đoàn người thồ rơm. Ra tới đê Thắm đạp chậm lại chờ Hạnh. Vừa nhìn thấy Hạnh Thắm nhoẻn cười toe toét.

- Chị thấy em ứng xử có giỏi không?

- Chuyến này về nó róc xương cô ra.

- Đừng hòng! Sau cái đêm chống bão về chả biết ai thóc mách là em ôm anh chàng pháo thủ cả đêm trong điếm. Thế là anh ấy ghen lồng lên.

- Cũng chẳng oan. Tôi mà không gọi cô dậy thì còn đẹp mặt nữa. Con gái có chồng mà chả ý tứ gì cả.

- Em bảo em có chồng mà anh ấy không tin.

- Cái mặt non choẹt của mày thì ai tin là gái có chồng với lại cái mắt cô cứ đưa đẩy thế thì thằng nào mà chả chết.

- Em nghĩ cả đời mới có mỗi một lần kỳ ngộ gặp nhau trong tình cảnh đặc biệt thế chả nhẽ lại tiết kiệm cả nụ cười. Anh ấy bảo đơn vị anh ấy chuẩn bị vào Nam. Sáng chủ nhật tới anh ấy còn hẹn sang làng ta chơi nữa.

- Thế cơ đấy. Tôi khuyên cô chẳng hay ho gì đâu. Mình là gái có chồng.

- Em chẳng làm gì xấu mà sợ. Tý nữa qua trận địa em gọi anh ấy ra cho chị xem mặt. Anh ấy tên là Thấu còn trẻ măng.

Tới ngang trận địa pháo Thắm nhảy xuống xe ngước mắt nhìn lên trận địa pháo. Những khẩu pháo vươn nòng lấp ló trong những khóm chuối lá xơ xác vì gió bão.

- Anh Thấu ơi... ra đây em bảo. Thắm hét lên rõ to.

- Mày làm cứ như thân lắm.

- Thì cũng phải bảo người ta chủ nhật đừng có sang nữa.

Loáng cái chàng pháo thủ đã xồng xộc chạy ra ngơ ngác đứng sững trước mặt cái Thắm.

- Anh Thấu không nhận ra em sao? Hôm đi chống bão...

- Ôi Thắm hả? Hôm nay trông em khác quá.

- Đây là chị Hạnh - Thắm nói - Chồng chị ấy cũng là lính pháo như anh đấy.

- Mời chị và Thắm vào trận địa chơi.

- Anh không thấy chúng em còn phải đi...Chủ nhật này anh đừng sang làng Đông nữa chả có đứa con gái nào ở nhà đâu. Chúng em phải đi ít là ba ngày mới về.

Thắm nói và nhảy lên xe nháy mắt với Hạnh rồi đạp thẳng.

- Thôi chú về đi - Hạnh nói rồi nhảy lên xe đạp đuổi theo Thắm.

Chàng lính pháo tần ngần nhìn theo hai chị em Hạnh lúc lâu mới gọi với:

- Thắm! Thắm ơi khi nào về nhớ ghé qua anh bảo cái này.

Thằm vừa gò lưng đạp vừa cười ngặt nghẽo.

- Mày cười gì đấy ?

- Em buồn cười quá đi mất. Giờ cứ nhìn thấy anh ấy em lại buồn cười - Thắm cười rũ - Chị biết không đêm ấy em đã chủ động bảo anh ấy sờ tý em hý hý...

- Nỡm ạ!  Sao mày liều thế ?

- Ôi em chẳng biết nữa. Mọi người thì ngáy khò khò. Cả chị nữa cũng ngủ gà ngủ gật. Chỉ còn mỗi mình em và anh ấy lại cứ tỉnh như sáo. Hai đứa  rí ráu nói chuyện. Lúc đầu em cũng chẳng dám đâu. Nhưng từ lúc anh ấy bảo anh ấy sắp sửa vào Nam chiến đấu không hiểu sao lúc ấy em lại cứ nghĩ anh ấy ra đi và chẳng bao giờ gặp lại nhau nữa. Cũng giống như các anh ở làng ta đi hết đợt này đến đợt khác mà chả thấy ai về. Có được về thì lại như anh Thành. Thế là em liền nắm lấy bàn tay anh ấy đặt lên ngực mình. Lúc đó em nghe rõ cả tiếng tim anh ấy đập loạn lên tay anh ấy run rẩy em hiểu ngay là anh ấy chưa biết mùi đàn bà thậm chí chưa biết cả tình yêu. Từ hôm ấy đến nay em cứ phân vân không biết anh ấy có khinh mình không?...

Loáng chốc Hạnh và Thắm đã ra tới đường Mười. Con đường rải nhựa rợp bóng phi lao. Thỉnh thoảng lại có những cây phi lao bật gốc ngả nghiêng trơ ra những chùm rễ tua tủa dấu tích tàn phá của cơn bão còn lại. Hạnh phân vân mãi câu chuyện của Thắm.

Tới mười hai giờ trưa đoàn thồ rơm đến huyện lỵ Đông Quan nghỉ ngơi ăn cơm. Anh Thành bảo phải ăn cơm khẩn trương để tiếp tục hành quân kịp sang qua phà Triều trước khi trời tối.

Hạnh đi khắp lượt nhìn mọi người bỏ cơm nắm ra ăn chỉ anh Ngốc là có thức ăn sang nhất- một gói cơm nếp kèm theo đùi gà luộc vàng nhẫy.

Dâu gạ:

        - Anh Ngốc cho em ăn chung với .

- Đếch cho mày ăn. Tao phần cho em Cúc. Chàng Ngốc toét miệng cười nhìn Cúc ngồi với mấy ông già. Từ bữa Cúc trả trầu anh Thành tính nết Cúc thay đổi hẳn. Hầu như Cả làng đều giận nó. Bà Nhị là cô ruột của Cúc còn bảo: "Cháu dại lắm. Chê thằng Thành thì cháu sẽ ế không ma nào dám hỏi mày làm vợ nữa. Cũng đừng có hi vọng thanh niên làng khác vác mặt đến làng này với mày. Dù mày có đẹp như tiên cũng chỉ lấy được cỡ như thằng Ngốc" Ai ngờ câu nói của bà Nhị lại đến tai chàng Ngốc. Mỗi lần gặp Cúc Ngốc tưởng bở nhoẻn cười bảo: "Em Cúc ơi có yêu anh không thì bảo". Hạnh thương Cúc suốt ngày nó lặng lẽ như cái bóng. Bất kể đi đâu ở chỗ đông người Cúc không dám cả nói to cười đùa như trước.

- Cúc ơi lại đây tao bảo.

Dâu gọi giật Cúc. Hạnh nhìn thấy anh Thành cúi gằm mặt xuống lặng lẽ ngồi nhai cơm nắm.

- Khi nào qua được phà Triều tao dẫn chúng mày vào nhà quen nghỉ trọ - Anh Thành nói.

- Chắc là có em nào ở bên ấy hả? Dâu nhanh nhảu hỏi.

- Em thì không. Hồi tao đóng quân ở đấy đã bảy tám năm nay tao chưa có dịp trở lại. Gia đình nhà ấy có hai ông bà già và một thằng con út năm ấy mười sáu tuổi...

Đoàn thồ rơm tới phà Triều mặt trời đã là là ngọn tre. Dòng sông Luộc cuồn cuộn đỏ phù sa. Chiếc phà dập dìu gõ chuông leng keng đưa đoàn thồ rơm sang đất Hưng Yên. Những lùm nhãn xơ xác vì gió bão những mái nhà lụp sụp thấp thoáng những người dân đi làm đồng về. Đường sá tróc lở lổn nhổn những viên gạch vỡ. Hạnh Dâu Thắm Cúc và cả anh chàng Ngốc theo anh Thành lộc cộc dắt xe rơm vào một lối ngõ sâu hun hút. Tới một ngôi nhà mái lợp nửa ngói nửa tranh những tấm tranh còn mới chắc vừa lợp lại sau cơn bão. Anh Thành đi đầu dong xe rơm vào sân cất tiếng gọi "Bố ơi bố". Một bà già chừng bảy mươi lò dò từ trong nhà bước ra ngó trân trân vào anh Thành.

- Chúng con bên Thái Bình sang xin ngủ nhờ bố mẹ qua đêm - Anh Thành nói. Bố đi đâu hả mẹ?

- Bố nào? - Ông ấy nhà tôi mất từ lâu rồi.

- Ôi! Bố mất rồi sao mẹ?

- Anh biết ông ấy nhà tôi à?

- Con là Thành đây mà. Hồi trước con đóng quân ở đây.

- Anh đừng có lừa tôi. Tôi già nhưng chưa lẫn. Tôi biết rõ thằng Thành nó đã ở đây với gia đình tôi.

- Mẹ! Anh Thành xúc động - Con bị thương...

- Thật thế sao? - Bà cụ vẫn ậm ự chưa tin. Cụ lập cập xuống bếp xách siêu nước vối lên rót ra bát mời mọi người.

Bà cụ nhìn chằm chặp vào gương mặt anh Thành.

- Thế này thì đến con Loan nhà này nó cũng không nhận ra anh.

- Chị Loan đi đâu ạ?

- Nó đi làm sắp về bây giờ đấy. Chồng nó chết rồi báo tử năm ngoái. Nó tình nguyện ở với tao suốt đời không đi lấy chồng. Còn thằng Thăng nó là út đấy cũng đi bộ đội mấy năm nay chẳng thư từ gì. Ước gì thằng út nhà này nó cũng để được về.

Hạnh uống ngụm nước thấy nghẹn. Các bà mẹ trên đất nước này đều có nỗi niềm giống nhau mẹ đẻ Hạnh mẹ chồng Hạnh cũng thế.

Chị Loan cùng trạc tuổi Hạnh xắn quần quá gối vác cuốc vào sân thấy nhà có khách vội cúi xuống thả hai ống quần ra ngập ngừng bước vào cửa chào khách.

- Con Loan về đấy à? Bà cụ nói. Mày có nhận ra ai đây không?

Bà cụ đưa tay chỉ anh Thành. Người phụ nữ cứ đứng ngây ra mặt đỏ lên rồi lại tái đi.

- Anh Thành đấy - Bà cụ nói tiếp - Anh Thành mà hồi xưa đóng quân ở nhà ta mày vẫn thường nhắc hoài đấy thôi.

- Anh là anh Thành thật sao?

Giọng chị Loan líu ríu chạy lại nắm bàn tay anh Thành.

- Tôi không phải là Thành. Anh Thành tếu táo. Tôi chỉ là cái thằng đã vá xe hàn dép cho chị để chị đi thăm chồng anh ấy đóng quân mãi tít trên Sao Đỏ ngày ấy. Tôi còn là thằng đã bàn với chị tổ chức tối liên hoan kết nghĩa giữa đơn vị bộ đội với chi đoàn địa phương. Chị có nhớ thằng Tạo không? Chính tay nó đã trao phần thưởng của đơn vị cho chị là người đoạt giải nhất cuộc thi cấy. Thằng Tạo thì nó đã ngẻo rồi bà bí thư chi đoàn ạ. Còn thằng tôi thì được thằng Mỹ nó sửa cho cái mặt đẹp đẽ đến thế này đây.

Chị Loan vồ lấy tay anh Thành nói liến thoắng. Bà cụ ngoáy lia lịa chiếc cối giã trầu trên tay. Cái Cúc mắt đỏ hoe vội vã chạy ra sân. Thắm rơm rớm mắt nhìn Dâu Dâu véo Hạnh một cái rõ đau. Anh Ngốc cười hì hì nhìn mọi người.

- Thôi hãy dẹp mọi chuyện. Phải ăn đã - Bà cụ nói - Con Loan đi nấu cơm. Chết chưa lụt lội chả còn lấy cây rau ma ăn.

- Cụ khỏi lo - Dâu nói - Chúng con sẽ đãi cụ và chị bữa rau muống Thái Bình. Nước đã ngập sang cỏ còn chết thì rau sống sao được.

Anh Ngốc vội chạy ra xe rơm lấy vào một chiếc túi mang vào chỗ bà cụ:

- Cháu còn cả nửa con gà - Anh Ngốc khoe - Bố cháu bảo bao giờ cháu lấy vợ sẽ mổ lợn.

- Nhà anh giàu thế cơ à?

- Trước đây nhà cháu nghèo nhất làng ba đời chuyên hót phân trâu. Bố cháu bảo cứ hót cho nhiều phân là nhiều thóc.

Bữa cơm tối dọn ra giữa sân. Trăng lửng lơ treo rặng nhãn trước nhà. ếch nhái râm ran ngoài ao. Chị Loan và Hạnh ngồi đầu nồi xới cơm. Cảnh con dâu mẹ chồng nhà này giống y cảnh nhà Hạnh. Hạnh chợt rùng mình nghĩ đến chuyện Nghĩa cũng chẳng bao giờ về nữa.

- Những đứa đóng quân ở đây đã có những đứa nào được về rồi hả? - Bà cụ hỏi anh Thành.

- Có mỗi mình con là vào diện phế thải mới phải về đấy mẹ ạ.

- Vậy đã có đứa nào làm to chưa?

- Làm to thì chưa nhưng làm sang thì có! Mẹ và chị còn nhớ thằng Quách bữa chia tay các chị nó còn đứng lên đọc cả bài thơ dài.

- Tôi nhớ rồi chị Loan nói bài thơ ấy chúng tôi còn truyền tay nhau đọc. Tôi còn nhớ có câu chiến trường giục giã bước hành quân hay là rộn rã bước hành quân gì đấy.

- Hắn đọc bài thơ thì hay nhưng vào đến chiến trường hắn lại là thằng đào ngũ trước tiên.

- Anh không đùa chứ?

- Tôi mà nói sai tôi chết. Anh ta là lính đảo ngũ đã biết gì chiến trường mà thế quái nào bây giờ lại thành nhà thơ chuyên viết về chiến trường nghe rất hùng hồn cũng súng nổ cờ bay chiến thắng. Anh ta nói về người lính ở chiến trường cứ rộn rã như hội bơi thuyền ở quê tôi. Ở đời cũng lắm thằng tài mỗi anh tài một kiểu. Có anh thì chiến đấu bằng sức lực mồ hôi và xương máu. Còn tay Quách lại có tài chiến đấu bằng thơ. Cũng may đơn vị tôi hồi ấy có mỗi tay Quách là tài chiến đấu bằng thơ. Anh Thành nói tưng tửng. Tôi tính cho cả nhà nghe. Đại đội tôi ngày ấy ở đây xuất quân đi là chín chục hai năm sau còn có hơn hai chục. Người chết bom pháo người chết sốt rét người chết trôi sông chết cây đổ và cả chết đói nữa.

- Nghe anh Thành nói như bịa - Dâu bấm vào đùi anh Thành - Anh nói thế dân quân ở đây họ bắt đấy.

- Không sợ. Bà cụ nói. Con Loan nó cũng là dân quân. Tôi vẫn thường bảo nó. Đứa hèn sống ở đâu cũng hèn người quân tử đi trận biết chết vẫn cứ đi. Ở làng này lớp đi trước cùng với chồng con Loan cũng chết khối nhưng lớp sau như thằng Út nhà nhày chúng đâu có sợ.

Chị Loan nhường giường cho anh Thành và Ngốc nằm còn lại chị em chải chiếu trước thềm nằm cho mát.

Trước khi đi ngủ bà cụ bảo:

- Sáng mai con Loan đi thồ rơm thay cho anh Thành. Để anh ấy nghỉ ở đây với tao một ngày. Chỉ chừng tối mai là chúng mày quay về đây.

Hạnh nằm cạnh chị Loan Dâu và cái Thắm lại bấu véo nhau cười khúc khích.

- Hồi anh Thành ở đây chú út nhà này quý anh lắm - Chị Loan thủ thỉ với Hạnh - Các anh chị phải có trách nhiệm làm mối cho anh ấy đám nào chứ. Người như anh ấy tốt lắm...

Hạnh thấy Cúc cựa mình và bỗng dưng nó vùng dậy chạy ra ngõ.

- Cô ấy đi đâu vậy? Chị Loan hỏi.

- Nó đi giải ấy mà. Hạnh nói. Con bé hay có tính đi đái vặt.

Lúc lâu không thấy Cúc về Hạnh lấy cớ đi giải ra ngõ thấy Cúc ngồi sụt sùi bên gốc nhãn. Nó khóc về chuyện gì chỉ mỗi mình Hạnh hiểu. Mọi người đều có nỗi buồn riêng nhưng nỗi buồn của cái Cúc thì ít người hiểu.

- Em phải biết là mình đi ngủ trọ nhà người ta. Vào ngủ đi. Hạnh giục.

- Em khổ lắm chị ơi. Cúc lại thảng thốt kêu lên khe khẽ đưa tay gạt nước mắt rồi lững thững đi theo Hạnh vào sân.

- Trăng đẹp quá. Hạnh nói to và kéo Cúc nằm xuống bên cạnh mình. Trăng đã leo vượt khỏi rặng nhãn bóng trăng dát vàng trên mảnh sân gạch. Hạnh có cảm giác làng quê ở đây cũng giống như làng Đông quê Hạnh. Đêm yên tĩnh Hạnh nghe rõ hơi thở không đều của chị Loan và nhịp tim khắc khoải của Cúc.

More...

Dưới chín tầng trời: Chương 13

By DƯƠNG HƯỚNG

 

CHƯƠNG 13

Lời cầu xin chúa

Căn phòng riêng của nàng từ lâu không có hơi người bốc mùi ẩm mốc. Vú nuôi đang loay hoay dọn quét lau chùi cánh cửa. Từ nay nàng lại bắt đầu chôn vùi tuổi xuân trong căn phòng này giống lần trước nàng sinh con với chàng giải phóng quân. Má đặt Bin xuống giường chân tay Bin cong lên co đạp và ị cả ra tấm tã lót trắng tinh một bãi vàng nhẫy.

- Con làm ta thất vọng quá! Giọng vú nuôi lạnh lùng mặt biến sắc.

 Nàng muốn nói với vú nhiều điều nhưng cổ nghèn nghẹn không nói được. Nàng sợ vú và ba má lại bàn cách đưa Bin đi như con Ngọc Lan. Không! Lần này nàng quyết không thể để vú và ba má nàng đưa Bin đi. Bin là con nàng. Nó đang bú dòng sữa của nàng. Con ơi má sẽ cho con cả cuộc đời má. Má sẽ thực sự làm má của con từ ngày nay. Sẽ chẳng còn thùng thư "chết" sẽ chẳng còn ước mơ gặp chàng giải phóng quân năm nào. Và nàng cũng chẳng còn được bay lên trời cao cùng anh chàng Hall đẹp trai có con mắt biếc xanh có tấm lòng thương cảm để hát lên những câu hát kêu gọi những chiến binh cộng sản trở về. Nàng biết vú nuôi đã thất vọng về nàng. Vú ngỡ đã nuôi dạy đào tạo được nàng từ một tiểu thư khuê các thành nữ chiến sĩ biệt động dũng cảm- Một "viên đạn vàng" xuyên thủng bất kỳ mục tiêu nào. Ai ngờ viên đạn "vàng" lại tự nổ tan chính mình. Nàng đã làm hỏng mình. Ai đời lại nhẹ dạ để có con với chính kẻ thù. Nàng đã đánh mất hết mất cuộc đời nàng mất con Ngọc Lan mất chàng giải phóng quân mất luôn cả Ben. Và lúc này đời nàng chỉ còn mỗi mình Bin. Nó đang nằm trong lòng tay nàng đây. Nó đã biết cười mụ. Bà mụ đang dạy nó cười. Bà mụ chỉ dạy trẻ cười. Xưa nay bà mụ không dạy trẻ khóc. Con người ta sinh ra đã biết khóc không cần ai dạy khóc. Nàng chẳng biết dòng dõi tổ tông nhà Bin. Nàng chỉ biết Bin là con nàng. Từ nay nàng phải bám víu vào nó để mà sống. Mãi mãi nó sẽ không biết chính nàng đã giết cha nó. Khẩu súng lạnh băng trong gốc Hoàng Lan thơm ngát đã nằm gọn trong tay nàng. Nàng đã bóp cò từ sau lưng Ben khi Ben đang ngắm nhìn ra biển chờ đón giây phút được ân ái bên nàng. Biển đang trào dâng từng đợt sóng xô vào bến Thần Tiên. Ben cũng không thể ngờ chính nàng lại có thể cầm súng bắn mình. Nàng không chỉ bắn Ben cha thằng Bin nàng còn bắn cả vào một thế giới đang điên loạn bắn vào cả bộ máy chiến tranh khổng lồ của đế quốc Mỹ xâm lược. Lạy chúa lòng lành người hãy để cho con được sống yên bình trong cõi nhân gian này với đứa con trai của con. Đứa con trai của con vừa ra đời đã phải nhận sự trừng phạt của chúa bởi tội ác của kẻ đã sinh ra nó.

Có lẽ Chúa đã thấu lời cầu xin của nàng.

Nay Bin đã biết đi nó đẹp như thiên thần bước những bước chân chập chững trên mặt đất mở tròn cặp mắt xanh trong veo ngơ ngác nhìn đất trời. Căn phòng này luôn mở cửa sổ cho ánh sáng ùa vào. Bin đã biết nhìn ra dòng sông ngoài ô cửa có những con tầu chạy trên mặt nước tạo ra những cánh sóng lăn tăn sáng loá. Nàng dạy Bin tập tọng biết nói khi nó nhìn ra dòng sông nàng bảo Bin "kia là con tầu" Bin ngúc ngắc đầu cười chỉ tay ra ngoài ô cửa bập bẹ "tầu tầu" Thương Huyền bắt đầu vui với niềm vui vô tư của Bin. Nàng mong muốn dành trọn tình thương chăm nuôi Bin không nhờ đến vú nuôi. Nàng dần thấy bình yên trong giấc ngủ. Đêm đêm nàng không gặp những cơn mê hỗn loạn nữa. Vú nuôi vẫn nhìn nàng bằng cặp mắt u sầu thất vọng. Ba má nàng đánh mất hẳn nụ cười với nàng từ lâu. Nàng muốn phá tan sự nặng nề bao trùm lên ngôi nhà nàng. Thương Huyền dắt Bin vào phòng ông bà Đức Cường và bác Đức Thịnh cho Bin làm quen với thế giới xung quanh. Nàng dạy Bin cúi đầu khoanh tay chào ông bà "Cháu chào ông bà cháu chào bác Thịnh" Bin chạy lăng xăng cười đùa líu ríu suốt ngày. Thương Huyền nhận ra lúc đầu ông bà còn ngại bởi sự khác biệt của đứa cháu lai Mỹ nhưng dần ông bà cũng quen. Chính Bin đã khơi dậy niềm vui cho ông bà Đức Cường trong ngôi nhà buồn hiu hoang vắng này.

Bin níu tay ông Đức Cường đòi ông dẫn nó đi chơi. Nó chập chững dò từng bước ra khu vườn giáp bờ sông. Ông Đức Cường dắt nó quay trở vào nó ngúng nguẩy không chịu muốn ông cho nó được ra bên ngoài khám phá thế giới mới lạ mà nó chưa biết.

Có tiếng còi xe và tiếng chuông cổng vang rền. Vú nuôi tất tả chạy ra mở cổng. Thương Huyền giật mình nhận ra Đỗ Hiền và chàng Hall từ trong xe bước ra. Đại tá Đỗ Hiền luôn tỏ ra lịch lãm bước tới bắt tay nhà thương gia Đức Cường rồi quay sang cười với Thương Huyền- Tiếng cười đầy ma lực khiến nàng lo sợ. Chàng Hall vẫn nhìn Thương Huyền đau đáu đầy thương cảm.

- Thưa ông bà Đức Cường đại tá nói chúng tôi mang tới cho ông bà một tin quan trọng. Hiệp định Pa- ri đã được ký kết. Người bạn Mỹ của chúng ta sẽ về nước để lại giang sơn này cho chúng ta cai quản. Thời cơ đã đến nó đang đi theo đúng ước nguyện "Độc lập tự cường" của ông. Lần này ông không thể làm ngơ bỏ lỡ cơ hội gánh vác công việc lớn lao xây dựng nước nhà hùng mạnh- Đại tá Đỗ Hiền lại cười tay quay quay chùm chìa khoá giọng dịu lại- Nhân danh một người bạn tôi đến để thông báo với gia đình ta với cô Thương Huyền một tin vui nữa gia đình ngài cố vấn Ben ở bên Mỹ ngỏ lời mong muốn được đưa cháu Bin về bên đó. Tương lai rộng dài của Bin là ở bên Mỹ. Nước Việt ta còn đang mịt mù khói lửa để Bin ở lại chẳng an toàn chút nào. Cô Thương Huyền được sang Mỹ cũng sẽ là cuộc đổi đời. Tôi chân thành chúc mừng cô.

Thường Huyền bàng hoàng. Nàng nhận ra trong mắt ba má ánh lên nỗi hãi hùng.

- Không bao giờ! Ông Đức Cường nói con Thương Huyền không được đi đâu hết. Nó không thể xa được chúng tôi.

Giọng ông Đức Cường lạnh lùng nhìn đại tá Đỗ Hiền bằng ánh mắt căm thù rồi lặng lẽ bỏ đi. Không gian chìm trong yên lặng. Bà Đức Cường sụt sùi khóc. Vú nuôi lặng im không ai đoán biết vú đang nghĩ gì. Thương Huyền ôm choàng lấy Bin như sợ nó sắp phải lìa xa thế giới này. Gương mặt đại tá Đỗ Hiền vẫn ngời ngời lịch lãm với nụ cười mãn nguyện.

- Một đời người số phận may mắn chỉ đến có một lần. Bỏ lỡ nó sẽ không bao giờ còn cơ hội thưa người đẹp.

- Không. Tôi không đi! Cả Bin cũng không đi.

- Cô không đi cũng được nhưng còn Bin nó là con trai của ngài cố vấn Ben Một người con ưu tú của nước Mỹ đã hy sinh vì chính phủ Việt Nam cộng hoà cô có quyền gì giữ được nó.

Đại tá nháy mắt cho Hall thực thi nhiệm vụ.

- Ôi! Anh Hall không được đâu Bin là con tôi. Thương Huyền gào lên. Chàng phi công đẹp trai có cặp mắt biếc xanh vẫn phải dằn lòng thực thi nhiệm vụ lớn lao của mình. Chàng nhìn Thương Huyền hiểu rõ tâm trạng đau khổ của nàng lúc này.

- Bin dù có đi đến chân trời nào nó vẫn là con trai của Thương Huyền. Chàng Hall nói lời động viên Thương Huyền. Tôi hứa lời hứa danh dự...

 Thương Huyền chới với chạy theo chiếc xe của đại tá Đỗ Hiền chở Bin lao vút ra khỏi cổmg. Nàng đứng sững giữa trời nắng nóng. Ngoài sông tiếng còi tầu tu lên hồi dài nghe nao lòng. Vú nuôi bình thản đứng bên hè nhìn Thương Huyền như thể vú đã biết trước chuyện này sẽ đến.

- Để nó đi! Nuối tiếc mà chi. Nó là dòng giống của bọn đế quốc sài lang- giọng vú nuôi lạnh lùng...

                               ***

Mỹ rút quân khu chợ gốc Mít đông vui như hội. Nơi đây giờ là nơi giao dịch buôn bán công khai của dân cư vùng ven với quân giải phóng. Đã có nơi dựng nhà "hoà hợp" cho quân giải phóng và quân chính phủ ông Thiệu chơi thể thao bóng chuyền gặp gỡ giao lưu. Đội quân của đơn vị Nam với đơn vị chị Thu Cúc xuống đồng bằng được đi công khai giữa ban ngày qua các điểm đóng quân của địch.

- Mấy cha Việt Cộng đi thưa ra hề! Tàu rà nó nhìn thấy nó "lệnh" là tụi tui buộc phải nổ súng đó nghe. Lính ông Thiệu trên đồi cao chõ loa xuống quát.

 Cung đường từ chợ gốc Mít lên cứ đã xuất hiện chiếc xe ô tô chở hàng do nhà thương gia Đức Cường ủng hộ cách mạng chạy suốt ngày đêm. Bọn "tầu rà" đánh hơi có xe cơ giới chạy trên vùng giáp ranh chúng ngỡ quân giải phóng sắp đánh lớn liền cho quân nống lên chiếm lại những điểm chốt quan trọng quanh vùng ven. Quầy hàng "Bảy Hường" của nhà Thương gia Đức Cường trở thành điểm trung chuyển hàng hoá của cánh lính chính quy và quân tỉnh đội của chị Thu Cúc. Từ bữa Nam và Vương đột nhập về nhà thương gia Đức Cường gặp má chị Thu Cúc biết được tin Thương Huyền vào làm trong sở Mỹ chị Thu Cúc cư xử với Nam tử tế hơn.

- Hiệp định Pa Ri ký rồi Mỹ cút rồi chúng ta phải thực hiện tốt chính sách hoà hợp dân tộc. Chị Thu Cúc nói tình hình yên ả tôi về thăm má tôi mấy ngày nếu gặp được Thương Huyền tôi sẽ đưa cô ấy lên đây để cho cô cậu gặp mặt nhau.

Lời chị Thu Cúc làm Nam bồn chồn không yên. Chị Thu Cúc về thăm má nay đã ba ngày vẫn chưa thấy lên. Chị bảo đứa con lai Mỹ của Thương Huyền đã về Mỹ rồi không còn dây dưa gì với địch nữa. Nam gặp Vương thông báo tin quan trọng để Vương biết. Vương cười lạnh te:

- Loại con gái ăn chơi đàng điếm có con cả với Mỹ thì tin sao được. Tốt hơn cánh mình nên tránh xa.

Không sao chịu nổi lời nói bội bạc của Vương nghe tin chị Thu Cúc đã lên Nam chạy ra chợ gốc Mít. Nắng rừng rực theo từng cơn gió lào thổi thốc vào mặt rát bỏng. Ô cửa gian hàng Bảy Hường thấp thoáng tà áo màu tím Huế lất phất bay. Gương mặt người đàn bà chơi vơi đứng nép bên ô cửa. Chị Thu Cúc từ trong nhà bước ra lạnh lùng khi nhìn thấy Nam tất bật đi tới.

- Không nhận ra nhau phải không? nhìn kỹ coi.

Người phụ nữ cúi xuống ôm đứa trẻ vào lòng ngước ánh mắt nhìn Nam bối rối.

- Thương Huyền phải không? Chẳng hiểu sao Hoàng Kỳ Nam thốt lên thành lời. Thương Huyền nấc lên hờn tủi. Thương Huyền em đã thay đổi quá nhiều.

Đúng là người con gái đêm nào đây rồi. Gương mặt em kiêu sang là thế giờ hoang lạnh. Cặp mắt đen huyền long lanh trong ánh nến chập chờn năm nào giờ trông buồn ngẩn ngơ. Đứa trẻ không chịu ngồi yên nó chạy nhảy ôm cổ Thương Huyền ngúng nguẩy. Giọng nó trong veo.

- Có phải ba Hoàng Kỳ Nam đây hả mẹ?

Nam ôm đứa bé vào lòng. Cơn gió Lào nóng rát lộng lên xoá nhoà khoảng cách khác biệt giữa Nam và Thương Huyền. Nam bị ánh mắt của hai mẹ con Thương Huyền thiêu đốt. Gương mặt đứa bé ám ảnh Nam nó hao hao hình bóng Vương ngày bé. Nó đúng là con gái Vương thật rồi.

- Anh đã về tìm em nghe má chị Thu Cúc bảo em đã đi lấy chồng Mỹ.

Thương Huyền ngồi lặng ôm ghì đứa trẻ vào lòng.

- Chẳng lẽ anh không cảm nhận được gì ư? Giọng Thương Huyền nghe xa xăm mơ hồ. Từ sau đêm ấy em đã đợi chờ đã hy vọng anh trở lại. Đây là bé Ngọc Lan- Con gái anh đấy. Em đã phải bỏ mặc nó cho người ta nuôi. Em ngỡ mình đã để mất nó. Nhưng ông trời đã thương em cho em tìm lại được nó. Em lặn lội theo chị Thu Cúc lên đây cũng chỉ muốn hai cha con anh được gặp nhau. Anh đã gặp được con rồi giờ có chết em cũng không ân hận. Thương Huyền đẩy con Ngọc Lan về phía Nam- con hãy chào ba đi.

- Con chào ba Nam! Sao ba đi mãi không về để má con nhắc ba hoài- con Ngọc Lan ôm cổ Nam nũng nịu- Từ nay ba về ở hẳn với má con đừng đi nữa nghe ba. Ba đi đêm nào má con cũng khóc.

Vương từ cửa bước vào ngỡ ngàng nhìn Thương Huyền nhìn con Ngọc Lan.

- Đấy là bác Vương thủ trưởng của ba Nam nói- Con chào bác Vương đi.

- Cháu chào bác Vương. Con Ngọc Lan nhìn Vương nó khoanh tay cúi đầu lễ phép chào. Đôi mắt nó mở lớn lấm lét nhìn Vương.

Chị Thu Cúc đôn đảo phân công chị em lo bữa liên hoan mừng Thương Huyền và Nam gặp nhau. Vương hào phóng chi mười hộp thịt tráng bánh xèo. Không khí cửa hàng Bảy Hường xôn xao kẻ xay bột người thái rau vui như tết.

- Cô út ở nhà chả bao giờ được ăn món này. Chị Thu Cúc nói.

Vương thỉnh thoảng lại đứng ngây nhìn trộm mẹ con Thương Huyền.

- Con đến với bác Vương bác dẫn con ra chợ mua kẹo. Nam ghé vào tai Ngọc Lan nói.

Bé Ngọc Lan được Nam gợi ý hồn nhiên níu tay Vương. Vương dắt con Ngọc Lan ra chợ. Hoàng Kỳ Nam lặng nhìn theo bóng con Ngọc Lan và Vương quấn quýt trong trời chiều. Nắng vẫn rừng rực như đổ lửa. Những cơn gió Lào thổi hơi nóng dậy lên mùi cá chuồn khô của cánh lính phơi đầy bãi cỏ gần chợ Gốc Mít. Dưới bếp mùi thịt hộp phi hành mỡ làm nhân bánh xèo thơm lừng. Nam ngồi cạnh Thương Huyền bắt gặp ánh mắt ghen tỵ của các cô gái trong đơn vị của chị Thu Cúc.

Thương Huyền vẫn đẹp lạ kỳ nàng có sức quyến rũ chính ở cặp mắt đen u buồn. Nàng vẫn mặc cảm vì lỗi lầm của mình đã có con với Mỹ. Lát sau Vương dắt con Ngọc Lan hớt hải từ ngoài chợ về tay nó cầm gói bánh nhẩy tâng tâng. Nhìn mặt Vương đầy căng thẳng Nam đoán có chuyện gì xảy ra.

- Có lệnh rút quân khẩn cấp.Vương ghé vào tai Nam nói.

Thương Huyền nhìn Nam ngơ ngác không hiểu chuyện gì xảy ra.

- Thương Huyền à cô phải đưa cháu về ngay. Chị Thu Cúc nói Cấp trên có lệnh chuyển quân gấp.

Nam nắm bàn tay Thương Huyền run run. Cuộc gặp gỡ với hai mẹ con Thương Huyền quá ngắn ngủi. Bữa liên hoan dang dở Nam ngẩn ngơ đứng trước hai mẹ con Thương Huyền.

- Anh phải đi! Hẹn gặp lại em ngày chiến thắng.

- Ba không về với má con sao?

- Ba phải đi Ngọc Lan à ?

Nam bối rối chào tạm biệt hai mẹ con Thương Huyền. Hai mẹ con Thương Huyền nhìn hút theo bóng Nam và Vương chạy ngả nghiêng trong trời chiều nắng cháy.

Địch đã nống lên ngã ba Bồng. Có lệnh toàn bộ các quân binh chủng trong quân khu phải di chuyển gấp vị trí đóng quân bởi sự kiện quan trọng đã xảy ra: Cha Nam đại tá trung đoàn trưởng tăng thiết giáp Hoàng Kỳ Trung bị địch bắt. Cấp trên đề phòng cha Nam phản bội.

Về tới đơn vị Nam lập tức nhận lệnh điều động về trại tăng gia không được ở đơn vị trực tiếp chiến đấu.

- Tớ đã bảo cậu rồi dây dưa với đàn bà là chẳng hay ho gì. Vương nói biết đâu cô ta cũng lại là gián điệp.

More...

Trần gian người đời chương 12

By DƯƠNG HƯỚNG

 

Chương 12

Mười tay súng phải rời trận địa về tuyến sau. Trong số mười ấy có cả Bức. Thế là Bức mất hy vọng có thời cơ lên làm tướng. Đã chín năm trời làm lính lăn lộn trên chiến trường mà Bức cũng chỉ được phong tới quân hàm thượng sĩ. Ai chứ Bức mà chịu đeo lon thượng sĩ về vườn thì xoàng quá nhục nhã với dân làng Nguyệt Hạ nhục với cả Nga nhục với anh cả Lạnh. Có lẽ cũng chỉ tại cái tính hung hăng quá trớn của Bức nên hỏng cả con đường công danh sự nghiệp.... người ta bảo vào lính cứ đánh cho mạnh là lên. Điều này đối với riêng Bức chả đúng tý nào. Chuyện đánh đấm của Bức thì nhất rồi. Nhưng con đường công danh của người lính đâu chỉ là chuyện đánh đấm. Vấn đề là thời cơ có nghe lời cấp trên chấp hành kỷ luật chiến trường ... ái chà chà nhiều yếu tố đến là khắc nghiệt với lại cái tính khí nóng như lửa của Bức thì khó mà thăng tiến. Bức chúa ghét những thằng nhát gan. Bức sẵn sàng chỉ tay vào mặt những thằng hèn mà chửi "mày là thằng sợ chết. Mẹ kiếp đã là lính mà còn sợ chết".

 Lúc này vừa mới nhận lệnh mười ba thằng phải trở về tuyến sau Bức đã chửi toáng lên:

- Mẹ kiếp sao lại là con số mười ba - Bức hỷ mũi véo sườn Đô nói khẽ - Con số mười ba tồi tệ lắm đấy. Hay là hãy để tao ở lại. Tao vẫn còn đủ sức để pằng pằng dăm bảy thằng. Mẹ kiếp sức tao thế này...

Bức cố vươn vai giơ nắm đấm tống vào không khí. Đô bỗng thấy thương  Bức. Trong đơn vị không ai hiểu rõ Bức bằng Đô. Bức sẵn sàng đổi cả tính mạng để được chút vinh quang về làng để đỡ xấu cái mặt. Trong số mười ba người vừa sốt rét vừa bị thương chỉ mỗi mình Đô là khỏe mạnh nhận nhiệm vụ dẫn đoàn quân đau yếu này bằng mọi giá trong đêm nay phải rời trận địa về tới hang Dơi trước khi trời sáng. Đó là mệnh lệnh là nhiệm vụ chẳng đơn giản chút nào. Thằng sốt nhẹ khiêng thằng bị thương nặng. Trong đoàn có hai thằng không đi được lúc nào cũng phải thay nhau khiêng cáng đi trước. Còn lại dắt díu nhau lốc nhốc bám theo. Còn lại một mình Đô mang xoong nồi và quần áo của cả đoàn đi sau rốt.

Đoàn quân thương vong ốm yếu dò dẫm xuống hết dốc men theo bờ sông Thu ngược lên hậu cứ. Đêm mênh mông trời và đất nồng nặc mùi thuốc bom và đạn pháo lẫn mùi khét của thịt người và vật bị chết cháy. Xóm Cát nằm thia lia ra bờ sông vẫn còn vài ba đám cháy đỏ rực. Thỉnh thoảng lại có cơn gió thổi bùng lên thành ngọnlửa sáng lấp lóa và tiếng tre nứa nổ lốp bốp. Bom B52 cày xới mặt đất còn nóng hôi hổi cây cối đổ ngổn ngang. Những con chó con mèo sống sót rúc vào trong bụi thấy động chúng hốt hoảng chạy vụt vào đêm tối. Có tiếng xì xào gì đó ở phía trước chiếc cáng thứ nhất dừng lại chiếc cáng thứ hai dừng lại. Sáu anh đi giữa cũng dừng lại. Đô đi sau cùng tiến lên hỏi.

- Chuyện gì vậy?

- Mẹ kiếp vớ món bở.

- Lấy cho tao con dao khoét một miếng sáng mai làm bữa tươi - Vẫn tiếng Bức oang oang -  đã lâu lắm chưa được miếng thịt tươi.

Đô xòe diêm ngọn lửa lóe sáng một con trâu bị thương nằm lù lù chắn ngang lối mòn lòi ra một đoạn ruột mà bụng nó vẫn thở phật phồng. Bức vỗ đét vào mông con trâu hỳ hỳ cười... chọc mũi dao nhọn rạch một đường cong khoét lấy một mảng thịt đỏ sẫm. Con trâu rống lên một tiếng thật đau đớn giơ bốn chân giật giật  run rẩy.

- Tay chơi nào tình nguyện mang khoanh thịt trâu này.

Bức giơ khoanh thịt trâu lên cao giọng nói. Im lặng. Phút im lặng  triền miên không ai dám lên tiếng. Không ai còn đủ hơi sức để mang thêm bất cứ vật gì. Bức thừa biết điều đó.

- Thôi được không thằng nào mang thì tao mang sáng mai cánh ta sẽ được chén một bữa thịt trâu đã đời.

Từ lúc nhận lệnh về tuyến sau Đô biết Bức muốn ở lại trận địa. Y tá cặp nhiệt độ cho Bức Đô kinh sợ thấy nó sốt bốn mươi độ mà miệng vẫn leo lẻo bảo nếu có cơm muối vừng nó phải tắc lẻm dăm bát. Đói quá. Đói vàng da vàng mắt. Lính thèm bữa cơm no. Bức sợ đói hơn cả sợ bom. Đơn vị còn ít gạo phải nhường cho anh em ở lại trận địa. Đô chỉ dám nhận năm cân bắp xay với mười ba miệng ăn năm cân bắp chưa đủ một bữa. Rồi những bữa sau đó những ngày sau đó ăn bằng gì?... Đô nhìn bóng Bức ngả nghiêng trong bóng tối. Bất chợt Bức quay lại hỏi Đô.

- Trong số mười ba thằng mình mày đoán thằng nào sẽ đi trước ?

- Mày cứ hỏi chuyện gở ấy làm gì.

- Gở là thế quái nào. Làm sao mà tránh khỏi. Mình biết trước vẫn hơn. Tao mà biết đến lượt thằng nào ra đi sáng mai tao sẽ ưu tiên. Người ta bảo trước lúc chết được ăn no lên thiên đàng sẽ sung sướng - Bức khẽ thở dài ghé sát vào tai Đô nói nhỏ - Tao là tao đoán sẽ đến lượt thằng Đào đấy. Nó bị mất nhiều máu khó mà trụ được.

- Thôi đi Bức mày nói gở quá. Rõ vớ vẩn - Đô gắt lên với Bức.

- Vớ vẩn là thế nào - Bức cãi - Tao nói nghiêm chỉnh đấy. Tất nhiên chả thằng nào muốn thế. Nhưng muốn sống thì phải biết chiến thắng cái chết. Ngoài mặt trận chỉ có nhiệm vụ là oánh cho mạnh còn về tuyến sau muốn sống phải có cái ăn. Không tính trước sẽ chết đói cả lũ mày hiểu chưa. Theo tao năm cân bắp xay phải để dành ưu tiên cho những thằng sốt nặng. Chiến lược đấy. Về tới hang Dơi tao sẽ đi kiếm sắn. Ái chà chà... có sắn tao sẽ đạo diễn món bánh... cứ gọi là tuyệt ngon...

Vừa đi Đô vừa nghe Bức nói đủ mọi chuyện ăn uống. Trong thâm tâm tuy không nói ra nhưng Đô xác định những ngày sắp đến mười ba con người phải chịu đói là cái chắc. Và tất nhiên cái điều mà Bức nói cũng sẽ xảy ra như nó vẫn thường xảy ra từ hơn một tháng nay không ngày nào là không có người chết. Thời gian cứ lặng lẽ trôi đi không gian iên tiềp ùng oàng tiếng bom pháo. Con người không còn ai biết ai sẽ sống ai sẽ chết. Bom đạn lúc nào cũng rình rập nhằm vào giữa đỉnh đầu con người ta mà nổ. Vài ngày đầu còn biết sợ nghĩ đến cách tránh bom cách nghe tiếng pháo rít để chạy. Nhưng rồi mọi cách chạy cách tránh đều vô ích. Chẳng biết chỗ nào an toàn mà chạy mà tránh. Giá đừng chạy có khi sống chạy tránh lại chết. Sự sống và cái chết không có ranh giới rõ ràng. Khi nghe tiếng rú rít của bom cứ tưởng mình chắc chết hóa ra vẫn cứ sống. Và cái lúc đinh ninh mình sống hóa ra lại ngẻo tức thì. Thằng Tằng đang đứng đái "ục" một quả thế là chết. Thằng Bân đang ngồi ị "ùng" một tiếng thế là toi đời. Tiểu đội ba đang ăn cơm một quả pháo nổ giữa mâm sáu thằng chết hết. Lính cũ chết lính mới bổ sung để luôn luôn đảm bảo quân số trên trận địa. Mảnh đất này thiêng liêng quá! Cuộc chiến đấu này vĩ đại quá và nhiệm vụ của người lính thì lớn lao quá khiến mọi người không ai còn nghĩ tới bản thân mình. Thì đằng nào chả chết. Người chết sau chôn người chết trước. Có lẽ chưa ở đâu con người lại sẵn sàng chờ đón cái chết như ở trận địa. Cái chất ập đến quá nhanh từ những chiếc máy bay màu xám chao lượn nghiêng ngửa trên bầu trời thả xuống những trái bom tròn xoe đen chùi chũi. Những trái bom lúc đầu từ trên cao còn nhỏ xíu sau to phình ra rơi xuống đất bùng nổ thành những khối lửa khổng lồ. Bom rơi xuống đầu mình thì mình chết rơi xuống chỗ khác thì mình sống còn người khác sẽ chết. Nghĩa là quanh cái trận địa này chỗ nào cũng có sự sống và cả cái chết. Và tình cảm của những con người ở đây cũng thật khác xa với bất kể ở nơi nào. Có lẽ đứng trước cái chết con người bao giờ cũng trở nên nhân ái chân tình với nhau hơn. Tới giờ phút này Đô vẫn băn khoăn không hiểu sao hôm Đô và Bức cùng nằm trong căn hầm trên trận địa bỗng dưng Bức lại hỏi một câu thật bất ngờ.

- Đô này đã bao nhiêu năm nay tao định hỏi mày một câu hỏi nghiêm chỉnh- Mày còn yêu Nga không?

Đô lặng người không biết trả lời Bức thế nào. Trong căn hầm tối Đô không nhìn rõ khuôn mặt Bức lúc ấy ra sao nhưng qua giọng nói Đô biết Bức đang xúc động. Bức lần tìm bàn tay Đô... xiết chặt.

- Đô mày hãy nói thực với tao đi. Tao nói rất nghiêm chỉnh. Mày hãy thông cảm cho tao hãy tha thứ cho tao. Tao không hiểu tại sao trong lúc này tao lại muốn nói điều ấy với mày. Có lẽ chính lúc này trong tình thế này tao mới nhận thức được rằng tao là kẻ tồi tệ nhất ngu xuẩn nhất. Tao đã cướp mất tình yêu và hạnh phúc của mày. Mày biết tao đang nghĩ gì không? Tao nghĩ rằng mày vẫn còn yêu Nga. Tao thành thực rất mong mày vẫn còn yêu Nga.

- Bức tao van mày lúc này mày nhắc tới chuyện ấy làm gì. Những gì đã qua thì cho qua. Tao đã bảo mày từ lâu rằng mày không hề có lỗi gì với tao hết. Mày phải thấy mày có quyền yêu Nga mày phải thấy mày hạnh phúc vì Nga đã thực sự yêu mày. Mày nói điều này ra với tao là mày đã coi thường tao. Tao không đến nỗi ích kỷ như mày tưởng đâu. Mày thấy đấy tao đây...tao thực sự mong muốn cho mày với Nga được hạnh phúc. Đối với Nga bây giờ tao chỉ coi như người bạn gái láng giềng. Mày không thấy bây giờ tao đã có khối đứa yêu mày đừng nghĩ vớ vẩn nữa. Tao không còn có thể yêu Nga được- Đô nói và thấy mặt mình nóng ran.

Đô nhận ra mình đã nói dối. Bức nằm im một lúc rồi cười phá lên. Chưa bao giờ Đô thấy Bức cười một cách hồn nhiên như lúc này.

- Mày thật láu cá. Bức sòng phẳng- Mày không đánh lừa nổi tao đâu. Tao biết tỏng tòng tong cái bụng mày. Tao là chúa ghét cái trò giả dối. Bụng thì yêu bỏ mẹ nhưng miệng lem lẻm rằng không.

Bức ngồi bật dậy móc thuốc trong túi ra hút xúc động nắm lấy tay Đô. Giọng Bức nghẹn lại.

- Đô ơi tới giờ phút này tao mong giữa hai chúng mình phải thẳng thắn với nhau mọi chuyện. Chưa nói được chuyện này với mày tao chưa yên. Tao sợ biết đâu một trong hai đứa mình sẽ chẳng bao giờ còn được về với Nga nữa. Biết đâu tao hoặc mày hoặc cả hai chúng ta không bao giờ được trở về làng Nguyệt Hạ của chúng mình nữa. Vậy thì tốt hơn hết chúng mình hãy sòng phẳng với nhau chuyện này để nếu có chết tâm hồn chúng mình được thanh thản. Nếu tao có phải nằm lại đây mày về với Nga Đô nhá. Mày hãy về với Nga. Tao thực sự mong muốn thế. Nga vẫn còn yêu mày.

- Bức cứ nghĩ vớ vẩn thế làm gì. Mày không chết được đâu. Mày sẽ về được với Nga.

Đô nói và nhìn vào điếu thuốc đang cháy dở trên tay Bức. Căn hầm lại lặng đi. Bên ngoài tiếng máy bay tiếng pháo vẫn dậy lên từng đợt. Câu chuyện riêng của Bức và Đô trong căn hầm tối trên trận địa đến lúc này vẫn canh cánh trong lòng Đô. Đô cứ nhìn mãi bóng Bức tấp tểnh vác trên vai khoanh thịt trâu đi cạnh Đô. Chốc chốc Bức phải đứng lại khó nhọc lắm mới chuyển được khoanh thịt trâu từ vai phải sang vai trái rồi lại từ vai trái sang vai phải. Mỗi lần phải dừng lại đổi vai Bức lại làu bàu.

- Mẹ kiếp! Ở trận địa vẫn sướng hơn. Cảnh này leo được qua dãy Bảo Bàn về hang Dơi thì chắc chết.

- Được nửa đường rồi đấy cố lên tất cả chúng nó đang trông chờ món thịt trâu của cậu.

Đô động viên Bức. Trời về khuya trăng hạ tuần đang nhô lên khỏi rặng núi Bảo Bàn. Ngọn núi Đợi cao ngất vượt hẳn lên trong mênh mông trời đất. Đô không hiểu vì sao người ta lại gọi là núi Đợi. Ai mà biết được từ bao đời nay núi Đợi đứng cô đơn trông ngóng chờ đợi điều gì? Người ta dễ nhận thấy sự cô đơn của hòn núi bởi chính độ cao của nó vượt hẳn ngọn núi khác trên dãy Bảo Bàn. Núi Đợi vươn cao chót vót trên chín tầng mây như nỗi khát vọng khôn cùng của tạo hóa muốn vươn tới một cái gì đó vô cùng cao quý mà loài người chưa ai hiểu nổi. Từ chân dãy Bảo Bàn lên được núi Đợi phải đi bộ mất chừng hai tiếng để vượt qua các sườn núi nhỏ. Hang Dơi nằm trong lòng hòn núi Đợi không bom pháo nào phá nổi. Hồi đầu chiến dịch đơn vị Đô đã tập kết ở núi Đợi để đánh cứ điểm Cao Sơn chiếm lĩnh trận địa đồi trọc mà đơn vị Đô hiện giờ vẫn chốt giữ. Núi Đợi và hang Dơi do bàn tay đầy nhân hậu của tạo hóa dựng nên có sức bền vững và che chở vô cùng to lớn. Từ bao năm nay nơi đây đã hứng chịu biết bao  bom pháo của giặc Mỹ trút xuống mà vẫn không sao xóa nổi những dải nhũ đá cứ lấp lánh trong vòm hang. Chúng như những dòng nước mắt cô đơn và nỗi buồn thương mênh mông của núi Đợi. Phải chăng đó cũng là dòng nước mắt của những người mẹ người vợ đang ngày đêm trông chờ chồng con nơi chiến trận trở về... Trăng đã lên cao dòng sông Thu cũng sáng lên. Núi Đợi càng tới gần càng cao lồng lộng. Hai chiếc ca nô của địch tuần tiễu chạy vun vút trên mặt sông thỉnh thoảng lại xổ ra một lọat súng máy. Phía trận địa đồi trọc lại một trận bom nữa nổ dữ dội.

- Mẹ kiếp. Không biết lại đến lượt thằng nào phải ra đi nữa đây?

Vẫn tiếng Bức làu bàu. Đô nhìn hai chiếc cáng nhấp nhô nhấp nhô và bóng đồng đội chấp chới dưới trăng.

- Đô! Đằng ấy biết tớ đang ước điều gì - Bức dừng lại vắt khoanh thịt trâu từ vai trái sang vai phải hỏi Đô.

- Chắc là mày chỉ mơ ước ngủ một giấc đã đời.

- Sai bét. Tớ lúc này đang mơ ước có được nhánh tỏi thịt trâu mà không có tỏi thì phí của trời.

Bức vừa nói vừa thở hồng học thỉnh thoảng lại hô toáng lên "Tiến lên! Tiến lên hỡi anh em binh sĩ". Tính Bức vẫn thế. Những lúc gian nan nó lại hay pha trò. Và lúc này vừa đi nó vừa đọc thơ. Kiểu thơ con cóc.

- E hèm - Bức sửa giọng - chúng mày hãy dỏng tai nghe đây tao đang làm thơ.

Ngúc nga ngúc ngắc

Hai chiếc võng lúc lắc

Hai thằng ốm làm vua

Bốn thằng đau làm lính
              Đã đến giờ nhiếp chính
              Rước vua về Thành ĐÔ

*
              Nhấp nha nhấp nhô

Cóc cần đến ô tô

Cóc cần đến xe ngựa

Hai thằng khiêng một đứa

Mỗi đứa dìu hai thằng

Mau tiến về núi Đợi

Trước lúc mặt trời lên

Những câu thơ con cóc Bức vừa mới nghĩ ra và nó đọc một cách khó nhọc để gây cười mà không ai còn đủ hơi sức để mà cười. Cuối cùng thì mười ba con người ốm yếu thương tật cũng dắt díu tha nhau về tới hang Dơi vừa lúc trời ửng sáng. Mặt trời đỏ lừ đang nhô lên phía trời xa. Từ cửa hang nhìn xuống những cột khói đen từ các đám cháy vẫn đùn lên đùn mãi lên. Những mái tôn bị bom pháo hất tung lên sáng lấp lánh dưới ánh nắng buổi sáng. Đô nhìn những thân hình tiều tụy mệt mỏi nằm ngả ngốn lên những tảng đá trước cửa hang như những xác chết. Không gian lặng đi không một tiếng nói tiếng cười. Người duy nhất còn đi lại được là Bức. Nó chạy loăng quăng chuẩn bị nấu món thịt trâu.

- Mẹ kiếp vẫn không kiếm đâu ra nhánh tỏi - Bức nói - Đào ơi hôm nay tao sẽ chiêu đãi mày món thịt trâu. Cố mà ăn Đào nhé. Ăn cho nó khỏe. Mẹ kiếp chẳng thuốc nào mạnh bằng ăn. Ở đây chúng tao chẳng có gì bồi dưỡng cho mày chỉ có mỗi món thịt trâu là nhất hạng. Mày phải ăn để cố giữ sức ra tới ngòai ấy. Ái chà chà... ra được tới ngòai ấy thì chả còn lo gì. Ai chứ em Vin của mày nó vỗ cho một tháng là béo ú. Thôi chúng mày ngủ đi khi nào nấu xong tao gọi.

Đô ngả lưng lên tảng đá nghe Bức rì rầm một mình bên bếp lửa. Ánh lửa bập bùng hắt lên vách đá có cả trăm ngàn những đốm sáng lân tinh lấp lánh bám trên những mảng nham thạch. Dơi từ trong các ngách ngửi mùi khói túa ra bay loạn lên. Bức nấu xong món thịt trâu múc ra một bát mang tới chỗ thằng Đào nằm. Từ lúc về tới hang Dơi thằng Đào vẫn nằm im lặng lẽ trên cáng đặt lên hai tảng đá sát vách hang.

- Đào ơi! Chén đi ngon tuyệt. Chỉ thiếu mỗi tỏi khi nào về với bé Vin của đằng ấy phải nhớ tới thằng Bức này.

Một tay Bức bưng bát thịt trâu đầy ú còn bốc hơi nóng một tay vén  tấm chăn trùm người Đào. Bất chợt Bức kêu rú lên bát thịt trâu tuột khỏi tay Bức đổ văng ra đất. Đô bật dậy. Thằng Đào không biết nó chết từ bao giờ mắt trợn ngược lên... Bức khóc tu tu.

 

*

More...

Bến không chồng: Chương 14

By DƯƠNG HƯỚNG

 

14.

Dâu hớn hở rủ Hạnh đi đám cưới cái Thắm. Dâu mặc chiếc áo pin trắng nõn trông rõ cả cocsê bên trong.

- Mày chẳng còn coi luật phòng không ra gì.

- Cả cô nữa lột cái áo cán bộ ra cho tôi nhờ. Dâu tóm lấy tay Hạnh lôi vào buồng đè ngửa ra giường Dâu vừa cười vừa dứt phăng hàng cúc áo Hạnh.

- Đi đám cưới cũng phải ăn mặc cho nó mầu mè một tý cô cứ làm như thể đi họp Đảng. Với lại máy bay nó ở trên trời chứ nó có ngó vào phòng cưới đâu mà sợ.

Dâu lột chiếc áo gụ trên người Hạnh vo tròn lại chạy ra nhúng vào chậu nước.

- Ôi tao không ngờ ngực mày lầy lẫy ra thế kia mà Nghĩa nó không về sửa cho mày một trận. Rõ là hoài của giời.

- Khiếp! Mày ăn nói rõ táo tợn.

- Tao nói thật đấy. Tao với anh Hiệp mày chưa cưới đã đành. Mày với Nghĩa cưới rồi mà như không. Con gái có thì lúc phây phây ra lại cứ phải nhịn để giành chả mấy tuổi nữa nó teo đi thì còn da với xương. Vài ba năm nữa anh cô không về là tao cũng tếch.

Dâu lại nhào vào ôm riết lấy Hạnh giọng Dâu bỗng nghẹn lại như khóc:

- Hạnh ơi! Tao trời sinh ra xấu một nhẽ còn mày...mày đẹp thế này đẹp như cô Ngần trong truyện huyền thoại cụ Khiên kể ngày xưa. Tao tiếc cho Nghĩa nó không về.

Dâu nhìn ngắm tấm tắc khen Hạnh mặc chiếc áo may từ hồi cưới. Đã lâu lắm nay Hạnh mới lại mặc chiếc áo này. Hạnh soi gương và thấy rõ mình đẹp thật. Hai đứa mải mê ngắm vuốt khi nghe tiếng pháo nổ mới hớt hải chạy sang. Xưa nay làng Đông chưa có đám cưới nào sang như đám cưới cái Thắm. Trai phố huyện có khác. Thằng Huy con trai ông Quỳ thợ ảnh mới chỉ thọt chân thời buổi này có cụt cả hai chân cũng lấy được vợ cỡ như cái Thắm. Cái Thắm hôm nay mặc lộng lẫy với bộ quần áo chú rể sắm. Cả làng Đông này chưa có đứa con gái nào đi lấy chồng lại được may sắm đầy đủ như cái Thắm. Ở tuổi mười tám Thắm vào diện đẹp nhất làng Đông. Vẻ đẹp của nó cứ tươi như hoa dịu dàng và đằm thắm. Ánh mắt sáng trong. Phải nói tay Huy thọt rõ khéo chọn vợ. Nhiều người làng Đông khen Thắm mát số lấy được trai phố Huyện thọt chân không phải đi bộ đội. Người lại bảo bố mẹ cái Thắm ham giầu nên mới phải gả cái Thắm cho thằng thọt.

Nhưng cứ nhìn vào cái mặt tươi rói mãn nguyện của cái Thắm Hạnh hiểu nó yêu chân tình. Đã một lần Thắm nói với Hạnh " Không lẽ anh ấy thọt không đi được bộ đội là xấu anh ấy cũng có quyền được sống hạnh phúc".

- Mày thấy cái Thắm có yêu chồng không? Dâu rỉ tai Hạnh - Tao thấy tay thọt này nó đĩ thoã mà hèn hèn.

- Mày ác cảm thế thôi - Hạnh nói - Cũng chỉ tại cái chân thọt của nó nên mọi người mới nhìn nó tầm thường đi trông bản mặt nó cũng đẹp trai đấy chứ. Mày nhìn nó ngồi thế kia chả ra dáng nam nhi mặt vuông chữ điền mắt sáng lông mày dầy và cả bộ râu quai nón nữa. Cái Thắm nó yêu là phải.

- Tao thì cho là cái Thắm lại yêu mỗi cái chân thọt của nó.

Đám cưới tan Thắm nhào tới chỗ Dâu và Hạnh:

- Em mời hai chị vào đây chụp ảnh với vợ chồng em làm kỷ niệm - Hạnh nhìn vào đôi môi đỏ mọng với nụ cười tươi rói trên gương mặt ngời ngời hạnh phúc của cái Thắm.

- Chị chúc em hạnh phúc.

- Ôi chúc tụng mà làm gì - Thắm nói - Em muốn hai chị chụp cùng vợ chồng em tấm ảnh. Nay mai anh Nghĩa và anh Hiệp ở chiến trường về em còn có tấm ảnh để mà khoe.

Thắm kéo tay Hạnh và Dâu vào phòng ảnh.

- Thắm nháy mắt với chồng. Anh chàng thọt vội vã tập tễnh đến đứng cạnh vợ. Thắm một tay ôm ngang người chồng một tay níu cánh tay Hạnh. Tay thợ ảnh phục vụ đám cưới dưới phố huyện nhún nhẩy đeo chiếc máy ảnh lủng lẳng trước ngực miệng cười toe toét. Anh ta hết sờ vào má Dâu lại nâng cằm Hạnh uốn nắn lại thế đứng cho Dâu và Hạnh.

- Thế thế! Cười tươi lên nào. Ôi cái sứ sở này sao mà lắm người đẹp thế.

Anh chàng thợ ảnh nheo mắt ngắm Hạnh vẻ tán tỉnh.

- Đến phải nhờ cô Thắm làng Đông này làm mối cho một đám. Cô em đây tên gì?

- Đừng có tếu - Thắm cười rũ - Chị ấy có chồng đi B đấy.

- Ôi! Thế thì khổ thân cô em trông mơn mởn thếầnỳ mà tối đến lại phòng không một bóng sao.

Anh ta tỉnh bơ nắm lấy cổ tay Hạnh đặt lên vai Dâu giọng thủ thỉ vào tai Hạnh:

- Tối nay anh đến chúng mình sẽ có một đêm thật là tuyệt.

Anh ta chưa nói hết câu bất chợt Dâu đã giơ tay tát "bốp" vào má anh chàng thợ ảnh rồi chộp lấy tay Hạnh hai đứa kéo nhau chạy để lại vợ chồng cái Thắm và anh chàng thợ ảnh đứng ngây ra giữa phòng chụp ảnh.

Hạnh và Dâu lại dắt díu nhau về buồng. Hạnh nằm vật ra giường bàng hoàng về sự việc vừa bất ngờ xảy ra.

- Tao mà không thương con Thắm thì tao còn cho thằng cha thợ ảnh ấy một trận- Dâu hằn học.

- Đừng có nóng nảy - Hạnh can  - Dù sao hôm nay cũng là ngày vui của vợ chồng nó với lại cũng tại thằng thợ ảnh chứ vợ chồng cái Thắm có tội tình gì.

- Nghe giọng nó tán tỉnh mà lộn ruột người tao cứ run lên không kìm nổi.

- Thợ ảnh thì đứa nào chả thế chấp làm gì.

- Tao thương con Thắm lao đầu vào cái đám ấy rồi sẽ khổ.

- Thôi đi chị ơi! Cánh mình thì sung sướng nỗi gì cũng phải thông cảm cho cái Thắm thanh niên trai trẻ bây giờ còn ai ?

- Cái cô này hôm nay lại bi quan rồi - Dâu cười rinh rích láu lỉnh thọc tay vào trong áo Hạnh xoắn hai đầu vú làm Hạnh hét toáng lên mặt nóng ran - mày làm trò gì đấy?

- Hí hí...tao giải trí cho mày. Có thấy thích không? Lúc nào muốn cứ ới tao một câu còn hơn để cái phường ấy nó tán tỉnh nghe mà ngứa...

Dâu về một lúc thì mẹ chồng Hạnh ở bên đám cưới về. Hạnh dọn cơm hai mẹ con ngồi ăn.

- Mày chả ở bên đó nghe người ta nói ầm lên.

- Chuyện gì thế mẹ?

- Họ bảo mày với con Dâu ghen với cái Thắm.

- Cũng tại tay thợ ảnh thôi mẹ.

Đã mấy năm nay không có thư Nghĩa trông mẹ héo hắt đi. Hạnh thì như con thoi chạy đi chạy lại giữa hai người mẹ cô độc. Hạnh là niềm an ủi duy nhất của hai bà mẹ. Mẹ đẻ Hạnh thì vững vàng dày dặn hơn còn chồng lại yếu đuối luôn sống trong lo sợ. Bà nghe ngóng tin Nghĩa từng ngày từng giờ. Chỉ thoáng nghe có ai biết tin gì ở chiến trường là mẹ đến tận nơi hỏi cho ra nhẽ. Mẹ cứ nghĩ chiến trường miền Nam cũng nhỏ bé như cái làng Đông của mẹ.

- Hạnh này mẹ nghe nói ở bên đám cưới có một anh trên phố huyện cũng vừa mới ở chiến trường về. Con chịu khó lên hỏi thăm may ra cũng biết thằng Nghĩa.

- Để rồi con sẽ đi - Hạnh nói để yên lòng mẹ chồng. Bước sang năm nay Hạnh thấy mẹ thay đổi hẳn tính nết. Mẹ mới may một chiếc áo dài để đi lễ chùa cùng với mấy bà trong làng. Đêm đến Hạnh giật mình thon thót nghe mẹ nói mê sảng. Đêm mẹ mơ thấy gì sáng ra mẹ lại kể với Hạnh. Không chuyện chó điên đuổi thì chuyện trâu lồng chuyện các quan âm binh điều quân khiển tướng hay chuyện động mồ động mả. Có lần vừa mới ngủ dậy mẹ đã vội khoe "Đêm hôm qua tao nghe rõ tiếng bố thằng Nghĩa về báo mộng thằng Nghĩa bị cụt mất một tay. Đúng ngày mười bảy tới nó về. Nếu đúng vậy nó có cụt tay cũng còn may" Hôm ấy là ngày mùng 9 mẹ tính đốt ngón tay còn một tuần nữa Nghĩa nhất định về. Trong một tuần mẹ sống trong tâm trạng phấp phỏng chờ đời tới ngày mười bảy. Hạnh không hiểu sao mẹ lại tin vào giấc mơ của mình đến vậy. Niềm tin ấy lây lan sang Hạnh Hạnh cũng thấy thấp thỏm mong tới cái ngày mười bảy. Rồi ngày mười bảy ấy cũng qua đi Nghĩa vẫn không về mẹ ốm nằm liệt giường chẳng chịu ăn uống gì. Cũng may đúng vào dịp mẹ Nghĩa ốm nặng thì anh Thành người làng Đông ở chiến trường về. Anh Thành bị bom cháy toàn thân mặt sần sùi phồng rộp lên đỏ lừ. Khi anh Thành khoác ba lô về đến cả bố mẹ anh ấy cũng không nhận ra con mình.   

Hạnh gặp riêng anh Thành nhờ anh phịa ra chuyện anh đã gặp Nghĩa ở chiến trường để mẹ yên lòng. Anh Thành đành tếu táo như diễn kịch mà mẹ cũng tin.

- Bác ơi! Anh Nghĩa hồi này lên tá rồi đấy. Hôm ấy cháu tình cờ gặp anh ấy đang dẫn đầu đoàn quân xe pháo rầm rầm. Hai anh em cháu ôm chầm lấy nhau....

 Hạnh nhìn thấy mắt mẹ sáng lên:

- Nó còn nguyên vẹn chứ? Mẹ hỏi .

- Khoẻ to cao chỉ huy giỏi nhất quân khu đấy bác ạ.

Câu chuyện do chính Hạnh và anh Thành phịa ra lan khắp làng Đông. Hạnh đi đến đâu cũng có người vồn vã chúc mừng.

- Sướng nhá! Chồng mày nó đã lên thiếu tá rồi hả ? Chà to nhất làng đấy.

Hạnh không ngờ câu chuyện bịa của anh Thành lại làm cả làng tin và mẹ Nghĩa lại khoẻ ra. Mấy bà hàng xóm còn hớn hở đến mừng mẹ con Hạnh. Thấy mẹ quá vui mừng còn nấu nước chè rõ đặc mời mọi người Hạnh lại phân vân nhận ra mình mắc tội nói dối mẹ chồng.

- Tối nay con có phải đi họp hành gì không? Mẹ hỏi. Không hả! Vậy ở nhà mẹ xang ông Xung và chú thím Xeng.

Mẹ đi rồi Hạnh thu dọn nhà cửa rồi vào buồng vặn to ngọn đèn dầu. Nụ cười và ánh mắt dịu dàng của Nghĩa lướt trên mái tóc Hạnh. Hạnh ngước nhìn trên tấm ảnh và mỉm cười "Chào! Em chào ngài thiếu tá! Có khoẻ không đấy? Dù anh có là thằng lính quèn em cũng cứ phong đại cho anh là thiếu tá. Anh là thiếu tá của riêng em. Bao giờ thiếu tá về em sẽ chiêu đãi bữa canh hến nấu mồng tơi do chính tay em mò dưới sông Đình. Ở chiến trường các anh làm gì có canh hến"

Hạnh cười thầm về những mong ứơc của mình. Hạnh hạ tấm ảnh chồng xuống lau sạch bụi bám trên kính. Từ ngày Nghĩa đi Hạnh cố giữ mọi thứ của Nghĩa nguyên vẹn. Từ cây đàn tranh cây sáo cho tới những chồng sách của Nghĩa. Mỗi lần ôm chiếc gối vào lòng Hạnh lại thấy thương Nghĩa. Mối tình của Hạnh với Nghĩa long đong quá đến nỗi khi cưới nhau cũng chả có phòng riêng mà ngủ nghĩ chi đến chuyện sắm gối.

Mãi đến khi Nghĩa đi Hạnh mới âm thầm tự làm lấy chiếc gối đôi thêu bông hoa hồng đỏ thắm và đôi chim con bay con đậu. Hạnh tự nhận mình là con chim đậu chờ đợi con chim bay đi trở về. Chiếc gối đôi hạnh phúc đã thấm bao mồ hôi nước mắt của Hạnh Hạnh đã giặt không biết bao mhiêu lần sờn cũ đi mà anh vẫn chưa về. Chiếc gối khâu bằng vải pô-pơ-lin trắng dài tới tám mươi phân mỗi lần đem ra sông Đình giặt Hạnh phải giấu không muốn để ai nhìn thấy sợ người ta quở khi phơi Hạnh cũng mang ra tận ngoài vườn chuối để phơi cho đỡ chướng.

Hạnh còn đang ôm gối mơ tưởng đến Nghĩa thì nghe tiếng cái Cúc gọi ngoài ngõ. Hạnh chưa kịp dậy Cúc đã nhào vào ôm choàng lấy Hạnh khóc nức nở.

- Ôi em khổ lắm chị Hạnh ơi! Em khổ...

- Chuyện gì nói xem nào?

-Em...em vừa đem trầu cau trả người ta.

- Có mà điên! Hạnh túm lấy hai vai cô gái lay gọi. Cô nói thật hay đùa đấy?

- Em nói thật! Em đã trả người ta số tiền gấp mười lần tiền trầu cau kèm theo lá thư gửi cho anh ấy.

- Đây không phải chuyện tiền. Danh dự mới lớn hơn nhiều cô hiểu chưa. Cô này điên thật rồi.

- Em biết thế nhưng không thể...em không thể yêu anh ấy.

- Cô này lạ nhỉ mới được có ba ngày cô không yêu sao nhận trầu cau của người ta? Với người khác thì đi một nhẽ. Đằng này với anh Thành cô làm thế thì bằng giết người ta.

- Ôi chính vì thế em mới phải khổ thế này. Em cũng không hiểu tại sao mình lại thế. Ngày anh ấy về mang vết thương trên mặt em bàng hoàng nhiều lúc gặp anh ấy em cứ ngớ ra cố hình dung gương mặt lành lặn của anh ấy ngày xưa nhưng khi nhìn mặt anh em lại thấy anh hoàn toàn xa lạ xa lạ tới mức đáng sợ. Gương mặt anh ấy ám ảnh em cả trong giấc mơ.

- Thôi! Cô im đi. Cô là kẻ ác độc.

- Vâng chị nói đúng ! - Cô gái dúi đầu vào lòng Hạnh khóc nấc lên - Em đúng là kẻ ác độc. Em có tội với anh ấy có tội với mọi người. Em biết tất cả mọi người ai cũng quý trọng và thương anh ấy. Còn em...em còn thương và quý mến anh ấy hơn tất cả mọi người chính vì thế ai cũng khuyên em nên yêu anh ấy. Lúc đầu em cứ ngỡ mọi người đùa ai ngờ anh ấy ngỏ lời thật. Mọi người thì xúm vào cả chị nữa cũng khuyên em. Rồi chi đoàn hội phụ nữ khuyên em. Tất cả mọi việc nó ập đến nhanh quá làm em không hiểu rõ mình có yêu anh ấy thật không. Chính vì thương anh ấy nên em không nỡ từ chối. Ôi giá mà em cứng cỏi nói thẳng với anh ấy là "Tôi không yêu anh. Tôi không thể yêu anh". Cũng chỉ tại em yếu đuối nên bây giờ mới khổ thế này. Chị không hiểu em đâu. Mới tối hôm qua anh ấy còn dẫn em ra bờ sông. Trong đêm tối em nghe anh ấy nói em tưởng tượng rõ ra khuôn mặt của anh ấy ngày xưa và giọng nói anh vẫn ấm và dễ thương. Đến sáng nay anh ấy lại sang nhà em. Em nhìn vào gương mặt anh ấy và bỗng thấy mọi sự đều tan biến đổ vỡ hết. Em nhận ra mình không yêu anh ấy em không thể yêu anh ấy. Ôi giá mà đôi mắt em mù loà đi không nhìn thấy mà chỉ nghe anh ấy nói...

Cúc lại gục đầu vào vai Hạnh khóc. Đêm dội vào lòng Hạnh một nỗi buồn thăm thẳm. Tiếng guốc của mẹ Nghĩa lộc cộc khua vang trên sân gạch.

*

Bầu trời xám đục mầu chì những đụn mây cuồn cuộn sà xuống thấp dần. Mặt đất oi nồng thỉnh thoảng lại tung lên lớp bụi bay ràn rạt trên các nóc nhà ngọn cây. Những người dân đang làm động bỗng nhớn nhác ngửa mặt nhìn trời lo lắng cho cánh đồng lúa đang độ làm đòng. Gió bỗng mạnh hơn cuốn theo những nhành cỏ khô và những chiếc lá bạch đàn trên bờ mương bay phấp phới như những cánh chim chao đảo. Đã có những hạt mưa rơi vào lưng áo Hạnh. Mọi người ơi ới gọi nhau chạy về làng.

- Bão rồi! Bão to rồi.

Hạnh hối hả chạy về tới ngõ nhà mình đã thấy chú Vạn bò rạp trên mái nhà đang chằng buộc.

- Mày về ngay đằng nhà đi! Gió máy thế này mình mẹ chồng mày ở nhà thì xoay xở làm sao hả?

Mẹ Hạnh vừa nói vừa loay hoay với cuộn dây thừng tung lên cho chú Vạn. Hạnh vác cuốc chạy gió reo réo bên tai. Đường làng bụi cuốn bay mù mịt. Mấy đứa trẻ trong xóm lại khoái chí nhảy tâng tâng nhặt quả nhãn rụng. Hạnh về tới nhà thấy mẹ chồng đang loay hoay buộc cửa bếp.

- Mẹ buộc thế nấu cơm sao được hả mẹ?

- Trời đất này bão to đấy. Tao chuyển hết nồi niêu bát đĩa lên nhà trên. Mày chuẩn bị đi nấu cơm sớm bão vào đúng con nước lớn đề phòng nước dâng con ạ.

Mẹ Nghĩa lấy rơm nhét kín vào các lỗ ánh sáng trong hậu cung từ đường. Hai mẹ con đang ăn cơm thì bão ập đến. Căn nhà bỗng chống chếnh rung lên từng cơn. Bên ngoài gió rít ù ù như người xay lúa. Cành cây ngoài vườn gẫy răng rắc. Trời sập tối ngọn đèn dầu mẹ để trong góc nhà bị gí lùa chợt loé lên rồi phụt tắt. Mẹ loay hoay bật diêm thắp đèn mấy lần đều bị những cơn gió ùa vào dập tắt. Cuối cùng hai mẹ con đành chịu cảnh tối mò. Hạnh rờ rẫm vào buồng nước mưa tạt vào khe cửa hắt cả lên mặt. Hạnh lần tìm áo mưa chắn ngang ô cửa sổ cho kín gió rồi lên giường nằm. Tiếng động biển từ ngoài đê vọng vào ì ầm lẫn tiếng gió rít tiếng cây đổ. Cuộc sống con người thật mỏng manh trước cơn nổi giận của trời đất. Những lúc thế này mà có người đàn ông ở nhà cũng đỡ. Hạnh bỗng thấy lo cho mẹ bên nhà. Không hiểu chú Vạn có dám ở lại với mẹ không? Lâu nay Hạnh vẫn để ý xem chú Vạn và mẹ có ý gì với nhau không? Nhưng cái tính dở hơi của chú Vạn và cái kiểu rụt rè phong kiến của mẹ lúc nào cũng chị chị chú chú chẳng ai chịu cho nhau biết nỗi lòng riêng của mình. Dư luận lúc đầu ai cũng bảo cái đôi già ấy trước sau rồi họ cũng ở với nhau. Một năm hai năm cho tới nay đã hơn mười năm cũng chỉ vẫn có thế - Vẫn gần gần xa xa như hai cái bóng lượn lờ bên nhau mà mãi vẫn chỉ có thế...

Ngoài trời bão mỗi ngày một mạnh hơn. Có tiếng kẻng khua vang dồn dập Hạnh vừa nhỏm dậy đã nghe tiếng chú Vạn hét toáng lên ngoài ngõ. Hạnh giật vội chiếc áo mưa trên cửa sổ vào giường mẹ.

- Mẹ ở nhà con phải đi đây.

- Mặc thêm áo vào lạnh đấy con ạ.

Hạnh đẩy cửa bước ra một luồng gió ào vào trong nhà. Bầu trời mù mịt gió cheo chéo quất vào mặt Hạnh rát bỏng. Bóng chú Vạn liêu xiêu trên lối ngõ. Tiếng chú lạc đi trong gió gầm rú.

- Tất cả ra sân kho tập chung ngay trừ bà già và trẻ con. Tất cả tất cả...

Chú tập tễnh nhảy lên thềm nhà Thiềng đập cửa chú chui qua giậu sang nhà Phu gọi giật. Hạnh đi ngang qua ngõ hiệu ảnh đã thấy cái Thắm đang nhùng nhằng với chồng ngoài cửa. Nhìn thấy Hạnh cái Thắm reo lên:

- Ồ chị Hạnh hả? - Thắm tuột khỏi tay chồng nhào ra kéo tay Hạnh - Chồng em cứ gàn không muốn cho em đi. Anh ấy bảo để anh ấy nộp tiền. Em buồn cười bảo aii cũng nộp tiền như anh thì đê vỡ ai cứu? Với lúc này thúng tiền cũng không bằng thúng đất phải không chị?

- Cô nói đúng đấy Hạnh nói. Chuyện cứu đê cứu cháy với đánh giặc nó giống nhau.

Hạnh và Thắm ra tới đường làng cái Thắm níu chặt lấy tay Hạnh gió thổi thốc vào lưng đẩy hai người xuôi về sân kho. Đường làng ngổn ngang cây đổ lá rụng bay vù vù.

Trong nhà kho đuốc đốt loang loáng người lố nhố đông nghịt. Tiếng Dâu hét lên the thé.

- Đề nghị biểu dương tinh thần cao cả anh Ngốc và chị Lùn hôm nay cũng đi hộ đê - Ông Đột cười hô hố lia ngọn đuốc sát mặt anh Ngốc.

- Thúc kẻng to lên! Chú Xeng quát. Còn vắng mặt tay Tào tay Bông...Mẹ kiếp mát trời thế này mà bày trò cưỡi ngựa thì nước nó ngập vào đến đít cũng không biết.

- Đề nghị trưởng ban bão lụt quyết cho con lợn bồi dưỡng. Chú Nhĩ nói. Đê mà vỡ thì chó cũng chẳng sống được.

- Tất cả xuất quân! Chú Vạn hét lên. Làng Đông mà đến muộn thì xấu mặt.

Người cuốc người mai giành sọt khua loảng xoảng lốc nhốc díu nhau ra bờ sông tiến về cống Linh. Cánh đồng làng Đông chìm trong biển gió đen ngòm. Nước sông cuộn sôi lên sùng sục. Xa xa. đây đó vang vang tiếng kẻng tiến trống tiếng súng bắn báo động.

- Anh Thành ơi! - Tiếng Dâu lại hét lên trong gió. Anh có thấy gái làng Đông ta anh hùng không? Ngoài chiến trường làm đếch gì có lắm đàn bà như ở đây anh Thành nhỉ?

- Con gái miền Nam còn anh hùng hơn các cô.

- Những ngày anh ở trong ấy có tình tang được cô nào không? Dâu cười khung tếu táo với anh Thành.

- Tao đứng đắn! Với lại chúi mũi vào đánh nhau còn đâu thời gian mà tình tang. Nhiều lần con gái con trai nằm nháo nhào cả với nhau ngủ cũng chẳng thằng nào làm nên trò trống gì. Còn mày? Anh Thành níu lấy tay Dâu - Cái hồi thằng Hiệp nó đi mày có cho nó sờ mó kiếm chác tý gì không? - Dâu đấm thùm thụp vào lưng anh Thành rồi chạy tới bên cái Cúc.

- Cúc ơi! Tao bảo thật mày mà chê ành Thành là mày bỏ phí cả một đời đấy em gái ạ. Người như anh ấy đánh gục cả mười tay như tay Huy chồng cái Thắm.

Một luồng gió xoáy mạnh làm cả bốn chị em ngã dúi dụi. Những ngọn gió cù vào da thịt muốn lột trần hết quần áo trên thân thể mọi người. Câu nói vô tình của Dâu làm cả cái Cúc và cái Thắm đều lặng đi. Hạnh bấm vào tay Dâu. Biết mình nói quá lời. Dâu lảng sang chuyện khác.

Đoàn người vẫn dò dẫm từng bước trên bờ sông. Tới khúc quanh. Hạnh nhận ra vạt cỏ bằng nơi chia tay lần cuối với Nghĩa. Mọi kỷ niệm lại ào đến như cơn bão đang sôi réo lên như dòng sông kia. Tới cống Linh đoàn người níu áo nhau bò lên mặt đê. Sóng gầm gào nước biển trào lên bắn tung toé vào mặt mọi người. Ánh đèn pin loang loáng trên mặt đê. Những  bóng người liêu xiêu dắt díu nhau trượt ngã oành oạch. Hạnh theo đoàn người làng Đông vào điếm canh để lấy lại sức. Trước sức mạnh của gió của nước con người chỉ là những cát bụi. Những đợt sóng dữ dội xô vào cửa cống Linh rung chuyển cả mặt đê. Gian điếm nhung nhúc những người. Hạnh nhận ra có cả số anh em bộ đội đơn vị pháo phòng không ba bảy bảo vệ cống Linh cũng ra chống bão.

- Bà con chú ý. Vẫn tiếng chú Vạn trịnh trọng tuyên bố.  Ban bão lụt vừa cho biết mức nước biển còn dâng cao. Từ giờ tới sáng đơn vị ta cùng với anh em bộ đội chuyển hết số đá dự trữ trên mặt đê ra hai bên thành cống để chắn sóng.

Lời chú Vạn lạc đi trong tiếng sóng. Số thanh niên khoẻ mạnh dồn ra phía cửa cống. Phía trong đê mọi người xếp thành từng dây chuyển đá ném xuống hai vạ cống. Những hòn đá vừa ném xuống lập tức bị sóng chồm lên nuốt chửng. Nước cứ dềnh lên rồi lại tụt hẫng xuống rồi lại dềnh lên từng đợt từng đợt ào ào sủi bọt tạo thành cột nước dựng đứng bên thành cống. Cứ thế con người đánh vật với đá với sóng. Sức người ngày càng cạn kiệt. Hạnh thấy chân tay tê rát....

Gần sáng số đá dự trữ trên đê đã được chuyển hết ra hai thành cống. Mọi người kéo nhau vào điếm nghỉ. Tất cả đàn ông đàn bà con trai con gái ngồi xếp vào nhau chân tay người nào cũng run bần bật. Trong ánh đèn pin loang loáng Hạnh nhìn thấy Dâu với cái Cúc ngồi tận trong góc điếm.

- Hai ba ngủ đi. Tiếng ông Đột pha trò. Cấm được bấm đèn và...cấm sờ mó.

- Phải gió cái nhà ông Đột. Không nể mấy chú bộ đội.

Mọi người cũng chẳng còn hơi sức mà tếu mãi. Ngoài  trời bão vẫn giật từng cơn. Hạnh ngồi bên cái Thắm hai chân co lên tận mang tai. Chừng vài phút gian điếm lặng đi. Mọi người ngồi tựa vào nhau ngủ.

- Em có mệt không? - Hạnh nghe rõ tiếng anh chàng lính pháo đang thì thầm với cái Thắm. Cái Thắm cựa mình ghé sát vào tai anh ta nói khẽ câu gì đó.

Hạnh mỉm cười trong đêm tối.

Gian điếm chìm trong tiếng sóng Hạnh thiếp đi giữa tiếng thì thào của cái Thắm và anh chàng pháo thủ. Khi Hạnh tỉnh dậy thì trời đã mờ sáng. Cảnh mọi người ngủ ngồi nghiên ngả làm Hạnh buồn cười. Hạnh sửng sốt nhìn cảnh anh chàng pháo thủ nằm gọn trong lòng cái Thắm ngủ. Cặp vú nở nang của Thắm áp lên gương mặt trẻ trung của chàng trai Hạnh bấm cái Thắm dậy mặt nó đỏ lên ngượng ngùng nhìn Hạnh.

Trời sáng hẳn gió rít vù vù mực nước biển đã xuống. Bầu trời ong ong biển trắng xoá những con sóng từ tít tắp ngoài xa liên tiếp xô vào chân đê. Trong đê nước mưa ngập trắng băng khu đồng trũng. Làng Đông lờ mờ trong mưa. Cây quéo đình làng như chiếc ô khổng lồ vẫn sừng sững đứng trong mưa bão.

15

         

More...

Dưới chín tầng trời; Chương 12

By DƯƠNG HƯỚNG

 

CHƯƠNG 12

Bãi biển Thần Tiên

Sự kiện bài báo trên trang nhất tờ Tin Sáng với dòng tít "Cuộc gặp gỡ bất ngờ trong nhà ngục"của nữ ký giả Thương Huyền được dư luận chú ý. Ngài cố vẫn Mỹ và đại tá Đỗ Hiền mở tiệc chiêu đãi khuếch trương thanh thế Thương Huyền với cộng sự. Nhà hàng Mây Tím đêm nay sôi động khác thường. Trong men say Thương Huyền vẫn nhận ra gương mặt ngài cố vấn trắng hồng nhập nhoà nụ cười phóng túng.

- Tất cả chúng ta những chiến binh trung thành với chính phủ Việt Nam cộng hoà một lần nữa nâng cốc chúc mừng nữ ký giả Thương Huyền. Đại tá Đỗ Hiền mãn nguyện nói cô Thương Huyền đã bất ngờ thành công trên con đường văn bút của mình khiến chúng ta vô cùng khâm phục. Đã lâu lắm bạn đọc cả nước mới được thưởng thức một bài báo xuất sắc mang tầm thời đại. Một tài năng hùng biện với ý tứ ngôn từ sắc lẹm.

Trước mặt ngài cố vấn và đại tá Đỗ Hiền Thương Huyền rừng rực như bông hoa trên bàn tiệc. Lâu nay nàng giấu thân phận "gái một con" của mình nghe lời vú nuôi dấn thân vào tận hang ổ kẻ thù. Trung Tâm phi trường là nơi tập trung bộ máy quân sự hiện đại bậc nhất nhì thế giới của Mỹ. Thương Huyền lúc này giống như chiếc lá lênh đênh giữa biển khơi mênh mông. Nàng nhận ra mình chưa làm được điều gì đáng kể ngoài mấy cái tin Hoàng Kỳ Trung bị bắt. Cuộc gặp mặt bất ngờ giữa Hoàng Kỳ Trung và Đỗ Hiền được Thương Huyền thi vị hoá thành bài báo gây tiếng vang cả ở hai phía Việt Nam Cộng Hoà và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng. Thương Huyền nhận ra xung quanh nàng lúc này có bao ánh mắt hau háu đang nhìn nàng. Họ ngưỡng mộ tài năng và thèm khát thân thể nở nang quyến rũ của nàng. Thương Huyền vừa tự hào vừa lo sợ. Nàng luôn gặp  ánh mắt kiêu ngạo của ngài Ben thèm khát nàng. Nàng chông chênh đứng trước một thực tế sống động quay cuồng bủa vây quanh mình. Và lúc này con tim đa cảm của nàng lại rạo rực giống cái đêm bom đạn mịt mù nàng nằm gọn trong vòng tay chàng trai quân giải phóng. Giây phút ấy vẫn làm nàng bứt rứt đau đớn mỗi khi cô đơn một mình nghe vẳng lên tiếng khóc của con Ngọc Lan. Nàng thương thân phận mình thương số kiếp đứa con gái của mình còn bé tý tẹo đã phải rời xa mẹ. Nó chính là con gái của chàng trai giải phóng quân mà tới giờ này nàng đâu có biết anh đang ở nơi nào. Nàng đã viết lá thư gửi chị Thu Cúc tìm chàng nơi rừng núi bạt ngàn trên ấy chắc gì chàng đã nhận được. Chính nàng cũng không nhận ra chàng đã cưỡng hiếp nàng hay chàng yêu nàng. Giây phút ấy đến với nàng quá bất ngờ vào giữa lúc bom pháo ùng oàng sự sống và cái chết quá mong manh...

Hương vị của rượu REMY thơm lừng và những lời có cánh của đại tá Đỗ Hiền với nụ cười phóng túng của ngài cố vấn Mỹ lúc này làm nàng phấn chấn. Và cả ánh mắt xanh biếc của chàng Hall phi công đẹp trai ngời ngời cũng đang nhìn nàng đắm đuối. Thân thể nàng cũng đang rạo rực khác thường. Đại tá Đỗ Hiền là người dẫn dắt nàng vào đây ngài cố vấn là bức tường vững chắc che chắn cho nàng còn chàng phi công đã đưa nàng bay lên trời cao để nàng đọc to lên lời kêu gọi những chiến binh Cộng Sản hãy quay về với chính nghĩa quốc gia. Từ trên cao ngồi cạnh Hall Thương Huyền được nhìn ra mênh mông đất trời núi non trùng điệp. Nàng thấy rõ hơn bao giờ hết quê hương mình đang chìm trong bom đạn. Nàng tưởng tượng ra trong số những chiến binh Cộng Sản đang sống dưới tán rừng xanh bạt ngàn có cả chàng trai giải phóng quân của nàng đã nghe được tiếng nói của nàng- tiếng nói của con tim- tiếng nói của tình yêu cuộc sống: "Hỡi các chiến binh Việt Cộng hãy buông súng quay về với chính nghĩa quốc gia...". Chàng chiến sĩ giải phóng quân làm sao hiểu được tâm trạng của nàng lúc này. Chàng phi công Mỹ cộng sự của nàng lúc này đối với nàng thật chân tình. Nàng biết trong sâu thẳm chàng Hall rất yêu nàng nhưng chàng sợ uy quyền to lớn của ngài cố vấn Ben. Hall có nước da trắng hồng dáng vẻ hào hoa cư  xử với nàng tận tuỵ mà tinh tế không bao giờ làm nàng giận. Nàng cũng đang khao khát được yêu được chiều chuộng được sống như tất cả bất kỳ người con gái nào trên thế gian này. Trước mắt nàng lúc này nhập nhoà ảo ảnh. Những gương mặt phừng phừng chấp chới ngả ngiêng say những tiếng cười man dại lẫn âm thanh của bản nhạc lúc dìu dặt lúc cuồng phong. Cánh tay lông lá của ngài Ben liên tục rót vào ly thứ rượu mạnh vàng sánh dâng mời nàng. Mỗi lần nàng cạn ly ngài Ben lại khích lệ mọi người vỗ tay tán thưởng và buông những lời sang trọng ngọt ngào.

Ngài cố vấn Ben thật khéo mời nàng nhẩy điệu van nhẹ nhàng uyển chuyển. Tiếng nhạc ru nàng vào thế giới mộng mơ. Nàng đang mơ màng trong men rượu quay cuồng bên ngài cố vấn Ben. Trong cơn say nàng nghe văng vẳng bên tai tiếng ngài Ben rủ rỉ mời nàng đi đâu đó. Đi đâu thì đi lên thiên đường hay xuống địa ngục? Đi đâu nàng cũng đi. Nàng đâu biết mình đang say. Nàng đang từng bước chấp nhận dâng hiến tấm thân ngọc ngà cho ngài cố vấn Mỹ mà không biết. Nàng chỉ mơ hồ nhận ra cái nhìn phóng túng và nụ cười khả ái của ngài cố vấn. Nàng đâu biết mình đang đắm chìm trong tội lỗi. Nàng có tội ngài Ben có tội hay cả thế giới này có tội? Căn phòng rực rỡ sắc mầu. Nàng nhìn thấy cái mũi cao cao hàm răng trắng đều tăm tắp và bộ ngực vạm vỡ lông lá lấp đầy thân thể nàng. Thân thể nàng nóng rẫy lên cuồn cuộn dâng trào. Nàng vùng vẫy trong tuyệt vọng giống như cái lần nàng bị chàng giải phóng quân cưỡng hiếp nàng. Qua cơn cuồng vọng nàng mới nhận ra rõ ràng gương mặt ngài cố vấn Mỹ chứ không phải chàng giải phóng quân năm nào đã chiếm đoạt nàng. Sau cơn thác lũ ngài Ben mãn nguyện vùi đầu vào bầu vú căng tròn của nàng- Bầu vú nàng đã có thời đầy ứ những tia sữa thơm nồng nàng đã phải vắt bỏ đi khi con Ngọc Lan lìa xa nàng. Thương Huyền đau đớn nhận ra thân thể trần trụi của nàng phơi bày trước mặt ngài Ben. Căn phòng sáng rực sắc màu ga gối nhàu nát và thân thể nàng cũng nhàu nát. Thế là hết chẳng còn ước mong chẳng còn nhớ nhung gặp lại chàng trai giải phóng quân năm nào. Nàng chẳng còn dám si mê nhìn viên phi công Mỹ trẻ trung có con mắt biếc xanh đã đưa nàng bay tít lên trời cao. Lòng nàng trào lên nỗi uất hận muốn cào xé thân hình đầy lông lá đang lừng lững trước mắt nàng. Đã qúa muộn để giữ gìn lòng tự trọng và thuỷ chung với chàng giải phóng quân đang mải mê trận mạc giữa rừng xanh núi đỏ.  Lời vú nuôi vang vang nhắc nhủ nàng: "Con phải biết hy sinh thân mình để hoàn thành việc lớn". Nàng dằn lòng. Ngài Ben dịu dàng hỏi nàng có thoả mãn không? Nàng nở nụ cười nhẫn nhục nước mắt ứa ra nhìn ngài Ben. Ngài Ben xúc động cúi xuống vuốt ve chiêm ngưỡng thân thể trắng ngần của nàng. Ngài Ben bảo nàng là con bồ câu non thượng đế đã đem đến ban tặng cho ngài...

                              ***

Từ tiền sảnh của Trung Tâm tâm lý chiến phi trường Thương Huyền nhận ra hai bố con đại tá Đỗ Hiền và trung uý Đỗ Hoàng từ trong xe bước ra. Ánh mắt đại tá Đỗ Hiền mãn nguyện nhìn Thương Huyền thăm dò.

-  Xin chúc cô Thương Huyền buổi sáng tốt lành! Giọng đại tá ngân lên cô đã thấy rõ bản chất của cuộc chiến tranh lớn lao này nó nghiệt ngã tới mức nào rồi đấy. Cô đã nghe tin tức buổi sáng chưa? Cộng quân lại vừa đột nhập thị trấn Tiên Sơn gây tổn thất lớn cho đồng bào ta. Mỗi chúng ta giờ đây đều phải có bổn phận làm được gì đó cho Tổ quốc cho đất mẹ yên bình. Phải biết nén lại tình riêng...

 Đỗ Hoàng lặng lẽ đứng nghe đại tá bố Đỗ Hiền nói mắt vẫn đau đáu nhìn Thương Huyền. Thương Huyền không chịu nổi cái nhìn của Đỗ Hoàng nàng quay mặt đi.

- Chính cô đã chứng kiến giây phút tôi gặp người anh rể của tôi rồi đó   Giọng Đỗ Hiền vẫn vang lên cô tưởng tôi không biết thương người anh rể điên khùng đó sao? Thương lắm nhưng cô thấy tôi đã thể hiện bản lĩnh của mình như thế nào? Còn cô cho dù ngài cố vấn có làm điều gì cô phật ý cô cũng nên bỏ qua. Chúng ta phải thông cảm cho người bạn lớn.

- Đại tá yên tâm tôi luôn biết mình phải làm gì ?

- Cảm ơn cô Thương Huyền. Bữa nay cô không phải bay nữa. Chúc cô ngày nghỉ tốt lành. Tôi đang có công chuyện phải làm.

Đại tá bỏ đi Thương Huyền chào trung uý Đỗ Hoàng rồi bước vội vào hành lang của khu trung tâm tâm lý chiến phi trường. Trung uý Đỗ Hoàng chạy theo níu tay Thương Huyền.

- Từ bữa gặp em anh phải vô Sài Gòn miết nay mới gặp lại được em anh mời em về anh chơi.

- Cảm ơn trung uý. Bữa nay tôi không thể.

Bị Thương Huyền cự tuyệt dứt khoát Đỗ Hoàng giận dỗi nhảy vào xe lao về khu gia binh trong phi trường. Nắng buổi sớm trải dải trên đường băng. Một chiếc máy bay phản lực đang hạ cánh gầm rú trên bầu trời. Một ngày mới bắt đầu. Thương Huyền thấy người mệt mỏi khác thường nàng có cảm giác giống cái lần nàng mang thai với chàng trai giải phóng quân năm nào. Thương Huyền lặng lẽ về phòng riêng nằm vật ra giường. Nàng lo sợ nếu lần này lại có thai nàng không còn nơi nào để nương thân. Nàng không thể về nhà với vú nuôi với ba má như lần trước. Nàng không thể để ba má chịu nhục nhã vì nàng. Nàng thấy nôn nao trong người vội chạy vào phòng vệ sinh đầu óc quay cuồng. Đúng là nàng đã có thai với Ngài cố vấn Mỹ. Cái đêm ăn mừng thành công bài báo của nàng trên tờ Tin Sáng nàng đã say và bị ngài cố vấn chiếm đoạt. Lại cũng giống như cái đêm với chàng giải phóng quân năm nào nàng sẽ lại đẻ ra thằng Mỹ con. Chỉ những ý nghĩ ấy nàng thấy mất hết sức lực mất hết niềm tin. Nàng nằm vùi trên giường suốt cả ngày không ăn không uống. Đêm đến nàng mơ những giấc mơ khủng khiếp. Sáng dậy ăn qua loa nàng đi làm. Tới Trung Tâm nàng lại nhìn thấy gương mặt Đỗ Hiền rạng rỡ cười với Hall viên phi công Mỹ có cặp mắt biếc xanh. Hôm nay nàng lại mong muốn được bay tít lên trời cao với chàng Hall để rũ bỏ mọi thứ bụi bẩn vấy lên tâm hồn nàng.

Nàng đến đứng trước mặt đại tá Đỗ Hiền. Vẫn giọng nói ân tình vẫn nụ cười rạng rỡ Đại tá nói :

 - Thật may mắn cho cô từ nay cô không phải bay nữa. Đây là lệnh của ngài cố vấn.

Nàng nhận ra cái nhìn cảm thông từ cặp mắt biếc xanh của Hall người cộng sự của nàng đã đưa nàng bay tít lên trời cao. Nàng hiểu từ nay nàng không còn được bay cùng chàng.

Nàng đi gửi tin mới cho vú nuôi qua hòm thư "chết" thì nhận được mệnh lệnh đặc biệt quan trọng Ngày giờ R nàng phải có nhiệm vụ đưa được ngài cố vấn Mỹ ra bãi biển Thần Tiên. Nàng chưa bao giờ có cảm giác hồi hộp lạ lùng đến vậy. Nàng thấy nghèn nghẹn run rẩy hiểu rõ tầm quan trọng của cái mệnh lệnh nghiệt ngã kinh hoàng kia. Năm tháng qua nàng sống trong nỗi dằn vặt mơ hồ về những gì đã xảy ra đang xảy ra rồi sẽ ra sao? Giờ bất ngờ nhận được mệnh lệnh rõ ràng dứt khoát giống như tiếng chuông thức tỉnh ngân vang trong tâm trí nàng. Nàng phải tung lưỡi thần sét kết liễu kẻ vừa hãm hại nàng- kết liễu kẻ vừa mới gieo trong máu thịt nàng một mầm sống mới đang lớn dần lên từng ngày. Nó là con nàng và nàng sẽ trở thành kẻ giết cha nó...

Nàng run rẩy lập cập về tới căn phòng của mình đóng cửa nằm lăn lộn trên giường. Nàng lại hình dung tới cái mệnh lệnh khủng khiếp đối với nàng- mệnh lệnh giết người- giết kẻ vừa mới làm tình với mình- một mệnh lệnh vừa âm thầm vừa dữ dội chỉ một mình nàng biết một mình nàng thực hiện- một mệnh lệnh sẽ đóng đinh vào cuộc đời nàng một dấu ấn- một nỗi đau nhức nhối suốt đời. Bao ý nghĩ ùa đến tràn ngập tâm trí nàng. Nàng ý thức rõ ràng mình cũng là một con người- Một cử nhân văn khoa- một tiểu thư khuê các- một ký giả nổi danh mà sao lại phải mang nặng số kiếp trầm luân hồng nhan bạc phận đến vậy. Cái mệnh lệnh tới "ngày giờ R" ấy sẽ quyết định thay đổi số phận nàng. Nàng sẽ chính thức là nữ chiến sĩ diệt Mĩ dũng cảm kiên cường. Nàng sẽ đứng vào đội ngũ của chị Thu Cúc nàng sẽ cùng chung chí hướng với chàng trai giải phóng quân của nàng năm nào. Chàng giải phóng quân đã bất ngờ đi vào đời nàng như cơn lũ quét cuốn phăng tất cả mọi mơ ước đầu đời của nàng...

Có tiếng gõ cửa nàng bật dậy gương mặt ngài Ben hiện ra với nụ cười phóng túng đầy tự tin. Toàn thân ớn lạnh nàng cố cười lễ phép bảo ngài cố vấn bữa nay nàng bị mệt. Nàng không thể chiều ngài cố vấn lúc này. Thương Huyền ôm chầm lấy ngài cố vấn lẳng lơ đưa tình quyến rũ dụ dỗ cơn thèm khát của ngài cố vấn. Nàng gợi ý vẽ ra viễn cảnh mộng mơ nàng được cùng Ben dạo trên bãi biển Thần tiên. Bãi biển Thần Tiên là nơi dành riêng cho những sỹ quan cao cấp quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng Hoà. Nàng đã dâng hiến cho ngài Ben tất cả rồi đấy thôi. Những lời dịu dàng của nàng đã làm ngài Ben xiêu lòng. Nàng  hẹn ngày... giờ... nàng mong được gặp Ben ở bãi biển Thần Tiên. Dạo mát và tắm biển xong   nàng tự nguyện dâng hiến cho Ben trọn vẹn. Nàng ghé vào tai ngài cố vấn bảo bữa nay nàng bị "bẩn mình". Ben cười tỏ lòng thương cảm dang đôi tay trắng hồng đầy lông lá ôm xiết lấy nàng làm nàng nghẹn thở. "Ta se theo  em đi bất cứ đâu " (ta sẽ theo em đi bất cứ đâu) ngài cố vấn nói và thơm lên trán nàng. Nàng co người dúi đầu vào bộ ngực đầy lông lá của ngài cố vấn. Đứng trước Ben nàng như con chim nhỏ trong lòng tay đầy móng vuốt sắc nhọn của quỷ thần sẵn sàng bóp chết nàng bất kỳ lúc nào. Từ nay đến ngày giờ G... ấy nàng tính vào đúng ngày thứ bảy tới. Vậy là chỉ bốn ngày nữa. Nghĩ tới ngày ấy nàng vừa run sợ lại vừa khao khát. Ngày ấy cái ngày khắc nghiệt ấy sẽ dẫn nàng đến một chân trời mới. Và chính ngày ấy nàng sẽ suốt đời trở thành kẻ giết người- giết chết cha của đứa con mà nàng đang nuôi nó trong bào thai. Nàng cảm nhận rõ đứa con của kẻ bị kết án tử hình đang quẫy đạp mạnh hơn lúc nào hết trong bụng mình. Thương Huyền ơi my không được run sợ không được thối chí. My phải biết nghe lời vú nuôi. Đứa con gái đầu đời của nàng đã phải lìa xa nàng đang ở nơi nào đó cũng đang trông ngóng nàng trở về đón nó đưa nó đi gặp cha của nó là chàng giải phóng quân năm nào...

                            ***

Ngày thứ 7 là ngày đặc biệt đối với số phận nàng. Nàng đi bên ngài cố vấn mà người bồng bềnh như bay trên bãi biển ThầnTiên. Biển mênh mông thăm thẳm. Những đợt sóng trào lên cuồn cuộn. Lòng nàng cũng trào lên cuồn cuộn. Mệnh lệnh Thương Huyền đã nhớ như in trong tâm trí "Nếu chim yến bay được thì đến khóm Hoàng Lan ăn mồi. Nếu không bay được thì dẫn bạn tình về tổ ..." Đằng nào cha của đứa con trong bụng nàng cũng nhận tội chết. Nàng phải nhận nhiệm vụ lớn lao này. Chim Yến phải bay. Ba ngày nay nàng chỉ chờ đợi giây phút này. Nàng phải là chién sĩ dũng cảm. Nàng chỉ việc ngắm trúng bộ ngực đầy lông lá mà bóp cò. Bộ ngực ấy đêm nào đã trùm kín cơ thể nàng."Ông hãy đứng im chờ em chút xíu" Giọng nàng véo von nghe thoáng trong gió biển rì rào. Nàng bối rối chạy trên bãi cát rộn rạo. Bãi cát in dấu chân nàng thành một đường thẳng tới khóm hoàng lan. Mùi hương thơm ngát dậy lên nàng cúi xuống lùa bàn tay vào khóm hoàng lan tìm vũ khí. Bàn tay nàng chạm vào khẩu súng lạnh buốt như có luồng điện chạy xiên vào tim nàng. Nàng nhét vội khẩu súng vào túi xách tay chạy về phía ngài cố vấn. Nàng không nhận biết bằng cách nào nàng đã bóp cò. Nàng bóp cò từ phía sau cái bóng cao lừng lững của ngài cố vấn. Một tiếng nổ đanh gọn vang lên bên tai nàng. Ngài cố vấn chới với ngã sấp mặt xuống bãi cát trước mắt nàng. Nàng chạy lại ném khẩu súng vào khóm hoàng lan.

- Bắt lấy nó có kẻ giết người! Bắt... bắt....Nàng hét lên.

 Không biết từ khi nào nàng đã quay lại phủ phục bên xác ngài Ben nằm bất động trên bãi cát. Tấm áo trắng tinh của ngài Ben loang ra vệt máu đỏ thẫm. Nàng mơ hồ nhận ra người từ khắp các ngả vây kín quanh Ben và nàng.

 Nàng nghe váng vất tiếng còi cấp cứu rú lên và chiếc xe cứu thương bật đèn tín hiệu loang loáng lao tới đưa xác ngài cố vấn và nàng về phi trường. Nàng nhận ra gương mặt đại tá Đỗ Hiền thất thần. Đám tùy tùng tùng của đại tá Đỗ Hiền chạy loạn lên.

Và lúc này nàng ủ rũ ngồi trước phòng hỏi cung.

- Lúc nghe tiếng súng nổ cô ở đâu?

- Tôi đang đi cạnh ngài cố vấn.

-  Sau tiếng nổ cô nhìn thấy gì?

- Tôi nhìn thấy một người thanh niên lao vào trong chiếc xe chạy vút về hướng thành phố.

- Tôi đặt giả thiết chính cô đã hạ sát ngài Ben?

- Các người rõ hồ đồ không hiểu ngài Ben đã là cha của đứa trẻ đang nằm trong bụng tôi đây sao?

- ...

- ...

Chính giọt máu của ngài Ben đã cứu nàng thoát chết. Không ai có thể nghi ngờ khi biết đích xác nàng đã có con với Ben.

Lại một lần nữa tên tuổi nữ ký giả Thương Huyền xuất hiện trên tờ báo Tin Sáng với dòng tít "Bóng ma trên bãi biền Thần Tiên" tường trình chi tiết một tay súng cừ khôi của đội biệt động xuất quỷ nhập thần hạ sát ngài cố vấn Mỹ. Bản án tử hình của mặt trận dân tộc giải phóng Miền Nam Việt Nam còn được gió cuốn bay trên cát. Ngài cố vấn Ben chết Thương Huyền lại được bay cùng viên phi công Mỹ có cặp mắt biếc xanh trên bầu trời cao lồng lộng "Hỡi các chiến binh cộng sản..." Tiếng Thương Huyền lại vang lên trong không trung. Thỉnh thoáng Thương Huyền vẫn lại nghe váng vất  tiếng nổ đanh gọn bên tai. Tiếng nổ đã tạo ra cái lỗ đen hun hút trong trái tim băng giá của nàng. Số phận nghiệt ngã dẫn nàng đến đường cùng.

Cuối cùng nàng đã gửi tin cho vú nuôi về kết quả công trạng của mình trừ cái thai đang lớn dần trong cơ thể nàng phải giấu kìn. Đã một lần nàng phải trao con Ngọc Lan cho kẻ khác. Nàng đã bị ám ảnh bởi ánh mắt của nó nhìn nàng oán hận. Nàng lo sợ lần này nàng lại phải mang cái bụng nặng nề về với ba má. Nàmg chưa làm được gì cho ba má nàng mà chỉ gieo tai hoạ. Chỉ có chàng phi công cảm thông và hiểu được nỗi lòng nàng đang cô đơn. Nàng mong chàng phi công lại đưa nàng bay lên cao cao mãi đừng bao giờ hạ cánh nơi trần gian địa ngục này. Nàng sợ hãi khi đêm đến trong căn phòng riêng ở dãy nhà lắp ghép khu gia binh. Đôi mắt mất ngủ buồn lo của nàng không giấu được Hall. Nàng đã phải thú nhận với chàng Hall và đại tá Đỗ Hiền cái thai trong bụng nàng là của ngài cố vấn để bảo toàn tính mạng. Từ khi hạ sát Ben nàng bỗng trở thành con người hoàn toàn khác. Nàng bất cần mọi chuyện. Không ước mơ không tham vọng. Nàng báo tin qua hòm thư cho vú nuôi. "Chim Yến không còn bay..." Cho dù bụng nàng đã to kềnh ra đứa con trong bụng nàng sắp chào đời nàng vẫn giấu vú nuôi và ba má. Mật hiệu "Chim Yến không còn bay của nàng phát đi nàng không còn nhận được tin qua hòm thư "chết". Tổ chức đã kết tội nàng buông súng giữa chừng. Trong phi trường cách biệt với môi trường sống bên ngoài nàng trở thành kẻ bơ vơ như con điếm hư hỏng. Nàng không thể ngờ tổ chức đã theo dõi sát từng bước chân nàng trong phi trường. Giờ thì đích thị nàng là con điếm- Điếm cao cấp đánh đu với cả ngài cố vấn Mỹ. Nàng không thể ngờ thân phận nàng bỗng nhiên thành con điếm có con với hai người đàn ông. Hai người đàn ông đi vào cuộc đời nàng lại là kẻ thù của nhau ở hai chiến tuyến. Nàng bỗng nhiên trở thành tội phạm của cả hai phe trong cuộc chiến. Nàng vừa là nữ chiến sĩ dũng cảm lại vừa là kẻ tội phạm giết cha của đứa con trong bụng mình đang sắp chào đời. Nó giống nàng hay giống Ben mắt xanh mũi lõ? Dù nó giống Ben nó vẫn là con của nàng của riêng nàng. Ben đã chết rồi- Ngài cố vấn đã chết rồi...

Đã sắp đến ngày con nàng chào đời. Nó đòi ra đời để trừng phạt nàng trừng phạt thế giới này thế giới của những người đang sống và cả của người đã chết. Đấy! Nó đang đạp nhoi nhói. Nó ra đời lớn lên nó sẽ hỏi ba nó là ai? Ai đã giết ba nó? Nó còn có cả con chị nó là Ngọc Lan không biết đang ở đâu còn sống hay đã chết rồi. Nó sẽ hỏi tại sao má lại không nuôi chị Ngọc Lan?... Cơn đau cuộn lên dữ dội. Căn phòng trắng loá. Những gương mặt người nhập nhoà. Nàng gào thét trong tuyệt vọng. Chúa đã nghe thấy lời nàng. Chúa biết hết. Chúa cứ trừng phạt con đi! Con lạy chúa lòng lành...! Con đã âm thầm chịu đựng nỗi đau đớn này từ lâu lắm. Tiếng khóc trẻ thơ vỡ oà không gian! Mầm sống chào đời. Nàng chìm trong cơn mê phiêu du nơi hoang mạc xa xăm của ký ức. Trận bom năm nào vang rền. Gương mặt chàng giải phóng quân lung linh trong ánh nến. Gương mặt người đàn bà đen nhẻm lặng lẽ đến cướp con Ngọc Lan của nàng đi biền biệt nơi nào. Và cả gương mặt Ben với nụ cười phóng túng và gương mặt tươi rói của đại tá Đỗ Hiền chấp chới. Bãi biển Thần Tiên vang lên tiếng nổ đanh gọn. Ben ngã vùi mặt xuống bãi cát còn in rõ dấu chân của nữ ký giả Thương Huyền. Nàng rùng mình cảm nhận hơi ấm dịu êm của mầm sống khẽ o e cựa quậy bên mình. Nàng mở mắt ánh sáng chói loà trong căn phòng trắng loá nàng nhận ra ánh mắt xanh lơ và cái mũi nhô cao rõ là của Ben. Nó giống Ben. Ngoài cửa bỗng xuất hiện gương mặt rạng ngời.

- Tuyệt vời! Thật tuyệt vời! Giọng đại tá Đỗ Hiền ngân vang. Phải cho nó cái tên. Cha nó là Ben nó là Bin- Ben Bin- Hay đấy. Tình hữu nghị Việt Mỹ ngày càng gắn bó dài lâu. Nhà thương gia Đức Cường lại có thêm chỗ dựa vững chắc. Đại tá Đỗ Hiền vừa nói vừa tung chùm chìa khoá trên tay cười đắc ý. Thương Huyền cảm nhận được trong giọng nói nụ cười của đại tá luôn ẩn giấu điều gì bí hiểm. Quả đúng như linh cảm của Thương Huyền đằng sau nụ cười của đại tá Đỗ Hiền là gương mặt thất thần của ba má Thương Huyền. Ông bà Đức Cường bất ngờ từ ngoài cửa lao vào. Bà Đức Cường nắm đôi bàn tay run rẩy của con gái. Nàng đau đớn bàng hoàng bởi sự xuất hiện quá bất ngờ của ba má. Nàng thương ba má - một nhà thương gia giàu sang nhất vùng mà không sao làm được gì để con gái mình hạnh phúc. Ông bà Đức Cường hốt hoảng thu dọn đồ đạc vội vã đưa nàng và Bin đi khỏi căng phòng trắng loá lạnh lẽo trong Trung Tâm Tâm lý Chiến phi trường. Má bế thằng Bin ba dìu nàng ra xe đỗ trước cửa. Chiếc xe đưa nàng và Bin lao vút khỏi phi trường. Những tia nắng lấp loá chạy theo nàng về dinh thự Đức Cường.

More...

Trần gian người đời chương 11

By DƯƠNG HƯỚNG

 

Chương 11
Buổi chiều Nga đang nằm mơ màng bỗng nghe có tiếng xe máy lao vào cổng tiếng bước chân lộc cộc gõ trên thềm nhà.

- Nga ơi có khách đây này. Khách quý đấy.

Tiếng chú Tòng ngọt ngào. Nga vùng dậy. Chú Tòng mở cửa. Nga nhìn người đàn ông về cùng chú Tòng bằng ánh mắt thăm dò. Chú Tòng giới thiệu:

- Đây là đứa cháu tôi chú mày có duyệt được thì tao cho không. Thời buổi chiến tranh chả cần dài dòng tý nữa chú mày nghe nó biểu diễn thử - Tao tin là chú mày sẽ mê liền.

Chú Tòng mở bia tiếp khách rất tự nhiên. Vị khách vừa uống vừa nhìn Nga chằm chặp như người xem tướng.

- Năm nay cô bao nhiêu tuổi - Vị khách bắt đầu làm cuộc phỏng vấn nho nhỏ.

- Dạ cháu... cháu hai mươi tuổi.

- Đã lên sâu khấu bao giờ chưa?

- Dạ rồi ạ.

- Cô hãy hát thử mấy làn điệu nào cô thích.

- Dạ

- Có thể diễn trích đoạn...

- Cứ tự nhiên cháu nhé - Chú Tòng nói chen vào - Chú Bẩu đây là đoàn trưởng đoàn chèo mà chú đã nói với cháu rồi đấy.

Bẩu rót bia trao tận tay cho Nga.

- Tôi mời cô! Trước khi hát hãy uống một cốc cho tỉnh cái đã. Nào uống đi.

Nga thấy rùng mình hoảng sợ cái thứ nước vàng vàng mà cô đã uống đêm qua đã làm Nga mê mụ và những gì diễn ra trong đêm với chú Tòng tới lúc này vẫn còn ám ảnh Nga. Lòng Nga lại nhói đau - số phận của Nga bây giờ lại nằm trong tay người đàn ông mới lạ này. Nga biết rõ điều đó nên cố bán lấy hy vọng cuối cùng tuy mỏng manh nhưng vẫn chưa tắt hẳn. Nga cố uống cạn cốc bia và vụt đứng dậy.

- Cháu sẽ hát. Vâng hôm nay cháu sẽ hát - Nga đứng lặng nhìn thẳng vào hai người đàn ông trước mặt lấy lại bình tĩnh - Cháu sẽ hát bài thứ nhất "Bát mật con ruồi".

- Sao lại "Bát mật con ruồi" - Chú Tòng nói - Chú Bẩu muốn nghe cháu hát chèo cơ mà.

- Cái bố này rõ ngốc - Bẩu nói - Đấy là chèo chính  tông đấy bố ạ. Bố tưởng đấy là cải lương chắc.

Câu nói của chú Tòng làm Nga ấp úng mãi vẫn không sao cất giọng lên được. Nga chuyển sang hát trích đoạn vở "Súy Vân" mà Nga đã thuộc làu. Nga nhập vai Súy Vân nhanh đến nỗi Nga thấy chính Nga lúc này chẳng khác gì thân phận Súy Vân. Gương mặt Nga hiền dịu như vầng trăng bỗng đờ dại lúc uất giận đanh cứng như đá lúc đau đớn tê tái Nga thoắt cười thoắt khóc đến rợn người...

- "Trời xanh hỡi... ta là con chim lạc lối biết đi đâu - biết hỏi ai - đã đành lỡ một lần hai - tiếc chi cuộc đời đen bạc..." - Tiếng kêu của Nga thấu tận trời xanh tím bầm gan ruột. Nga phóng ánh mắt sắc lạnh vào hai người đàn ông trước mặt. Chú Tòng vội cúi gằm mặt xuống. Tiếng Nga lại lanh lảnh réo gọi kêu than muốn dãi bày nỗi lòng mình "Ơi chị nhiên ơi - ơi các bạn tình ơi - đời tôi không giăng gió - nay gặp gió giăng ..." câu hát dồn dập chơi vơi. Bóng Nga chao đảo chới với trước mắt chú Tòng và Bẩu "Tôi than cho thế sự - tôi lại trách nhân tình - đêm năm canh tôi thức một mình - thì thằng nhân ngãi chung tình nơi đâu á á á" Nga kêu thét lên. Mặt chú Tòng tái đi tưởng Nga phát điên thật Nga cũng ngỡ mình đang lên cơn điên loạn. Đôi tay Nga múa loạn lên run rẩy. Bằng một động tác thật điêu luyện Nga ngã vật ra rũ rượi đôi bàn tay Nga quờ quạng như kiếm tìm gì đó trên nền nhà. Cái mà Nga tìm thấy lại chính là mớ tóc đen nháy của mình xoã ra. Những ngón tay run rẩy mân mê mớ tóc rối bời và hai dòng nước mắt ứa ra từ trong khoét mắt buồn thăm thẳm. Nga khóc và ngồi lặng đi. Lúc này Nga không còn đóng kịch mà Nga khóc thật khóc âm thầm cho thân phận đau đơn của mình khóc cho cả số phận nàng Súy Vân tội nghiệp.

- Tôi thật không ngờ anh lại có cô cháu tuyệt vời đến vậy - Bẩu thốt lên - một nghệ sĩ thực thụ. Tôi sẽ tiếp nhận. Cô Nga ạ tôi sẽ tiếp nhận cô từ giờ phút này. Tôi hy vọng  cô sẽ trở thành một diễn viên xuất sắc trong đoàn chèo tỉnh nhà.

Nga bỗng khóc to lên. Chính Nga cũng không hiểu rõ mình khóc vì lẽ gì.

- Ấy sao lại khóc thế - chú Tòng thoáng chút bối rối.

- Bố mày chẳng hiểu quái gì về nghệ thuật. Đấy là cảm xúc đáng quý của người nghệ sĩ...

Khi còn lại Nga và chú Tòng trong căn nhà vắng lặng thì trời vừa tối. Chú Tòng cứ ngồi ngây trên ghế không nói không rằng. Nga hiểu rằng ông ta cũng không cần nói thêm lời nào. Mọi việc đã được xếp đặt đâu vào đấy như thể nó phải thế và cứ thế. Tất cả đều có giá của nó. Cái giá mà Nga phải trả bằng chính thân xác của mình. Nga cay đắng nhận ra cuộc đời mình từ giây phút này hoàn toàn khác xưa. Mối quan hệ của Nga và Tòng  bây giờ hoàn toàn khác. Nga phải tự nguyện chấp nhận sự đánh đổi lấy tương lai bằng sự ô nhục nhất của một người đàn bà....

Căn nhà cứ lặng đi chỉ có Nga và Tòng với ngọn đèn điện cứ sáng trắng ra. Tối nay lại không có tiếng máy bay ngọn đèn bảo vệ trước cổng cũng sáng trắng ra. Bức tường bao quanh khu nhà cao ngất. Những mũi mảnh chai nhọn sắc sáng lóe lên. Mãi lúc này Nga mới thực sự nhận ra ánh mắt Tòng. Ánh mắt rừng rực dục vọng. Cũng có thể Tòng vờ lạnh lùng mãn nguyện. Sự mãn nguyện thật cao ngạo.

- Được chứ! Tòng khẽ mỉm cười kiêu hãnh.

- Được.

- Chưa đủ đâu. Trong ngày mai tôi phải xoay cho Nga bộ quần áo thật tuyệt một đôi guốc...

- Có lẽ không cần phải thế đâu.

- Cần chứ. Với tôi chẳng đáng là bao. Tôi muốn Nga phải là một nàng tiên. Nga đẹp lắm. Thật đấy! Rồi cuộc đời Nga sẽ được sung sướng.

- Tôi lầm! - Nga nói - Thú thực tôi đã lầm tưởng ông là người tốt. Lúc đầu tôi nghĩ về ông khác.

- Đừng vội nghĩ xấu về tôi thế cô bé. Đàn ông mà chính là do hoàn cảnh. Trong trường hợp đêm qua tôi không sao kìm lòng trước thân thể của em đầy ma lực cuốn hút tôi. Đêm qua tôi đã lợi dụng em nhưng lúc này tôi thực sự yêu em. Từ giờ phút này tôi sẽ làm tất cả vì em.

Bằng một sức mạnh phi thường. Tòng lao vào bế bổng Nga lên đặt xuống giường. Nga run rẩy nén chịu một cách đau đớn. Hai bàn tay thô bạo của Tòng lần lượt cởi hàng cúc áo Nga. Tòng lúc này không khác gì Bức trong đêm tân hôn. Có khác chăng căn buồng của vợ chồng Bức chật hẹp hôi hám thì đây cứ sáng rực mênh mông. Nga nhắm mắt không dám nhìn khuôn mặt đỏ gay và tấm thân Tòng béo núng nính như một khối thịt đang vần vò dày xéo lên thân thể mình....

 

*

 

Chiếc xe u oát lao trên đường về làng Nguyệt Hạ nắng chiều rừng rực trên cánh đồng loang loáng nước. Những người lom khom cấy lúa và những thân trâu đen chũi kiên nhẫn kéo cày. Nga bỗng nhận ra mình trở nên xa lạ - kẻ xa lạ đáng ghê tởm. Một nỗi kinh hoàng bao trùm lên cuộc đời này làm cho Nga co rúm run rẩy. Bàn tay Tòng không biết từ khi nào đã xiết chặt lấy cổ tay Nga Nga chợt bừng tỉnh. Mấy hôm trước Nga cũng là cô thợ cấy giỏi của làng Nguyệt. Vậy mà bây giờ bỗng dưng Nga đã giống như một cô gái giang hồ với tâm hồn đã hoen ố trong bộ quần áo thị thành không phải của mình. Ngồi trên chiếc xe sang trọng lướt qua gương mặt thân quen trên đường làng mà Nga không dám nhìn vào ai...

Chiếc xe đỗ xịch trước ngõ. Nga ngượng ngùng bước xuống. Trẻ con ở đâu túa ra giương mắt ngỡ ngàng rồi la toáng lên:

- Cô Nga chúng mày ơi! Cô Nga làng ta.

Bọn trẻ kéo đến mỗi lúc một đông bu quanh chiếc xe sờ mó ngó nghiêng. Nhà vắng vẻ mẹ đã khóa cửa đi làm. Nhờ đứa trẻ hàng xóm chạy ra đồng tìm mẹ Nga vào bếp nấu nước tiếp Tòng và anh lái xe. Loáng một cái mẹ Nga đã tất bật gánh một gánh mạ về đặt ở ngõ.

- Chào bác ạ - Tiếng Tòng oang oang Nga ngồi lặng trong bếp không dám nhìn mẹ - Hôm nay thì bác phải giết gà ăn mừng cho cô Nga nhà ta.

Mẹ Nga đon đả chào khách rồi chạy vào bếp. Mẹ sững sờ nhìn Nga. Đúng hơn là mẹ nhìn bộ quần áo mới của Nga.

- Thằng Bức nó ghi thư về đấy con ạ - Mẹ khẽ thì thào với Nga - Cả thằng Đô nữa. Hai đứa chúng nó chung một đơn vị đóng quân ở mãi tít trong Đồng Hới.

Nga cố nén xúc động bảo mẹ làm cơm tiếp khách. Nắng chiều đổ nghiêng trên hàng dậu trước nhà. Mẹ nhon nhón chân đứng bên gốc cau ngấp ngó nhìn mấy chú gà vô lo đang hí húi bới rác ngoài vườn. Tòng ngửa cổ nhìn lên ngắm thân cau mới trổ bông xòe ra những nụ hoa trắng nõn tỏa hương thơm ngát. Mẹ đến bảo nhỏ cậu lái xe câu gì đó rồi cất tiếng gọi "cúc cúc cúc... bập bập bập..." Đàn gà từ ngoài vườn bay qua bờ dậu bổ nhào về sân. Mẹ vung ra nắm thóc. Cậu lái xe cầm một đoạn gốc tre đứng nép vào chân đống rạ quăng một nhát đàn gà hốt hoảng chạy túa ra. Một chú gà trống bị trúng thương nằm giẫy đành đạch giữa sân Cậu lái xe lao tới tóm lấy đôi chân chú gà trống nâng lên hạ xuống lùa những ngón tay vào lườn chú gà.

- Chà chà! Béo phải biết - người lái xe nói phải cắt tiết nhanh kẻo nó chết mất...

Nga cứ ngồi lặng bên bếp nghĩ ngợi lan man. Mẹ bê rá gạo vào bếp cho Nga rồi xách siêu nước lên nhà trên.

- Em đã bảo cháu nó ngay từ hồi ấy - vẫn tiếng Tòng vang váng - Nó mà nghe lời em thì bây giờ sướng rồi. Nhưng không sao bây giờ vẫn chưa muộn. Từ giờ đến trưa mai cháu nó cố gắng làm xong hồ sơ chiều mai em đưa ra Ủy ban xin dấu còn đơn từ thì lên trên đó viết cũng được.

- Thật là phúc đức cho cháu - Mẹ Nga nói - thôi thì trăm sự nhờ các chú giúp đỡ.

Ăn cơm tối xong nhà có mỗi ngọn đèn dầu phải để mẹ tiếp khách Nga chạy sang nhà Đô để đọc thư của Bức và Đô gửi về.

Vừa bước chân vào cửa cái Hà đang học bài vội chạy tới ôm chầm lấy Nga reo lên:

- Ôi chị Nga mấy bữa nay chị đi đâu vậy? Anh Đô gửi thư về cho bố em rồi đấy.

Tiếng nói ngây thơ trong vắt và tình cảm quý mến của cái Hà làm Nga xúc động. Nga chợt sững người nhận ra con mực bữa nay lại bỗng dưng gầm gừ với Nga. Từ ngày Đô đi Nga thường sang chơi với cái Hà con mực vẫn thường tỏ ra quý mến với Nga vậy mà lúc này nó tỏ ra thờ ơ đến thế chả lẽ giống chó lại tinh khôn? Chả lẽ nó lại nhận biết ra sự ô nhục của Nga?

- Mực mày hư lắm! Chị Nga đấy - cái Hà cười rúc rích - Ôi nó không nhận ra chị vì hôm nay chị có bộ quần áo đẹp quá đấy mà.

Nghe tiếng Nga Ngô Quất từ trong buồng bước ra với dáng vẻ tiều tụy.

- Bác đi ngủ sớm thế.

- Ngủ ngáy gì đâu. Tao ghi cho thằng Đô mấy chữ - Ngô Quất nói - Tạo vừa mới nhận được thư nó tao cứ thấy bần thần cả người vừa giận mình vừa thương nó. Các cụ nói cấm có sai: "Gần nhau thì thấy bình thường xa nhau mới thấy tình thương dạt dào".

- Bác cứ vào biên thư cho anh Đô để mặc con với em Hà.

Ngô Quất ngồi xuống ghế rít thuốc lào sòng sọc. Nga đến bên bậu cửa sổ bỏ thư của Đô và Bức ra đọc. Cái Hà vừa học vừa rí ráu hỏi Nga đủ chuyện:

- Chị Nga ơi đi bộ đội đánh nhau có chết người không chị ?

- Có chứ.

- Chị Nga ơi em hỏi thực chị nhé chị bây giờ còn yêu anh Đô không?

- Lúc nào chị cũng yêu anh Đô. Thôi em học bài đi đừng hỏi vớ vẩn nữa. Đọc xong lá thư Nga mừng thấy Đô và Bức đã trở nên thân thiết nhưng lại buồn vì tháy mình đã phản bội lại cả hai người. Trong thư Đô và Bức đều nói các anh chuẩn bị hành quân vào chiến trường Miền Nam hẹn ngày chiến thắng trở về.

Đọc xong hai lá thư Nga vẫn thấy Ngô Quất ngồi lặng trước ngọn đèn dầu chẳng nói chẳng rằng. Sự cô quạnh buồn tẻ hiện rõ trên gương mặt Ngô Quất.

- Nga lại đây bác bảo cái này

Nga đến bên cạnh Ngô Quất. Con mực nằm ở cạnh cửa vẫn gầm gừ nhìn Nga vẻ hằn học.

- Đã bao nhiêu lần bác định nói với con điều này mà vẫn không sao nói được - Ngô Quất lại ngồi lặng thinh lúc lâu rít đẫy một hơi thuốc lào rồi bất thình lình nắm chặt cổ tay Nga - Bác xin con hãy tha thứ cho bác. Con hãy thông cảm nhận giùm bác số tiền này. Số tiền này chính là của con đấy.

Ngô Quất đặt vào giữa lòng bàn tay Nga chính cái túi tiền xu lão Kình đã trao cho Nga mà Ngô Quất đã tiêu đi mất một ít.

- Bác cháu không nhận đâu. Làm sao mà bác cứ phải nghĩ mãi về chuyện ấy làm gì cho khổ. Bác hãy quên đi bác ạ.

- Không con không nhận giúp bác số tiền này thì không bao giờ bác quên được. Những đồng tiền này nó cứ ám ảnh bác mãi. Con không hiểu được lòng bác đâu. Bác đã đi xuống địa ngục rửa tội rồi con không thể hiểu được.

- Bác bác nói gì vậy? Ôi bác lại say rồi phải không.

- Không! Từ lâu nay bác bỏ rượu rồi bác có uống đâu mà say. Con cứ tưởng tượng xem những viên đá... những viên đá thằng Đô mua về.. những viên đá cưới đấy nó vẫn cất giữ cẩn thận ở trong góc buồng. Ôi những viên đá ấy nó  cứ ám ảnh bác không tin con cứ cầm đèn vào trong buồng mà xem và những thứ này nữa.

Ngô Quất đứng dậy lật đật cầm đèn vào buồng lấy ra chiếc túi du lịch của Đô lôi ra bộ quần áo Đô mua cho Nga và mấy thứ đồ lặt vặt chuẩn bị cho ngày cưới hai đứa.

- Nó biên thư về  bom đạn thế chả biết có sống được mà về...

- Bác sao bác cứ nói những điều vớ vẩn thế. Anh Đô sẽ về khi nào giải phóng miền Nam anh Đô sẽ về. Bác hãy giữ lấy mọi thứ này.

- Không bác mong con hãy nhận lấy tất cả những thứ mà thằng Đô đã mua cho con.

- Không. Cháu không thể. Bác hãy giữ lấy cho anh Đô. Cháu không có quyền nhận những thứ này.

- Đừng Nga! Hãy nghe lời Bác. Nó đã biên thư về bảo bác hãy đưa cho con hết mọi thứ này. Mày không tin sao? Thư nó viết cho bác đây này.

- Không. Cháu không thể. Bác thông cảm cho cháu cháu... cháu đã phản bội... bác không thể hiểu đâu cháu đã phản bội anh ay cháu là kẻ xấu xa... xấu xa vô cùng...

Nga lao ra cửa xót xa đi trên đường làng. Tiếng guốc dưới chân Nga khua vang trên mặt đường đá. Đôi guốc mới Tòng mua có đóng đinh dưới đế xiết trên mặt đá làm Nga thấy gai gai trong người. Những viên đã lát đường của lớp lớp gái trai làng Nguyệt Hạ bước vào đời. Những viên đá - lòng thủy chung son sắt của hết thảy mọi người đàn bà làng Nguyệt Hạ. Những viên đá...

Có tiếng cười rúc rích và nói chuyện của mấy chị mấy cô đi họp đội sản xuất Nga bối rối vội lách vào trong ngõ ngang. Nga nhận ra tiếng cái Hòa cô Bân chị Hưởng đang bàn tán về chuyện Nga đưa khách về.

- Tay ấy với cái Nga là thế nào nhỉ trông tướng có vẻ làm to.

- Chuyện. Quan tỉnh mà lại.

- Cái mắt ấy đàn bà khối đứa chết.

- Sao bảo cái Nga lần này đi văn công.

- Ở cảnh nó đi cho sướng cái thân.

- Gái có chồng rồi hay gì nghề xướng ca vô loài. Chồng đi xa mà cứ hơ hớ ra đấy giữ thế chó nào được...

Nga về tới ngõ đã nghe tiếng Tòng cười nói vui vẻ với người lái xe và mẹ Nga.

- Ở nông thôn ta bây giờ nhìn chung còn vất vả và lạc hậu lắm. "Đi ngày đàng học sàng khôn" chị cứ yên tâm để cho cháu nó đi. Tiếng hát của cháu Nga rồi đây cả nước sẽ hâm mộ...

Nga đứng lặng bên ang nước mưa. Bầu trời cao xa vời vợi. Thân cau đơn độc đứng thẳng tỏa hương thơm ngát. Bao ý nghĩ xới tung lên trong tâm trí Nga.

Chiều hôm sau người lái xe đưa Tòng và Nga lên Ủy ban xã. Ông Lành bí thư người làng Nguyệt Hạ đón Tòng rất niềm nở. Ông hết nhìn chiếc xe u oát đỗ ngoài cửa Ủy ban lại nhìn Tòng nhìn Nga. Nga nhận ra ánh mắt của tất cả những cán bộ trong xã đang đổ dồn về phía Nga. Nga định nói với ông Lành mấy lời nhưng cổ cứ nghẹn lại. Tòng nhanh nhảu lay thuốc lá mời hết lượt mọi người rồi trịnh trọng nói với ông Lành:

- Báo cáo đồng chí bí thư thật vinh dự cho xã nhà và may mắn cho chúng tôi đã phát hiện ra cô Nga có giọng hát chèo tuyệt vời. Cô Nga đã được đoàn chèo chuyên nghiệp chính thức tuyển chọn vào đoàn. Báo cáo các đồng chí người có giọng hát được như cô Nga rất hiếm. Mong các đồng chí giúp đỡ... Cô Nga đã làm sẵn hồ sơ...

Tòng quay sang Nga có ý bảo Nga hãy đưa cho ông bí thư tập hồ sơ. Nga vừa định đưa tập hồ sơ đặt lên bàn thì ông Lành vội xua tay.

- Khoan đã - Ông Lành tỏ thái độ buồn rầu - Thật là phiền hà cho các đồng chí mãi từ trên tỉnh về tới đây. Tài năng của cô Nga thì chúng tôi biết từ lâu rồi. Cô Nga là một diễn viên xuất sắc của đội chèo làng Nguyệt Hạ. Từ ngày thanh niên đi bộ đội đội chèo làng Nguyệt Hạ mới tan rã. Chúng tôi cũng đang có ý định thành lập một đội chèo của xã để phục vụ phong trào văn nghệ quần chúng.

Tòng hơi cau mày. Ông Lành ngập ngừng một lúc rồi vẫn giọng buồn rầu.

- Nhưng vấn đề lại không phải là ở chỗ ấy. Chúng tôi không dám giữ cô Nga về chuyện văn nghệ. Có một lý do đặc biệt mà chung tôi không thể cho đi thoát ly được đó là cô ấy đã có chồng. Chồng cô ấy bây giờ đang là bộ đội chiến đấu ngoài mặt trận. Việc cô Nga đi thoát ly bây giờ phải phụ thuộc vào chồng cô ấy. Ai mà nỡ để cô ấy đi văn công trong lúc chồng cô ấy đi đánh giặc. Vấn đề này nó phức tạp lắm đồng chí ạ. Có những việc cữ ngỡ bình thường nhưng nó lại liên quan đến chính sách hậu phương quân đội. Làng xã này không phải mình cô Nga mà có hàng trăm người mẹ người vợ có chồng con đi chiến đấu đấy đồng chí ạ.

- Các ông ích kỷ lắm lạc hậu lắm - Tòng gắt - Người ta có tài chả lẽ bắt người ta đi cấy suốt đời sao.

- Đi cấy cũng là một nhiệm vụ lớn lao của cách mạng - Ông Lành bỗng nổi nóng. Ông vung tay đứng dậy giọng đầy kiêu hãnh - Tôi nói để đồng chí biết nhé quan niệm của đồng chí là xúc phạm là coi rẻ người dân lao động chúng tôi đấy.

- Thôi được rồi việc này tôi sẽ đưa lên huyện lên tỉnh giải quyết vậy - Tòng nói vẻ hăm dọa.

- Đồng chí cứ việc đưa lên Trung ương tôi cũng mặc. Còn cô Nga - ông Lành nhìn thẳng vào mặt Nga nghiệm giọng - Tôi nói để cô biết cô đang là vợ bộ đội. Cô đừng làm điều gì ảnh hưởng đến phong trào ba đảm đang của xã.

Nga bước theo Tòng ra khỏi văn phòng Ủy ban mà lòng rối bời. Tòng giận dữ kéo sầm cánh cửa xe. Chiếc xe lao đi cuộn lên một lớp bụi mù trước cửa văn phòng Ủy ban xã.

- Mẹ cái thằng xã mà ty toe - Tòng ấm ức chửi - Ông sẽ lên huyện bảo tay Đoàn bí thư nó trị cho sặc gạch.

 

More...

Bến không chồng: Chương 13

By DƯƠNG HƯỚNG

 

PHẦN III

13.

Thả đỉa ba ba

Chớ bắt đàn bà

Phải tội đàn ông.

Tiếng hát cười của tụi trẻ con líu ríu chơi trò "thả đỉa" đuổi bắt nhau vòng quanh gốc quéo. Lão Xung ngồi ngất ngưởng trên lưng con chó đá nghe tụi trẻ con hát đi hát lại bài "Thả đỉa". Lão quen miệng lẩm bẩm hát theo thành thử lão cũng thuộc làu làu. Thỉnh thoảng lão lại hát rống lên hai tay chới với khuơ khuơ lên trời. Lão cất giọng hát theo tụi trẻ:

Thả đỉa ba ba

Chớ bắt đàn bà

Phải tội đàn ông

Cơm trắng như bông

Gạo tiền như nước

Đổ mắm đổ muối

Đổ chuối đổ tiêu

Đổ niêu cứt gà

Đổ vào nhà nào

Nhà ấy phải chịu

Lão Xung hát đi hát lại mãi rồi cũng mệt. Tiếng lão lục cục lẫn hơi thở khò khè. Hồi này tối đến lão Xung được thả tự do đi chơi dưới sự giám sát của tụi trẻ nhà chú Xeng. Cũng chỉ tại lão Xung hay lẩn trốn đi lang thang ra bờ sông bờ ruộng. Tụi trẻ cũng thật tinh ranh chúng nghĩ ngay ra sáng kiến buộc chân lão Xung vào con chó đá bắt lão phải ngồi đấy. Con chó đá thì không thể đi đâu được. Thế là tụi trẻ tha hồ chạy nhảy không phải lo lão lẩn trốn nữa. Mọi sự cưỡng bức lâu cũng hoá quen. Ngồi lâu thấy tê hai cẳng chân lão cúi xuống gãi gãi và sờ ngay phải mối dây buộc dưới chân. Lão hý hoáy gỡ được mối dây và bỗng nhiên lão thấy hai chân nhẹ bẫng đi. Lão đứng dậy lững thững ra bến sông con gái làng Đông rửng mỡ rủ nhau ra đứng tình tang cười hơ hớ. Cầu Đá Bạc có hai hàng lan can trước quét vôi trắng bây giờ cũng phải "phòng không" quét nhựa đường đen kịt. Dù có bị sơn đen mọi người vẫn cứ gọi là cầu Đá Bạc hay cầu Đá Trắng. Cũng giống như người ta vẫn cứ gọi đoạn sông này là sông Đình mặc dù ngôi đình Đông đã phá bằng địa từ lâu dấu tích còn lại mỗi hai con chó đá cứ nhe răng ra cười hết ngày này qua tháng khác.

- Chúng mày ngấy đực hay sao mà cười dữ vậy - Chú Đột đang cất vó dưới vạ sông nói vọng lên - Mẹ kiếp chúng mày cười làm cá trong vó tao nó cũng phải sợ co vòi lại.

- Khiếp cái nhà chú Đột nói bậy.

Bọn con gái nhao nhao phản đối.

- Thế mà ngày xưa ông ấy cũng làm được chủ tịch đấy.

- Cũng may là chú ấy làm chủ tịch có ba tháng chứ làm ba năm thì dân làng  Đông thành phản động hết.

- Chú Đột ơi chú mất lịch sự lắm. Chúng cháu đứng ngắm trăng đẹp thế này mà chú lại bảo....

- Ngắm trăng! - Chú Đột hậm hực - Có mà ngắm trai. Nhưng con trai bây giờ cũng đét còn đứa nào ở nhà mà ngắm nên phải ra đây chọc mấy lão già. Rõ dơ chửa! - Đám con gái biết chú Đột cáu nên im thít đứa nào cũng trợn trụa cửa miệng vậy thôi trong bụng cô nào cũng phải công nhận chú Đột nói đúng. Cả làng Đông bây giờ bói cũng chả còn đứa con trai nào nhìn cho ra hồn. Đứa nào không đui què sứt môi tai điếc thì mười bẩy đã đòi khai thêm tuổi để đi khám nghĩa vụ. Cánh con trai làng Đông hiện đang ở nhà đếm trên đầu ngón tay: thứ nhất là anh Nhan ho hen cò cử đi khám nghĩa vụ năm lần bảy lượt đều không đắt ở nhà làm thư ký đội sản xuất. Thứ hai là tay Tẹo chột một mắt được giao chân coi đồng. Thứ ba là Thằng Ngốc chuyên đi gắp cứt trâu. Nhìn mấy sợi tóc lơ thơ trên cái đầu to sụ với cái mũi lúc nào cũng đỏ như sung chín trên gương mặt dị dạng của chàng ngốc ít người đoán nổi năm nay chàng Ngốc bao nhiêu tuổi Ngốc luôn mỉm cười với bất cứ ai. Tất cả các cô gái làng Đông đều đòi lấy Ngốc. Lúc đầu Ngốc tưởng các cô muốn lấy mình thật còn tỏ ra e thẹn nhưng đến khi biết các cô chỉ nhạo mình. Ngốc liền hành động tức thời. "Đứa nào muốn lấy tớ thì cứ cho tớ thơm một cái đã" Ngốc nói và làm thật nhiều cô chạy vãi ra quần Ngốc cũng không tha. Chàng trai thứ tư của làng Đông lúc này còn ở nhà đó là Hân. Như con mắt của các cô gái làng Đông Hân là chàng trai có dáng vóc tuyệt vời to cao khoẻ mạnh mắt sáng nhưng cũng là đồ bỏ đi. Hân là nhân vật đầu tiên đi lính đảo ngũ về làng. Hân về hôm trước hôm sau có giấy về xã. Ngay tối hôm đó cô Thao con út ông Xung là vợ chưa cưới của Hân đã mang trầu cau trả lại gia đình Hân. Dù có chết già gái làng Đông không ai thèm lấy phường đào ngũ. Thà có phải lấy chàng Ngốc còn hơn lấy thằng hèn hạ. Hân không giám ló mặt ra đường từ cái hôm phải đeo tấm biển "ai cũng như tôi thì mất nước" đi diễu trên đường làng. Hân phải chiềng cái mặt trước bàn dân thiên hạ chịu cảnh nhục nhã để tụi trẻ bêu diếu khắp đường ngang ngõ dọc. Vừa đi chúng vừa gõ "phèng phèng" đánh trống khua chiêng gào rõ to:"Ai cũng như tôi thì mất nước".

Từ ngày cống Linh bị máy bay Mỹ ném bom tối đến làng Đông không nhà nào dám thắp đèn ban ngày không ai mặt áo trắng đội nón trắng. Học sinh đội mũ rơm đeo lá nguỵ trang đến trường. Những khóm tre làng Đông đã chặt trụi để ghép hầm kèo ở từng gia đình và các nơi công cộng như uỷ ban trường học sân kho hợp tác. Mọi người luôn sống nơm nớp lo sợ. Đêm đêm có tiếng máy bay từ xa đã phải bật dậy lăn xuống hầm một hai lần. Một tháng hai tháng mọi sự căng thẳng cũng quen dần và bây giờ thì mặc mẹ nó ném bom đâu thì cứ ném việc ngủ cứ ngủ. Người ta sống vẫn cần cái ăn. Muốn có cái ăn cần phải làm việc. Vẫn phải cày cấy ma chay cưới xin giỗ chạp. Các cô gái vẫn thích tình tang tính tang. Có nghĩa là mọi việc vẫn diễn ra những chiếc áo cánh trắng ban ngày không được mặc thì các cô gái mặc vào buổi sáng trăng như tối nay. Đã may rồi chả lẽ để mục rõ phí. Ở lứa tuổi tưng tưng mười chín đôi lăm được vận áo trắng áo màu nom người nó cứ phừng phừng muốn nhảy nhót một tý cho nó tươi đời. Như thời xưa thì tha hồ mà hờn anh nọ dỗi chàng kia giờ thì con gái cứ đầy ra đấy. Chả có ma nào nó nhòm.

Những đêm trăng như đêm nay cầu Đá Bạc là nơi các cô gái làng Đông tụ tập. Mấy ông già mang vó thả kiếm cá nấu riêu. Đến như lão Xung mất trí còn muốn ra đây hóng mát nữa là. Lão Xung được thả tự do là ít khi chịu đứng yên một chỗ. Lão giơ tay giơ chân nhảy múa lội xuống mép sông nghịch nước. Đối với mọi hoạt động của lão Xung bây giờ chẳng ai còn chú ý. Dù lão có để truồng lồng lồng đi trên đường người ta cũng mặc kệ.

- Các cụ ngày xưa cấm kỵ con gái đứng đường - Đột nói với mấy ông cất vó bên mố cống cho bõ tức - Bây giờ các cô gái làng ta lại thích đứng đường. Rõ khổ chưa. Trông cô nào cũng phây phây mà "chống ề".

- Ế chồng mà cũng phải nuôi con một mình như cô Tý Hin em gái chú thì hay lắm đấy.

- Chú Đột ơi! Chú có tính thương người sao chú không đi tìm cái tay đội dựa ngày xưa về cho cái Tươi nhà cô Hin nó nhận bố.

- Bây giờ lão ấy dám vác mặt về đây bố tao mà thấy mặt ông ấy tùng xẻo.

Mấy đứa con gái rõ ác chúng toàn lôi cái chuyện ngày xửa ngày xưa ra làm Đột phải im thít. Chú Đột đang tìm lời chơi lại thì nghe tiếng bủm bủm giữa vó. Các cô gái cười phá lên:

- Ông Đột ơi! Cất vó lên có cá quẫy đấy.

- Mẹ cha đứa nào đáp vào vó tao.

Đột tức quá chửi đổng đám con gái cứ trơ trơ cười rinh rích. Mãi lúc này đột mới nhìn thấy trong đám con gái làng Đông trên cầu còn có một thằng con trai lớn của lão Quỳ thợ ảnh dưới phố huyện sơ tán về làng Đông. Tay Huy thọt nhưng bố con nó làm nghề chụp ảnh hái ra tiền ở đất quê này chẳng có nhà nào được như nhà nó. Từ ngày có cái hiệu ảnh của bố con thằng Huy về đây con gái làng Đông lúc nào cũng hơn hớn tý tởn rủ nhau đi chụp ảnh. Nghe tụi trẻ con kháo nhau thằng Huy láu cá giám bóp vú con gái trong phòng ảnh. Con gái làng Đông đứa nào cũng biết tính ma cô của hắn mà vẫn quấn quýt nghe hắn kể chuyện. Con gái mà nghe hắn kể chuyện tình thì không sao đứng dậy được.

- Huy! Tao bảo ưng đứa nào cầm tay lôi tuột xuống bờ sông í. Để chúng bám anh nhằng nhẵng cả lũ thế kia trông tội lắm.

Đột khoái chí cười vì đã tìm phát hiện ra điểm yếu của đám con gái. Nguyễn Vạn và Hạnh vừa ở trong văn phòng uỷ ban bước ra tới cầu Đá Bạc thấy đám con gái đang cười hơ hớ.

- Giải tán ngay - Vạn quát - Đứng tụ tập thế này là vi phạm lệnh phòng không. Ai về nhà ấy ngủ sớm đảm bảơ sức khỏe. Có sức khỏe mới có sức chiến đấu trên đồng ruộng. Các cô gái bấm nhau về. Nguyễn Vạn nhìn chàng thợ ảnh đứng trơ ra tựa lưng vào thành cầu.

- Tôi nói để anh biết - Nguyễn Vạn nói từ ngày anh về đây anh làm hư hỏng con gái làng này.

Nguyễn Vạn thập thễnh bước đi không thèm nghe anh chàng thợ ảnh lúng búng giải thích câu gì đó.

- Bây giờ cô phải theo dõi quản cho chặt đám con gái làng này - Nguyễn Vạn nói với Hạnh - Cái thằng trai phố huyện về đây thêm rắc rối.

Hạnh đi bên chú Vạn cố nén nỗi xúc động để khỏi oà khóc. Những ngọn tre non hai bên đường vật vờ nghiêng ngả dưới trăng.

- Lúc này mày không vững là hỏng - Nguyễn Vạn an ủi - Đây cũng là nhiệm vụ lớn lao Đảng uỷ giao cho chú cháu mình. Hạnh ơi cháu phải cố nén tình cảm riêng để hoàn thành tốt nhiệm vụ. Anh Hà cháu đã hy sinh anh dũng. Nó hoàn thành nhiệm vụ của người chiến sỹ cách mạng như bố cháu. Bây giờ cháu phải giữ kín chuyện này hãy để mẹ cháu ngủ qua đêm nay. Buổi truy điệu ngày mai cháu phải thuyết phục mẹ cháu vững vàng không được khóc. Phải làm gương cho các bà mẹ khác trong làng Đông ta. Đằng nào thì thằng Hà cũng đã hy sinh.

Chú Vạn an ủi Hạnh càng muốn khóc to tiếng khóc cố nén lại trong cổ làm Hạnh thấy ngạt thở.

- Mày mà cứ thế này thì mẹ mày sẽ đoán ra ngay - Chú Vạn gắt đã bảo là phải bình tĩnh.

- Cháu...cháu không sao bình tĩnh được.

Hạnh bỗng tu lên khóc to hơn.

- Im! im đi ngay! - Vạn rít lên - Thế thì mày phải về đằng mẹ chồng mà ngủ sáng mai về sớm. Để lộ chuyện này đêm nay mẹ mày gào khóc ầm làng ầm nước là mày bị kỷ luật đấy. Chú Vạn nói và lặng lẽ bước đi. Hạnh đứng sững lại gạt nước mắt chạy về nhà chồng.

- Tao tưởng mày ngủ bên nhà - Bà Khiên dậy mở then cửa - Mẹ mày cũng vừa ở đây lúc tối.

- Mẹ con có nói gì không mẹ? - Hạnh hơi chột dạ nhìn mẹ chồng - mẹ mày nghe đâu xã mình đợt này lại có mấy trường hợp báo tử. Không biết thôn mình có ai không? Thằng Hà thằng Hiệp bên nhà và cả thằng Nghĩa lâu nay cũng bặt tin.

- Tất cả những người đi xa mấy ai có thư đâu mẹ.

Hạnh vội bước vào buồng sợ nói chuyện lâu với mẹ chồng không nén nổi cảm xúc lại khóc oà thì hỏng hết việc. Hạnh thấy thương mẹ chồng thương mẹ đẻ và thương cả chị Hồng người yêu anh Hà mấy năm cứ trông chờ anh Hà về để làm đám cưới.

Gần sáng Hạnh thiếp đi và mơ một giấc mơ khủng khiếp. Hạnh mơ thấy có giấy báo tử Nghĩa về xã nhưng họ vẫn giấu Hạnh. Hạnh kêu thét lên ú ớ khóc.

- Mày kêu khóc gì thế hả? - Hạnh giật mình nghe tiếng mẹ chồng hớt hải chạy vào. Bà Khiên nhìn Hạnh bỗng nhiên bà oà lên khóc và ngất xỉu bà ngỡ tai hoạ mẹ Hạnh nói tối hôm qua lại rơi trúng vào nhà này.

- Mẹ! - Hạnh hốt hoảng ôm lấy mẹ chồng - Không phải anh Nghĩa đâu mà là anh Hà con đã hy sinh rồi mẹ ạ. Sáng mai sẽ làm lễ truy điệu. Con nhận được tin từ tối nhưng chưa dám nói cho mẹ con biết...

Sáng sớm chú Vạn đến dẫn Hạnh về nhà mẹ đẻ. Hạnh ngỡ ngàng thấy mẹ đón nhận cái tin khủng khiếp này một cách điềm tĩnh tới mức lạnh lùng. Mặt mẹ chỉ hơi tái đi khi nghe chú Vạn giải thích vòng vèo mãi - Nó đã chiến đấu anh dũng. Chú Vạn nói mắt không dám nhìn chị Nhân - Thấy chị vững vàng tôi yên tâm. Thằng Hà nó đi theo bố nó- một cái chết vẻ vang. Cả buổi tối hôm qua tôi và con Hạnh cứ băn khoăn lo cho chị.

- Thì ra là thế đấy! - Mẹ nói mắt ráo hoảnh không có lấy giọt nước mắt - có nghĩa là nó đã chết thằng Hà đã chết.

- Nó đã hy sinh anh dũng! - Chú Vạn nói.

- Là người mẹ đẻ ra nó tôi đã linh cảm tới điều này từ lâu từ mấy đám truy điệu trước ở làng này. Ngày hôm qua tôi tình cờ nhìn thấy mấy ông trên xã đi qua ông nào cũng liếc mắt nhìn vào nhà tôi. Thế là tôi hiểu ngay có sự. Và đúng cái sự mà tôi đã linh cảm thấy từ lâu.

Nghe mẹ nói Hạnh nghĩ là cái chết của bố ngày xưa đã ám ảnh mẹ. Và Hạnh đâu có ngờ mẹ đã âm thầm khóc cạn cả nước mắt suốt đêm qua.

*
 

Bây giờ cả làng Đông đã biết tiếng súng của ai rồi. Nguyễn Vạn đấy. Ngoài Nguyễn Vạn ra làng Đông đã ai nghĩ đến chuyện ấy...Tối đến Nguyễn Vạn lẻn xách súng ra nằm trên chốc khu lò gạch đổ ngoài bờ sông phục máy bay Mỹ bay thấp. Bọn Mỹ bây giờ cũng quái. Chúng thay đổi chiến thuật từ ngoài biển lao vào bay sát mặt sông mấy trận địa pháp 37 đành chịu. Mỗi lần có máy bay bay thấp y rằng lại nghe có súng AK của Nguyễn Vạn bắn rèn rẹt. Dân làng Đông lo ngại: phản lực Mỹ chứ đâu phải : "chuồn chuồn" của thằng Pháp xưa. Có mà gãi ngứa cho nó. Bố Vạn mà làm nó cùn lên ị xuống một bãi thì chết cả làng. "Ai sợ cứ việc chui xuống hầm". Nguyễn Vạn tuyên bố thẳng vào mặt kẻ nhát gan. Mẹ kiếp ! Nó bay trước mũi mà không bắn thì hèn quá. Trong thâm tâm Vạn quyết chi phải lập được chiến công. Trông nó bay thấp mà thèm. Nó to lù lù như chiếc thuyền biết bay. Hãy đợi đấy !

Nguyễn Vạn cay cú nằm trên trốc lò gạch mắt thao láo nhìn về phía biển. Đêm mênh mông. Những đụn mây đen đang đùn lên từ phía đằng đông. Trời  này dễ mưa rào. Gió nổi lên mặt sông bỗng xao động. Loáng cái cả bầu trời tối đen. Cơn mưa ập đến làm Nguyễn Vạn cuống cuồng. Nước mưa quất vào mặt vào má Vạn tê rát. Nguyễn Vạn xách súng bấm đèn pin đi trong ánh chớp loang loáng. Sấm dậy lên không gian sôi réo sùng sục. Thấy có nhiều cá rô lóc Vạn cởi phăng áo khoác súng vào người vừa đi vừa bấm đèn chộp những con cá rô gói vào áo. Những chú cá rô từ mép nước ngoi lên lách rách lẫn trong cỏ nhiều vô kể. Vạn không ngờ mình lại bắt được nhiều cá rô như thế. Về tới đầu làng Vạn quyết định mang cho chị Nhân một nửa. Đêm tối thế này chả ai biết mà ngại. Nguyễn Vạn lập cập bước vào ngõ nhà chị Nhân không dám bấm đèn. Vạn chạy vào bếp soi đèn nhìn thấy đôi thùng gánh nước. Vạn cười thầm.

- Ai làm gì ở dưới bếp đấy?

Tiếng chị Nhân trên nhà quát làm Vạn bật cười.

- Chị không ngủ à? Vạn đây. Tôi bắt được nhiều cá rô lắm đem cho chị mấy con.

Vạn đổ hết cá ra chiếc thùng gánh nước rồi khoác vội chiếc áo ướt vào người. Mùi cá tanh xộc lên rớt cả nhầy nhẫy bám vào da thịt làm Vạn khó chịu. Vạn vội chạy ra giếng xối liên tiếp mấy gầu nước giếng ấm nóng thấy đỡ lạnh.

- Mưa gió thế này ai bắt tội chú mà khổ vậy - Chị Nhân đã thắp đèn đứng ngấp ngó bên cửa lúng túng như sợ có ai nghe thấy - Chú vào trong nhà đi. Ai lại đứng mãi như giời đầy ở ngoài mưa thế kia.

Nguyễn Vạn quần áo sũng nước nhảy lên đứng trên hè. Chị Nhân vào buồng lấy bộ quần áo của thằng Hà đi bộ đội để lại mang ra đưa cho chú Vạn:

- Chú vào thay quần áo đi không chết rét.

Nguyễn Vạn vào buồng thay quần áo rồi ra ngồi trước bàn. Lúc này Vạn mới thấy thấm lạnh hai hàm răng va vào nhau cầm cập. Ngoài trời vẫn mưa ào ào.

- Cá rô mùa này béo lắm - Vạn nói - Mai chị cứ rán mà chén một bữa cho đã. Chị cho tôi xin ít giẻ lau súng.

Chả nhẽ lại để chú Vạn ngồi lau súng và nói mãi chuyện cá rô. Chị Nhân hơi băn khoăn cảm thấy căn nhà lúc này cứ sáng choang lên trong đêm vắng. Chị nhìn chú Vạn mặc bộ quần áo của thằng Hà nom ra dáng thanh niên. "Chú Vạn không lấy được vợ là tại mẹ" lời con Hạnh lại vang lên trong tâm trí chị. Chị Nhân vừa thương vừa giận lại vừa khó hiểu cái tình kỳ quặc ở chú. Xưa nay chị đã nghe mọi người tán đủ chuyện về chú Vạn. Họ bảo chú là người không có dục vọng ham thích phụ nữ. Không ai nhìn thấy chú vạn tán tỉnh đàn bà bao giờ. Có người lại bảo biết đâu ngày đánh Điện Biên bom đạn nó chả cưa mất cái của ấy rồi cũng nên. Những chỗ kín như thế thì ai mà biết được. Súng đạn nó cũng chả từ chỗ nào trên cơ thể chú bây giờ đầy những vết sẹo nhằng nhịt.

- Chú Vạn này - Chị Nhân nói - Tôi hỏi thật chú có định lấy vợ nữa không đấy? Thời buổi này đàn ông thì hiếm phụ nữ lại đầy ra đấy.

Chú Vạn nhìn chị Nhân như thể chưa bao giờ biết chị. Chị thấy mặt nóng ran chị ngồi nghiêng người đầu ngả về một phía đưa tay vuốt nhẹ mái tóc dài đen mượt. Gương mặt chị Nhân sáng lên miệng tủm tỉm cười nhìn Nguyễn Vạn. Chị cố làm ra vẻ khác thường Nguyễn Vạn chưa bao giờ thấy chị Nhân lại lả lơi như lúc này. Đàn bà rõ kỳ lạ. Nguyễn Vạn chưa bao giờ hiểu rõ bản chất đàn bà. Chả lẽ chị Nhân cũng lại giống mụ Hơn vợ thằng Công? Chả lẽ đàn bà ai cũng thế cả rửng mỡ lên là quên hết mọi chuyện không còn biết giữ gìn nữa. Nguyễn Vạn lấy lại bình tĩnh nói lấp lửng:

- Chị cứ hỏi ngay bản thân chị ấy! Bây giờ chị có dám nghĩ đến chuyện lấy chồng?

- Sao chú lại nói vậy? Tôi đã có con lớn có phúc đã có cháu gọi bà rồi chú cả đời chưa biết phụ nữ là gì. Chú không nghĩ đến lúc chết còn có đứa nó thắp hương.

Chị Nhân lén nhìn chú Vạn .

- Hay là như thiên hạ người ta bảo chú ái nam ái nữ hý hý...chú mà ái nam ái nữ thì buồn cười nhỉ.

Nguyễn Vạn thấy nóng mặt. Cái nhà chị này hôm nay rửng mỡ thật rồi. Chả lẽ Vạn lại nói thẳng ý nghĩ của mình ra trước cmặt chị Nhân "Tôi yêu chị đấy từ lâu rồi chị có dám không". Không! Không bao giờ lại xảy ra điều khủng khiếp ấy. Trên đời này còn bao nhiêu chuyện ràng buộc nào danh dự uy tín...Nguyễn Vạn ngồi lặng đi một lúc rồi đùng đùng nổi giận:

- Đứa nào dám bảo với chị là tôi ái nam ái nữ hả?

Chị Nhân nhìn chú Vạn vẫn hí hoáy lau mãi khẩu súng trên tay chị làm ra vẻ giận dỗi giật lấy miếng giẻ trên tay Nguyễn Vạn ném ra cửa.

- Thôi chú lên giường ngủ đi sáng mai tôi gọi dậy sớm mà về - Chị Nhân  cười xoa dịu ấy là tôi nói đùa chú thế. Không phải thì càng tốt chứ sao.

Chị Nhân vào buồng đi ngủ để mặc chú Vạn ngồi ngây đơ ra trước ngọn đèn dầu trên bàn. Mưa vẫn rơi lộp độp ngoài vườn chuối. Chị Nhân trằn trọc không sao ngủ được. Đêm lại trôi vèo vèo. Mấy con gà trống nhà chị đã vỗ cánh phành phạch cất tiếng gáy vang. Mưa đã tạnh hẳn không gian lặng đi. Chị dậy gọi chú Vạn về cho sớm. Sáng ra chỉ cần ai đó nhìn thấy chú Vạn từ ngõ nhà chị đi ra thì chả còn mặt mũi nào thanh minh trước bàn dân thiên hạ. Đứng nhìn chú Vạn ngon giấc chị Nhân thấy người rạo rực và ngượng ngập với ý nghĩ tội lỗi của mình. Chị cứ đứng lặng trong đêm và nghe rõ tiếng tim mình đập mạnh. Chị ngồi xuống giường run rẩy nắm chặt lấy bàn tay chú Vạn. Chị thấy mặt nóng ran. Chị là người đàn bà xấu xa vô cùng toàn thân chị run rẩy ôm xiết chú Vạn. Chú Vạn sực tỉnh và ú ớ trong giây phút nói câu gì không rõ tiếng. Mấy con gà lại vỗ cánh phành phạch gáy một hồi nữa. Chị thấy hai bàn tay chú Vạn lướt nhẹ trên khắp cơ thể chị. Đã tưởng cái cơ thể của chị nguội lạnh lâu nay giờ bỗng cháy bùng lên rạo rực. Chị thở hổn hển giẫy giụa khỏi vòng tay chú Vạn. Bất chợt cả hai người đều vùng dậy hoảng hốt nhảy ra khỏi giường.

- Từ nay chị đừng có liều thế.

- Tôi cứ nghĩ chú...

Chị Nhân ngượng ngập mở tung cánh cửa. Chú Vạn lập cập bước ra ngõ. Chị Nhân vội chạy theo:

- Chú quên không mang cá về sao?

- Ờ nhỉ!

Chị Nhân xộc vào bếp lấy chiếc rổ nhặt cá:

- Trời! Chú bắt được ở đâu mà nhiều cá rô thế!

- Ở ngoài bờ sông...Mưa đầu mùa cá rô lóc nhiều vô kể.


More...

Khóa luận đạt 9 điểm của Phạm Giang

By DƯƠNG HƯỚNG

Tiếp theo kỳ 1
Trong một lần đi chơi với Vương Nam đã cứu Tuyết khỏi chết đuối khi đang tắm ở ao đình. Tình ngay lý gian mọi người vu cho Nam hãm hại đời của Tuyết. Trong khi sự việc chưa được sáng tỏ thì Nam nhận được giấy nhập ngũ nên buộc phải lễ ăn hỏi với Tuyết mặc dù anh không hề yêu. Và Tuyết người con gái làng Đoài đó đi vào đời Nam như một vết nhơ hằn sâu trong tâm trí của anh. Vào chiến trường Hoàng Kỳ Nam sống và chiến đấu hết mình để giải phóng miền Nam thống nhất tổ quốc. Trong chiến trường do nỗ lực phấn đấu Hoàng Kỳ Nam hai lần Nam được đưa vào danh sách cảm tình Đảng nhưng đều không được kết nạp bởi những lỗi lầm không phải mình gây ra. Lần đầu tiên Hoàng Kỳ Nam buộc phải nhận lỗi thay cho thủ trưởng của mình bởi nếu sự việc mà vỡ lở thì cả đơn vị sẽ mất lòng tin vào chiến đấu. Còn lần thứ hai khi Hoàng Kỳ Nam đang ở đơn vị trực chiến chiến đấu và là đối tượng kết nạp Đảng thì bố Hoàng Kỳ Trung bị bắt anh bị chuyển về "trại tăng gia mãi tít trên rừng xanh núi đỏ" nên cũng không được kết nạp vào Đảng. Sau khi ra khỏi quân ngũ Hoàng Kỳ Nam đi học và trở thành một nhà báo một nhà văn. Từ cầm súng chuyển sang cầm bút Hoàng Kỳ Nam vẫn luôn là một con người có trách nhiệm và lương tâm với chính ngòi bút của mình. Chính điều này dẫn đến cái bi kịch trong nghề của Hoàng Kỳ Nam. Khi vào nghề viết Hoàng Kỳ Nam phải viết theo "sự sắp đặt của ông tổng biên tập"(24 412) và mặc dù không làm trái với nhân cách của một nhà văn nhưng Hoàng Kỳ Nam vẫn cảm thấy bị mất tự do trong sáng tạo nghệ thuật. Cũng chính bởi ý thức tự do tồn tại rất mạnh trong con người Hoàng Kỳ Nam đã thôi thúc làm anh đi đến hai quyết định: bỏ vợ và bỏ nghề làm báo để trở thành người tự do. Đối với Hoàng Kỳ Nam bỏ vợ anh trở thành "người tự do một nửa" và khi bỏ nghề anh thành "người tự do hoàn toàn". Bởi cuộc sống gia đình của anh không hề có hạnh phúc. Tuyết đi vào đời anh là do một sự hiểu lầm là một sai lầm không đáng có. Anh không hề yêu Tuyết. Trong khi đó anh tất cả tình cảm của anh lại hướng về một người con gái khác - Thương Huyền người đến với anh cũng do một sự hiểu lầm của chiến tranh. Tình yêu của anh với Thương Huyền là một tình yêu cũng rất thánh thiện. Nó vượt qua những ham muốn về nhục cảm mà vươn tới sự hòa hợp trong tâm hồn đầy lãng mạn. Trong cuộc sống của con người hôm nay khó mà có thể tìm được những mối tình như thế. Mặt khác Tuyết lại không giữ trọn lòng trung thủy đối với anh trong những ngày Hoàng Kỳ Nam đi chiến đấu. Điều này đã dẫn đến bi kịch trong đời sống gia đình của anh. Còn bi kịch trong nghề của anh là không được viết theo những gì mà trái tim mình mách bảo. Như vậy xét cho cùng Hoàng Kỳ Nam cũng là một nhân vật mang nặng những thế thái nhân tình của thời đại. Những trắc trở những éo le mà nhân vật này vấp phải trong cuộc sống một phần cũng là do những bi kịch của thời đại mang lại đồng thời nó còn bị chi phối bởi tính cách của nhân vật này: con người có trách nhiệm và một tâm hồn tự do. Có thể nói Hoàng Kỳ Nam là một nhân vật đã được nhà văn Dương Hướng "thổi vào cái nhiệt hứng của mình khi viết Dưới chín tầng trời" và "Những kinh nghiệm sống và kinh nghiệm nghề nghiệp tiểu thuyết được nhà văn gửi gắm vào nhân vật này" (15). Có lẽ vì thế mà người đọc thấy thấp thoáng một phần cuộc đời một phần tính cách của nhà văn Dương Hướng trong nhân vật Hoàng Kỳ Nam.
Trong gia tộc Hoàng Kỳ còn một nhân vật không thể không nhắc tới đó là Hoàng Kỳ Trung. Hoàng Kỳ Trung một nhân vật không được coi là thánh thiện như Yến Quyên và Hoàng Kỳ Nam bởi trong nhân vật này còn tồn tại những méo mó và dị dạng trong tâm hồn. Những méo mó dị dạng đó chính là sản phẩm của thời cuộc in dấu lên cuộc đời ông. Đây cũng là một nhân vật mang những bi kịch của thời đại. Là người đi kháng chiến rồi sau đó làm cán bộ cải cách có nhiều cống hiến cho cách mạng nhưng ông không thể nào ngờ rằng gia đình mình lại là nạn nhân của cuộc cải cách ruộng đất. Khi làm trở về gia đình tan nát bởi những sai lầm của công cuộc cải cách nhưng Hoàng Kỳ Trung cũng đành nuốt hận vào lòng và tiếp tục đi kháng chiến. Đối với Hoàng Kỳ Trung đi kháng chiến là để xóa đi cái vết đen trong lý lịch gia đình để cứu lấy gia tộc đồng thời để đứng vững được trước thời đại đầy biến động. Có thể nói đây là một suy nghĩ rất thức thời của nhân vật này. Hoàng Kỳ Trung thấy rõ những rối ren phức tạp trong thời đại mà ông đang sống. Bên cạnh những thành quả lớn lao mà cách mạng đem lại thì những mặt trái của nó cũng vô cùng khủng khiếp. Nếu không biết cách ứng xử thì sẽ bị lịch sử nghiền nát ngay lập tức. Và cách ứng xử của Hoàng Kỳ Trung là phải chịu đựng. Chính điều này đã được ông khẳng định khi nói chuyện với con trai Hoàng Kỳ Nam: "Con ạ làm được người tử tế còn phải nhận biết và chịu đựng được cả lỗi lầm xấu xa tồi tệ của thời đại mình đang sống"(24 346). Dù đi kháng chiến biền biệt nhưng ông cũng thấu hiểu được những mặt trái đang diễn ra trong phong trào hợp tác hóa: nó "như một cơn lũ... cuốn phăng đi mọi thứ của nhà nông đã tích góp từ bào đời"(24 346 ) nhưng ông cũng thấy nếu lao ra chống đỡ cũng sẽ bị nó đánh cho "nhừ đòn". Và cách duy nhất là "phải chịu đựng". Rồi cuối cùng ông đưa ra triết lý: "Thời thế thế thời phải thế"(24 345). Chân lý này đã trở thành minh triết đối với ông. Cũng nhờ minh triết này ông Trung đã "sống sót" qua những tai biến của lịch sử. Không những thế ông còn trở thành người anh hùng của thời đại. Một vị tướng không khuất phục trước sự tra tấn giã man của kẻ thù và giành được rất nhiều chiến công trên chiến trường. Ở trong con người ông Trung tồn tại những phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ cộng sản kiên cường: ý chí sắt đá giữ vững lập trường quan điểm đến cùng có tinh thần bất khuất... Song bên cạnh đó nhân vật này cũng có những khuyết điểm méo mó dị dạng trong tính cách. Có lẽ cái nghiệp nhà binh đã ảnh hưởng rất lớn tới phong cách sống của ông đến nỗi:        "Ông nói câu nào cũng dùng mệnh lệnh. Có lẽ cả khi ngủ với mẹ bố cũng dùng mệnh lệnh"(24 341) hay không cho phép bất kỳ ai "nói ý kiến riêng của mình". Ông là người có lập trường giai cấp đến cùng nhưng cái lập trường giai cấp ấy quá cứng nhắc đã dẫn đến những lẫm lẫn trong cuộc sống. Với ông Trung trong xã hội con người chỉ có hai phía: ta và địch. Nếu họ không ở phía ta thì chắc chắn họ là địch chứ không thể tồn tại một lực lượng trung gian giữa hai bên. Chính cái nhìn xã hội theo hai cực đối kháng đã đưa ông đi vào vết xe đổ của lịch sử lúc nào ông không biết. Ông vội vàng quy kết cho gia đình thương gia Đức Cường là "kẻ thù không đội trời chung". Vô hình chung ông cũng giống như Trần Tăng trước kia khi một mực quy cho bố mẹ của ông là địa chủ. Nếu có khác cũng chỉ là khác ở thời điểm và cấp độ mà thôi. Như vậy với ngòi bút già dặn nhà văn Dương Hướng đã không ngần ngại nêu lên những nét dị thường kỳ quặc bên cạnh những nét ưu tú của nhân vật Hoàng Kỳ Trung. Những dị dạng trong tính cách chính là sản phẩm của thời đại in dấu trong con người Hoàng Kỳ Trung. Một thời đại vừa bi vừa hùng. Ở nhân vật này dù gặp phải không ít những bi kịch trong cuộc đời nhưng với những kinh nghiệm từng trải sau bao năm vật lộn trên chiến trường với triết lý sống "Thời thế thế thời phải thế" cùng cách ứng xử của mình tướng Hoàng Kỳ Trung đã đứng vững sau những tai biến của lịch sử và trở thành nhân vật anh hùng của thời đại. Và mặc dù có những dị dạng méo mó về tâm hồn nhưng ở trong con người Hoàng Kỳ Trung không hề có tính chất "điếm" hay "lưu manh" sau khi ra khỏi "tai nạn" cuộc đời như một số nhân vật khác trong Dưới chín tầng trời. Xét cho cùng Hoàng Kỳ trung là một nhân vật anh hùng.
Bên cạnh Hoàng Kỳ Trung Đào Vương cũng được coi là một nhân vật anh hùng trong tiểu thuyết Dưới chín tầng trời. Cùng trang lứa với Hoàng Kỳ Nam nhưng khác với Nam - một con người thiên sống về nội tâm Vương là một người sống liều lĩnh táo bạo thông minh và có óc phán đoán. Cũng nhờ tính cách đó mà Đào Vương có nhiều sáng kiến hay trong chiến đấu. Những sáng kiến này đã giúp đơn vị của Vương không bị tổn thất về người mà còn là một trong những yếu tố vô cùng quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho quân ta ồ ạt kéo vào giải phóng thành phố trong dịp tết. Bởi thế Vương được kết nạp vào Đảng và được đề bạt chức tiểu đội trưởng. Vương chính là lớp người anh hùng đi sau kế tiếp lớp người đi trước là Hoàng Kỳ Trung. Khi chiến tranh kết thúc Vương trở thành thương binh. Trong chiến đấu Vương là một người anh hùng thì khi trở về vương chỉ là một kẻ tàn phế. Là một người có: "bản tính mạnh mẽ làm gì cũng muốn nổi tiếng tính khí lại ngang tàng sức sống hừng hực dục vọng tràn trề"(24 410) giờ phải "ru rú giam mình trên chiếc xe lăn"(24 489) Vương thấy thật không thể chịu nổi. Một nỗi chua xót mặc cảm trào lên trong lòng người anh hùng trẻ. Không những thế khi trở về quê hương tận mắt chứng kiến những bất công những chuyện thị phi diễn ra ở làng mình khiến Vương cảm thấy đau đớn. Những gì anh và đồng đội của mình phải đổi bằng xương máu và mạng sống để bảo vệ giờ đây đang bị phá hoại bởi những kẻ ở lại. Cuộc đời thật bất công. Là một người không từng trải và chưa có được cái bản lĩnh như Hoàng Kỳ Trung Vương bị cuộc đời "quật" ngã dẫn đến bi kịch. Bi kịch của người anh hùng thời hậu chiến. Đến cuối tác phẩm Vương cũng được bù đắp phần nào khi nhận lại con gái Ngọc Lan và tác giả hé lộ Tuyết - cô chủ tịch xã Chiến Thắng muốn xây dựng lại hạnh phúc với anh.
Trong những người dân làng Đoài có một nhân vật mà ta không thể không nhắc đến đó là Đào Kinh. Đây cũng là một trong những nhân vật được nhà văn Dương Hướng dày công xây dựng. Một nhân vật vừa là nạn nhân vừa là tội nhân của lịch sử. Ở Đào Kinh có sự hòa trộn của cái bi cái hùng cái hài và cả những lầm lỗi của lịch sử. Là một người tứ cố vô thân Đào Kinh xin làm người làm mướn cho nhà Hoàng Kỳ; rồi sau đó khi cuộc cải cách ruộng đất đến bỗng dưng thời thế thay đổi từ một kẻ cùng đinh mạt hạng của làng Đoài Đào Kinh bỗng trở thành một cán bộ cốt cán của cuộc cải cách ruộng đất rồi làm đến cả cán bộ tuyên truyền trong phong trào Hợp tác xã. Nhưng cơn bão Hợp tác xã đã quật cho Đào Kinh một đòn quá đau buộc Đào Kinh phải bỏ quê ra đi. Trong cuộc đời lênh đênh với nhiều bến đỗ hết lần này đến lần khác cứ ngỡ mình đổi đời nhưng rồi lại bị trắng tay. Và cả cuộc đời Đào Kinh cố thoát ra khỏi cái định mệnh của lịch sử của bàn tay quyền lực nhưng không thoát nổi mà đại diện là Trần Tăng. Sau khi bỏ quê ra đi Đào Kinh đã làm mọi việc để thay đổi cuộc đời của mình. Trải qua những tháng ngày khó khăn: bị vào tù vì tội tổ chức vượt biên phải làm bảo kê cho ổ điếm của mẹ con bà Cháo ở biên giới... với ý chí vươn lên Đào Kinh đã ngày càng làm ăn phát đạt và trở thành tỉ phú. Mặc dù là một anh nông dân "chân đất mắt toét" trình độ học vấn thuộc loại i - tờ không biết gì về kinh tế thị trường nhưng nhờ vào tiền của mình Đào Kinh có một đội ngũ quân sư giỏi giang và những đệ tử trung thành giúp ông ta trong việc kinh doanh. Khi tổng kết lại kinh nghiệm làm ăn của mình Đào Kinh đã nói "Làm giàu thời nay trước tiên phải có quyền lực... Bí quyết thành công trong làm ăn nói chung trên đất nước này thuộc về những ai biết khai thác triệt để quyền lực..."(24 76). Như vậy quyền lực ngự trị mọi lĩnh vực cả kinh tế chính trị và xã hội. Nhờ vào quyền lực và tiền bạc Đào Kinh đã thực hiện thành công những vụ làm ăn phi pháp và trở thành biểu tượng của thời đại. Không những thế Đào Kinh còn là nhân vật hiện diện cho nỗi đau sâu kín lâu dài về những u mê   sự mông muội sự ấu trĩ của lịch sử. Chính vì sự mông muội của mình mà Đào Kinh đã cầm súng bắn vào Hoàng Kỳ Bắc người đã cưu mang và đùm bọc mình trong những tháng ngày khốn khó. Rồi khi bắt quả tang Trần Tăng ngủ với vợ mình nhưng không làm gì được cuối cùng vẫn phải mang ơn ông ta. Sự ấu trĩ đó còn thể hiện trong những việc làm của ông ta trong phong trào Hợp tác xã với những trò làm ăn quan liêu sai trái dối trá để lấy thành tích. Như vậy Đào Kinh cũng là một nhân vật có tính cách phức tạp. Trong ông ta vừa có tính chất lưu manh vừa có cả cái thiên lương trong tâm hồn. Vì thế nhân vật này không gây nhiều ác cảm mà vẫn lưu lại những thiện cảm trong lòng của người đọc.
Măng là kết quả của cuộc tình giữa Trần Tăng và nàng Cam của Đào Kinh. Nhờ vào thế lực của bố đẻ Măng từ một cô gái quê nhút nhát hiền lành nhanh chóng trở thành cửa hàng trưởng cửa hàng ăn số một. Những năm sống ở trên tỉnh đã dạy cho Măng biết lợi dụng cái quyền lực của người bố đẻ và cái vốn trời cho của mình để tiến thân. Măng phất lên như diều gặp gió và trở thành một "doanh nhân thành đạt" "một người đàn bà giàu nhất nước Nam"(24). Với dòng máu hừng hực ham muốn và dục vọng của Trần Tăng chảy trong người Măng biết dùng quyền lực để kiếm tiền và dùng tiền để mua quyền lực. Măng được người ta gọi là "Con điếm chính trị" và nổi tiếng là người có thể: "thiết kế một cho một thằng ngu dốt nhảy phóc một phát vào ghế này ghế nọ và cũng sẵn sàng hạ bệ tống khứ một vị bộ trưởng tài ba vào tù hoặc về vườn..."(24 393). Trong mắt mọi người Măng là một người đàn bà có quyền lực và bản lĩnh. Nếu bố Trần Tăng của cô có về nghỉ hưu thì chỗ đứng của cô vẫn vững chắc như bàn thạch bởi cô đã sớm tạo dựng cho mình một thế lực mới che trở cho mình. Như vậy ta tưởng chừng nhà văn sẽ xây dựng nhân vật này sa đọa đến cùng trong lực hút đầy ma lực của đồng tiền và quyền lực. Nhưng không với cái nhìn đầy tính nhân ái với con người đặc biệt với người phụ nữ tác giả phát hiện ra trong sâu thẳm tâm hồn của người đàn bà này những sống một cuộc đời bình dị trong những tình cảm chân thật giữa con người với con người  "Em thực sự buồn chán cứ phải sống mãi trong cảnh giàu sang nhung lụa mà cái tình bạc phếch như vôi..." (24 19). Điều này đã tạo nên tính đa thanh trong nhân vật của Dương Hướng.
Còn Tuyết là một người đàn bà ham danh vọng và lẳng lơ. Để đạt được danh vọng Tuyết sẵn sàng đánh đổi cái quý giá nhất của người con gái. Mặc dù là người phụ nữ đã có chồng nhưng trước cái ánh sáng chói lòa quyền lực của Trần Tăng Tuyết đã bị "thiêu rụi" và ngã vào lòng ông ta một cách tự nguyện. Và Tuyết chính là sản phẩm của Trần Tăng tạo ra. Tưởng rằng Tuyết sẽ là cái bóng của Trần Tăng suốt đời nhưng thật bất ngờ cô đã rẽ sang một con đường khác. Tuyết là một người đàn bà đầy bản lĩnh. Trên đoạn đường đi chung với "người tình to lớn" của mình Tuyết nhận ra những sai lầm của ông ta và rẽ sang một hướng đi khác. Tuyết đã thẳng thắn chỉ ra những sai lầm của Trần Tăng "Ông là một thủ lĩnh dẫn dắt đoàn quân bước những bước đi sai lầm không dễ gì chối bỏ được. Hậu quả đã rành rành thực tế đã chứng minh...."(24 469). Đồng thời Tuyết cũng dám chịu trách nhiệm đối với những việc làm sai trái của mình "Từ ngày ly hôn với Hoàng Kỳ Nam em nhận ra mình là một người đàn bà hư hỏng nên phải trả giá."(24 469). Và cô mong "Cuối đời em lại muốn làm điều gì đó thực sự có ích giúp cho họ (người dân làng Đoài) có được cuộc sống tốt đẹp bù lại những gì lâu nay ta đã làm khổ họ"(24 469). Tuyết là thế hệ sau tiếp nối Trần Tăng nhưng lại có cái nhìn cấp tiến hơn ông ta. Tuyết sẽ là người sửa lại những sai lầm mà Trần Tăng đã gây ra cho nhân dân làng Đoài sẽ là người sửa lại những nỗi lầm những lầm lạc mà con người đã bước qua. Có lẽ cái hay tạo nên giá trị cho tác phẩm Dưới chín tầng trời phải chăng là ở chính chỗ này?
Bên cạnh những nhân vật tiêu biểu nổi hình nổi khối ở làng Đoài như gia đình Hoàng Kỳ gia đình Đào Kinh làng Đoài còn có những nhân vật khác như mẹ con bà Cháo cô Lùn anh Câm Cảo chăn vịt lão Khi... cũng hiện lên rất sinh động mang đậm bản chất của những người dân quê. Mỗi người mang một nét riêng với những cảnh ngộ khác nhau tạo nên sự đa dạng phong phú về nhân vật cho tác phẩm. Đồng thời làm cho tiểu thuyết Dưới chín tầng trời có sức phản ánh sâu tới tận cùng ngõ ngách của làng quê. Những người dân làng Đoài họ đã trải qua biết bao thăng trầm biến động xã hội và dù ít hay nhiều họ cũng mang trong mình những nỗi đau của thời đại. Họ chính là những nhân chứng cho một thời kỳ lịch sử đã đi qua trong cuộc sống hôm nay.
Những nhân vật không phải người làng Đoài.
Dưới chín tầng trời là một bước tiến mới so với Bến không chồng trong bề rộng phản ánh. Nếu Bến không chồng chỉ là cuộc sống của những người dân trong một đơn vị làng - làng Đông thì trong Dưới chín tầng trời đó là một bức tranh toàn cảnh về cuộc sống con người trên khắp mọi miền đất nước trải dài từ Bắc vào Nam. Đó là gia đình thương gia Đức Cường ở Đà Nẵng cô Mai Tàu chuyên buôn bán ở vùng biên giới cán bộ Trần Tăng Thu Cúc... Mỗi người có một số phận một địa vị khác nhau nhưng họ có một điểm chung là đều có mối quan hệ với những cư dân ở làng Đoài. Thậm chí có nhân vật có những ảnh hưởng không nhỏ tới cuộc sống của những người dân làng Đoài là Trần Tăng và Thu Cúc. Mặc dù nhân vật trung tâm của tiểu thuyết vẫn là những người dân làng Đoài nhưng những nhân vật này hiện lên rất sinh động và đầy cá tính. Điều này thể hiện tính phong phú trong hệ thống nhân vật của Dưới chín tầng trời.
Trước tiên ta bắt đầu với nhân vật Trần Tăng. Đây được coi là một nhân vật đầy tâm huyết của nhà văn Dương Hướng. Trong Dưới chín tầng trời Trần Tăng như là một nhân vật đại diện cho cái góc khuất của một nhân vật lớn mà nhà văn muốn hướng tới đó là nhân vật lịch sử. Ở Trần Tăng người đọc dễ dàng nhận ra những  mặt trái những lầm lạc của một thời. Trần Tăng là một con người đầy quyền lực. Cái quyền lực này được thể hiện rõ khi Trần Tăng về làng Đoài thực hiện công tác cải cách ruộng đất: "Sếp đội Trần Tăng như có phép thần thông khiến cả làng đều sợ. Từ lũ trẻ con đến cụ già lụ khụ nhìn thấy thằng Trần Tăng là khúm núm dạ vâng không dám cả nói to.".  Đến cả loài vật cũng phải sợ cái uy quyền của Trần Tăng: " Loài chó hung dữ thế hễ nhìn thấy Trần Tăng là cụp đuôi lủi mất dạng." (24 50). Và con đường để bước tới quyền lực của ông ta gắn liền với những biến động của đất nước: cải cách ruộng đất phong trào Hợp tác xã ở nông thôn cuộc chiến tranh biên giới và cả khi đất nước bước thời kỳ đổi mới...  đã kéo theo biết bao nhiêu số phận bao nhiêu con người không chỉ riêng ở làng Đoài. Những nơi mà ông ta đi qua trên bước đường quan nộ của mình đều bị: "phá tan nền móng gốc rễ làng quê" đời sống của người dân trở nên nghèo khổ đến nỗi có người phải bỏ làng mà đi như mấy mẹ con bà Cháo như Đào Kinh. Rồi khi bỏ làng ra đi những người này vẫn không thoát khỏi bàn tay đầy quyền lực của Trần Tăng. Vì ông ta mà có biết bao nhiêu gia đình phải tan nát vợ phải xa chồng mẹ phải xa con ... Đào Kinh thì mấy lần tưởng đổi đời nhờ làm ăn buôn bán nhưng rồi lại trắng tay mấy mẹ con bà Cháo đang làm ăn ổn định ở vùng giáp biên giới bỗng trở nên bơ vơ mất trắng những gì mà bao nhiêu năm làm lụng chắt chiu đến nỗi phải dùng đến cái vốn tự có để nuôi thân. Không chỉ có thế Trần Tăng còn làm mưa làm gió trên lĩnh vực kinh tế. Nhờ ông ta hậu thuẫn mà một người như Đào Kinh và Măng đã trở thành những mạnh thường quân kinh tế. Không những thế Trần Tăng còn là một con người sống sa đọa và đạo đức "nhếch nhác" (Hoàng Ngọc Hiến) và hứng "đa tình". Thói mê gái đã ăn sâu vào máu của Trần Tăng và trở thành một cái gen trội trong con người ông ta. Mặc dù đã có vợ nhưng chỉ tính ở làng Đoài ông ta đã liên quan tới ba người đàn bà: Yến Quyên Cam và Tuyết. Còn trong cuộc đời danh vọng của mình thì không thể biết được đã có bao nhiêu cô gái đã ngã vào lòng của ông ta. Trần Tăng như một "con quỷ dâm dục" một vết đen trong đội ngũ cán bộ của Đảng. Nhưng trong Dưới chín tầng trời nhà văn Dương Hướng nhìn nhận Trần Tăng ở một khía cạnh khác: "cả ba người đàn bà làng Đoài đã tạo nên tính cách Trần Tăng thâm trầm và dữ dội đắm đuối và si mê"(24 228). Như vậy Dương Hướng không làm cho nhân vật này trở thành tên ác quỷ mà trong những mối quan hệ bất chính đó ta vẫn thấy thấp thoáng ở con người này một chữ tình. Ví dụ như với mối quan hệ với Tuyết ban đầu cũng là những ham muốn về xác thịt nhưng sau đó Trần Tăng thấy quý mếnTuyết mong muốn "Bao kinh nghiệm thu lượm được trong những năm tháng qua Trần Tăng muốn truyền lại cho Tuyết"(24 228) để cô trở thành một "người đàn bà mạnh mẽ có trình độ học vấn và có cả quyền lực..."(24 226). Và trong thực tế Trần Tăng đã giúp cô rất nhiều trên con đường công danh. Không những thế làng Đoài - nơi mà ông đã gây ra bao nhiêu oan trái cũng là nơi ông "gửi gắm tâm lực hơn cả cho mảnh đất và con người" (24 226) nơi đây. Điều này có thể thấy sự phức tạp trong con người của nhân vật Trần Tăng. Ông ta được coi là một kẻ cơ hội kẻ tha hóa sa đọa và đầu cơ về chính trị nhưng bên cạnh đó ta còn thấy tính bi kịch trong con người ông ta. Bi kịch của sự cô đơn lạc lõng. Tuy là một người có quyền lực tột đỉnh đi đến đâu cũng được trọng vọng nhưng ông ta lại cảm thấy rất cô đơn trên đỉnh uy quyền. Là cán bộ cấp cao khi đi ra ngoài quân quyền lộng ai cũng phải khiếp sợ nhưng khi về nhà lại bị bố đẻ và người vợ coi thường. Không những nơi ông ta đi qua chỉ để lại trong lòng dân nỗi hận thù. Ông ta biết những việc làm của mình là sai trái nhưng ông ta vẫn phải làm vì nếu ông ta không làm thì người khác làm còn để lại hậu quả nghiêm trọng hơn. Rồi khi cuối đời Trần Tăng càng thấm thía với cái bi kịch của mình hơn. Khi con người ta gần đất xa trời con người ta thường quay đầu về với tổ tiên làng xóm nhưng với Trần Tăng ông không dám quay đầu trở lại vì sự "ghẻ lạnh" của họ giành cho ông cho những hậu quả mà ông đã để lại trên mảnh đất quê hương của mình. Ngay chính làng Đoài nơi mà ông chỉ "đi qua" người dân ở dường như ai cũng coi ông là một tên quan chuyên hành hạ dân lành. Và cuối cuộc đời của mình khi ông đã từ giã cõi đời sẽ không có ai thắp hương cho ông. Như vậy có thể nói cái bi kịch ở nhân vật Trần Tăng sâu sắc hơn của những nhân vật khác vì ông ta nhận thức được cái bi kịch của mình. Qua những phút sám hối của nhân vật này ở cuối tác phẩm ta thấy rõ sự vận động phức tạp trong con người Trần Tăng. Trong con người Trần Tăng vừa có ác quỷ vừa có cả thánh thần. Và phép biện chứng tâm hồn được nhà văn sử dụng triệt để khi xây dựng nên nhân vật này. Như vậy với độ chín của cây bút luôn hướng mình theo cái Chân - thiện - Mỹ nhà văn Dương Hướng đã cố gắng tìm ra cái hạt ngọc của nhân tính trong cái xấu xa cái tội lỗi. Trong con người Trần Tăng - một nhân vật đại diện những góc khuất lớn của lịch sử với những sự tha hóa trong quyền lực với những lỗi lầm to lớn những trò ma mãnh những mưu mô toan tính quyền lực đã gây ra bao khổ đau cho con người nhưng trong con người tội nhân của ông ta vẫn còn le lói ánh sáng của một chút thiên lương. Qua nhân vật này cái nhìn của nhà văn Dương Hướng đặt ra một cách rõ nét trong Dưới chín tầng trời - một cách nhìn truyền thống của người phương Đông: "thấy Dương trong Âm cái Sồng trong cái Chết cái Dũng trong cái Hèn Phúc trong Họa Thiện trong Ác Tích cực trong Tiêu cực..."(24 513). Một cái nhìn mang tính nhân văn cao cả.
Bên cạnh Trần Tăng thì nhân vật Thu Cúc cũng là một nhân vật có quyền lực rất lớn trong Dưới chín tầng trời. Nhân vật này không có ảnh hưởng trực tiếp và có tầm bao quát đối với người dân làng Đoài như Trần Tăng mà chỉ dừng lại ở một vài con người cụ thể - Hoàng Kỳ Nam. Đặc biệt Thu Cúc lại có ảnh hưởng rất lớn đối với gia đình thương gia Đức Cường. Có thể nói nếu Trần Tăng là người đã gây ra sự đổ vỡ của gia đình Hoàng Kỳ trong cuộc cải cách ruộng đất thì Thu Cúc là người đã phá tan hạnh phúc của gia đình thương gia Đức Cường - một thương gia giàu lòng yêu nước và có công với cách mạng khi đất nước vừa được giải phóng. Là một người có gốc rễ thành phần cơ bản với một lý lịch đẹp và có nhiều chiến công trong cuộc kháng chiến nên sau khi đất nước được giải phóng Thu Cúc được đưa vào vị trí phó chủ tịch thành phố. Quả là một con người đáng nể trọng nhưng nhà văn Dương Hướng không quan tâm đến cái bề ngoài đó mà nhà văn cố đi sâu vào tìm hiểu nắm bắt con người bên trong của nhân vật này. Và con người đó được nhà văn thể hiện ở trong sắc diện cũng như trong hành động của nhân vật. Đối với Thu Cúc sau khi đất nước giải phóng với cương vị là phó chủ tịch thành phố cô đã thực hiện một chính sách cào bằng. Hành động của cô đối với gia đình thương gia Đức Cường cũng gần giống với hành động của Trần Tăng đối với gia đình Hoàng Kỳ chỉ có điều khác nhau về bản chất và mục đích. Cô không coi gia đình Thương gia Đức Cường là kẻ thù không đội trời chung như tướng Hoàng Kỳ Trung nhưng trong con mắt của Thu Cúc gia đình này cũng không khác nào một cái mầm bệnh có hại cần phải nhổ tận gốc. Hay có lẽ những năm tháng sống quá gian khổ trong kháng chiến đã làm cho trái tim cô trở nên băng giá mà sau này cô quên mất con người sống với nhau cần nhất là hai chữ tình người. Để rồi khi trở về với cuộc sống trên một cương vị đầy quyền uy cô coi tất cả những gia đình sống trong sự giàu sang đều là những cây nấm có độc cần phải nhổ mà không cần phải xem xét phân biệt họ là người như thế nào. Với con người này lúc nào cũng là lập trường giai cấp là lý lẽ - cái lý lẽ cạn tàu ráo máng không một chút tình người. Cô đối với nhà thương gia Đức Cường lúc nào cũng như là một người bề trên ban phát sự sống cho những con chiên ngoan đạo của mình lúc nào cô cũng nói là "nhân danh Đảng và chính quyền..." nhưng thực tế có phải như vậy không? Hay chính cô muốn phá tan cái gia đình này để mưu cầu danh lợi riêng cho mình? Và khi đọc Dưới chín tầng trời người đọc không khó nhận ra cái người đẩy gia đình Đức Cường vào bước đường cùng: ông Đức Cường tự tử bà Đức Cường chết theo ông Đức Thịnh trong lúc phẫn uất đã cầm dao đâm người và tự tử trong nhà giam còn Thương Huyền thì bị hóa điên bởi quá tuyệt vọng. Nhân vật thế lực này cũng là nguyên nhân góp thêm vào cái bi kịch trong cuộc đời của nhân vật Hoàng Kỳ Nam. Thu Cúc và Hoàng Kỳ Nam dường như đã trở thành kẻ đối đầu với nhau trước một vấn đề: số phận của Thương Huyền. Một người luôn mong  cho Thương Huyền có một cuộc sống tốt đẹp còn một người lại muốn đẩy cô đi càng xa càng tốt. Trong những tác phẩm viết về đề tài chiến tranh Thu Cúc sẽ vươn lên thành một anh hùng với phẩm chất kiên định giữ vững lập trưởng tư tưởng lập trường giai cấp nhưng trong Dưới chín tầng trời ta thật khó để có thể nói nhân vật này là nhân vật tích cực hay là nhân vật tiêu cực. Điều này tạo nên tính phức tạp của nhân vật trong Dưới chín tầng trời.
Và cuối cùng ta không thể không nhắc tới gia đình thương gia Đức Cường một gia đình cũng chứa chất biết bao nỗi bi kịch của thời đại của lịch sử. Nếu trong phần đầu tác phẩm ta chứng kiến bi kịch của gia đình Hoàng Kỳ là bi kịch của một thời kỳ lầm lạc trong những tháng ngày lần tìm con đường để đến với chủ nghĩa xã hội khi cuộc Cải cách ruộng đất diễn ra ở miền Bắc thì bi kịch của gia đình thương gia Đức Cường lại là bi kịch của chiến tranh và hòa bình. Chiến tranh luôn là một nguyên nhân gây ra những tổn thất mất mát cho con người không chỉ về của cải mà còn cả về máu và nước mắt. Và nỗi đau đó không chỉ tồn tại trong những tháng ngày chiến tranh đang tung hoành mà hậu quả của nó còn kéo theo một vệt dài cả vào những ngày hòa bình. Trong kháng chiến gia đình thương gia đã đào hầm nuôi giấu cán bộ cách mạng ủng hộ cách mạng của cải vật chất trong những ngày cuộc kháng chiến của ta còn gặp nhiều khó khăn rồi khi hòa bình ông hiến hai nhà máy đang làm ăn phát đạt do ông quản lý cho nhà nước hiến cả ngôi nhà cho người cán bộ cách mạng làm trụ sở làm việc trong những ngày đất nước còn gặp nhiều khó khăn khi mới bước ra từ lửa đạn để rồi ông nhận lại được gì? Hay đó chỉ là nỗi tuyệt vọng và những bi kịch cứ nối tiếp ập đến đối với gia đình ông mà nguyên nhân lại bắt nguồn từ những người được coi là cốt cán của cách mạng. Là một thương gia giàu có nhờ vào công việc kinh doanh buốn nhưng gia đình ông thuộc vào giai cấp tư sản dân tộc tuy không danh chính ngôn thuận đi theo cách mạng nhưng những chiến thắng mà ta giành được không thể không kể đến sự đóng góp của những gia đình như gia đình thương gia Đức Cường. Tuy có con trai làm lình cho ngụy quân nhưng Đức Chính chưa bao giờ phải cầm súng ra trận đó chỉ là do hoàn cảnh xô đẩy; đặc biệt người con gái Thương Huyền phải ngủ với cố vấn Bell để hoàn thành nhiệm vụ mà cách mạng giao cho. Khi hoàn thành xong nhiệm vụ nhờ đứa con trong bụng mà Thương Huyền thoát chết nhưng nàng phải bỏ dở công việc vì sự day dứt giằng xé trong tâm hồn khi là kẻ giết cha của đứa con mình. Thế nhưng khi hòa bình lập lại Thương Huyền không nhận được sự cảm thông của mọi người mà đáp lại đó là ánh mắt soi mói của những người cán bộ "kiên định lập trường" như Thu Cúc mặc dù chính họ đã đẩy cô làm vật hy sinh "dưới hai làn đạn ở cả hai phía". Nghịch cảnh đặt ra khiến người đọc phải lặng đi để mà suy nghĩ. Một gia đình thương gia Đức Cường giàu có đức độ kiêu hãnh bao nhiêu có nhiều đóng góp cho cách mạng lại chính là nạn nhân của cuộc cải tạo tư sản. Điều làm ông Đức Cường đau xót là hai nhà máy mà ông quản lý đang làm ăn rất phát đạt khi vào tay chính quyền lại bị thua lỗ nặng và có nguy cơ phá sản. Dù giờ đây nó không phải là nhà máy của ông nhưng cả đời ông đã lăn lộn với nó bỏ nhiều tâm huyết với nó nên giờ đây khi nghe tin dữ về hai nhà máy này lòng ông cảm thấy trào lên một nỗi chua xót như "mất đi một cái gì quý giá". Rồi hai đứa con của ông lại chịu một cuộc đời lỡ dở đã làm ông quá đau lòng. Chứng kiến những nghịch cảnh ngày ngày diễn ra trong khu biệt thự của mình thương gia Đức Cường cảm thấy mình là "kẻ thất bại thảm hại nhất trên đời" vì ông mà "vợ con ông phải chịu khổ" ông không muốn tiếp tục sống nữa. Ông tuyệt vọng...và cuối cùng ông tìm cho mình một con đường giải thoát với lọ thuốc ngủ xinh xinh. Thật đau lòng! Gia đình thương gia Đức Cường chính là nạn nhân của cuộc cải tạo tư sản diễn ra khi đất nước vừa độc lập. Cuộc cải tạo tư sản với những sai lầm tả khuynh ấu trĩ với cái nhìn lập trường giai cấp cực đoan đã đưa đến những bi kịch đẫm máu và nước mắt. Nhà văn Dương Hướng đã cho người đọc tiếp cận lịch sử một cách chân thật hơn. Ngòi bút của ông chỉ tuân thủ theo một tôn chỉ: đó là sự thật. Tuy nhiên dù sự thật của lịch sử có những lầm lỗi những sai trái nhưng con người vẫ có quyền tin và hi vọng một kết cục khác cho cuộc sống về sau. Điều này cũng là mang tính logic khi Thương Huyền được đền bù lại những mất mát mà mình đã phải chịu đựng những sai lầm của lịch sử khi cô tìm được bến bờ hạnh phúc của mình: Hoàng Kỳ Nam.
Ngoài những nhân vật nổi bật như Trần Tăng Thu Cúc gia đình thương gia Đức Cường trong Dưới chín tầng trời còn có những nhân vật như cô Mai Tầu Sáng Hoa Kiều phi công Hall ... cũng nổi lên như những hình khối rất rõ nét. Những nhân vật này ít nhiều cũng chịu những sóng gió những va đập với những biến cố của lịch sử. Và sau khi ra khỏi những chấn động đó những con người này dù có những đổi thay trong tính cách nhưng ở họ vẫn ánh lên những tia sáng của tình người.
Dưới chín tầng trời là cái tâm của người cầm bút đối với làng quê đối với dân tộc. Tuy nhiên không đi theo nối mòn cũ là con đường ca ngợi những chiến công lịch sử của dân tộc mà nhà văn lại hướng ngòi bút của mình xoáy sâu vào những mảng đen sẫm trong mỗi chặng đường lịch sử qua những nhân vật của mình để chứng minh cho một thời quá khứ hào hùng nhưng cũng đầy bi ai. Viết về cái xấu cái ác về những lỗi lầm những sai trái mà con người đã từng bước qua cũng là một cách để khẳng định con người. Lấy phủ định để khẳng định lấy cái Ác để chứng minh cho cái Thiện. Chính vì thế mà mặc dù nhân vật trong Dưới chín tầng trời đều thấm đẫm những bi kịch của thời đại nhưng người đọc vẫn thấy ánh lên một niềm tin vào cuộc sống vào con người.
Nhân vật trong Dưới chín tầng trời rất đa dạng với đầy đủ những tầng lớp khác nhau. Không những thế tính cách của nhân vật cũng rất phức tạp. Đa số nhân vật trong Dưới chín tầng trời rất khó có thể khẳng định họ là người tốt hay xấu trừ nhân vật Yến Quyên ông bà Hoàng Kỳ Bắc. Trong mỗi nhân vật đều có sự đan xen giữa tốt - xấu thiện - ác dũng - hèn... chỉ khác nhau ở mức độ biểu hiện giữa chúng mà thôi. Người đọc rất khó phân định đâu là nhân vật tích cực đâu là nhân vật tiêu cực. Cái ranh giới giữa chúng rất mong manh và mơ hồ. Nó làm cho nhân vật của Dương Hướng trở nên gần gũi với con người hơn thực hơn. Chính điều này đã tạo nên chất dính cho nhân vật trong Dưới chín tầng trời.
Trong 500 trang của tiểu thuyết Dưới chín tầng trời với khoảng 100 nhân vật cứ đan xen nhau đi đi về về hiện thực của cuộc sống được phơi bày một cách chi tiết tỉ mỉ qua những ngã rẽ cuộc đời của từng số phận qua những cơn chấn động của thời đại để rồi khi quay đầu nhìn lại người ta không khỏi bàng hoàng. Một thời kỳ lịch sử đầy hào quang với những chiến công chấn động địa cầu nhưng cũng không thiếu những lầm lỗi trong sự lần tìm đường đi cho mình. Và những lầm lỗi này đã gây ra những hậu quả khôn lường đôi khi phải trá bằng máu và nước mắt. Do đó nhìn một cách tổng quát thì hầu hết những nhân vật này đều là những số phận thấm đẫm những nỗi bi kịch: bi kịch của thời đại bi kịch của những lầm lạc lịch sử như gia tộc Hoàng Kỳ gia đình thương gia Đức Cường Đào Kinh Trần Tăng Tuyết ... Mỗi nhân vật một bi kịch khác nhau nhưng khi ta gom lại sẽ thấy được cái hình dáng của một nhân vật lớn mà nhà văn hướng đến: nhân vật Lịch sử. Hay nói cách khác những bi kịch của lịch sử đã được nhà văn Dương Hướng chia đều cho mỗi nhân vật của mình. Mặc dù thế khi gấp trang sách lại cái dư ba để lại trong lòng người đọc không phải là một cái nhìn bi quan mà là một niềm tin vào con người vào cái tình người ấm áp được bao trùm toàn bộ tác phẩm. Dù có phải trải qua những tai biến dữ dội của lịch sử nhân cách con người đôi khi bị méo mó dị dạng què quặt nhưng con người luôn cố gắng vươn lên không ngừng đấu tranh với cái ác cái xấu để cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. Và đặc biệt cái hạt giống của nhân tính trong mỗi con người luôn luôn trường tồn một cách bất diệt. Có lẽ vì thế hầu hết những nhân vật trong Dưới chín tầng trời của nhà văn Dương Hướng là những số phận bi kịch nhưng là những bi kịch lạc quan. Ta có thể thấy rõ điều này qua các nhân vật như Yến Quyên Hoàng Kỳ Trung Hoàng Kỳ Nam Đào Kinh Đào Vương Thương Huyền Tuyết...

More...

Người đàn ông ở Bến Không Chồng

By DƯƠNG HƯỚNG

 

Người đàn ông ở Bến Không Chồng

Lớn | Vừa | Nhỏ


[Vào lúc : 09:55 - 21/07/2010 | Chuyện mục : Tư liệu văn nghệ sĩ] Tình cờ tôi vào trang lethieunhon.com thấy có bài viết về mình  liền đưa về nhà làm kỷ niệm. Dương Hướng Cám ơn Phùng văn Khai và Lê thiếu Nhơn.


Cuộc đời Dương Hướng cũng lạ thường và thú vị như chính những trang văn của ông. Lứa tuổi ông ai cũng chả có một tuổi thơ dữ dội trong chiến tranh và nghèo đói. Làng Đông - Thái Liên - Thái Thuỵ - Thái Bình hẳn còn hằn vết chân cậu bé Hướng cần cù ít nói nhưng học giỏi. Dương Hướng vào chiến trường khu Bốn những năm 60 chiến trường miền Nam những năm 70 chứng kiến và tham gia những trận đánh ác liệt. Ngày ấy chàng chiến sĩ Dương Hướng mới hơn 20 tuổi và chắc chắn những trang viết sâu sắc về chiến tranh sau này đã được thai nghén từ ngày ấy. Vì thế nó sâu đậm nó hằn rõ những thân phận
và tính cách của mỗi nhân vật. Nó không nửa vời nửa chừng và càng không hời hợt. Ngòi bút Dương Hướng là một ngòi bút quyết liệt dám nói thẳng nói thật kể cả những bi kịch đau đớn nhất của con người của chiến tranh. Đối với ông ngay trong chiến tranh đã có một kỷ niệm thực ra còn hơn một kỷ niệm nhiều nó là một món quà mà tạo hóa đã ban cho ông trong những giây phút thanh bình hiếm hoi giữa hai chiến tuyến người lính Dương Hướng bỗng chốc tìm được nửa phía bên kia một cách chớp nhoáng mà ông không dám coi đó là một mối tình ông chỉ cho rằng đó là một giấc chiêm bao




NGƯỜI ĐÀN ÔNG Ở BẾN KHÔNG CHỒNG


PHÙNG VĂN KHAI

 Trong số các nhà văn có tác phẩm tiêu biểu viết về đề tài chiến tranh tác giả "Bến không chồng" có những quãng thời gian khá dài lặng lẽ đến ẩn mình trong cuộc sống. Đoạt nhiều giải thưởng cao từ tác phẩm được dịch và chuyển thể sang kịch sân khấu điện ảnh phim truyền hình truyền thanh... cũng đoạt những giải cao ít ai biết đến tác giả "Bến không chồng" sau chiến tranh phiêu bạt mãi xuống Hạ Long - Quảng Ninh làm một cái nghề khá đặc biệt - Chống buôn lậu trong cục Hải quan Quảng Ninh. Ông là nhà văn Dương Hướng. Một người con ưu tú của hai vùng đất Thái Thuỵ - Thái Bình và Hạ Long - Quảng Ninh.

 Phà Bãi cháy - Hạ Long - Quảng Ninh giữa thu trời xanh nước xanh nay không còn nhộn nhịp tấp nập xe cộ tàu thuyền xuôi ngược như ngày trước. Phà bây giờ im lìm như một chứng tích lịch sử sau khi đã hoàn thành sứ mệnh của mình trong đạn bom trong thời bình hối hả góp phần lưu thông huyết mạch của đại công trường than Quảng Ninh nay đã được thay thế bằng một cây cầu. Cầu Bãi cháy chiếc cầu tuyệt đẹp của Việt Nam vừa hợp long đang đưa vào sử dụng nằm vắt ngang hai đỉnh núi như một dải lụa trắng bay phóng khoáng giữa mây trời Đông Bắc. Từng đoàn xe cộ như những đoàn kiến ngược xuôi hối hả. Cuộc sống diễn ra bình yên. Bàn tay lao động của con người không ngừng nghỉ. Góp phần vào một Hạ Long xanh đổi mới và phát triển có những người lặng lẽ những thao tác nghiệp vụ kiểm tra chống buôn lậu trên biển của các anh các chị diễn ra cần mẫn. Ngày nối đêm. Không ít khi rất phức tạp nguy hiểm. Đã ba mươi năm ông làm công tác này. Và hẳn nhiên những chủ tàu thuỷ thủ và có cả những tội phạm nữa không mấy ai biết ông là nhà văn một nhà văn từng mặc áo lính. Ông là Nhà văn Dương Hướng từng là một cán bộ xuất sắc của Cục Hải quan Quảng Ninh.

 Cuộc đời Dương Hướng cũng lạ thường và thú vị như chính những trang văn của ông. Lứa tuổi ông ai cũng chả có một tuổi thơ dữ dội trong chiến tranh và nghèo đói. Làng Đông - Thái Liên - Thái Thuỵ - Thái Bình hẳn còn hằn vết chân cậu bé Hướng cần cù ít nói nhưng học giỏi. Dương Hướng vào chiến trường khu Bốn những năm 60 chiến trường miền Nam những năm 70 chứng kiến và tham gia những trận đánh ác liệt. Ngày ấy chàng chiến sĩ Dương Hướng mới hơn 20 tuổi và chắc chắn những trang viết sâu sắc về chiến tranh sau này đã được thai nghén từ ngày ấy. Vì thế nó sâu đậm nó hằn rõ những thân phận và tính cách của mỗi nhân vật. Nó không nửa vời nửa chừng và càng không hời hợt. Ngòi bút Dương Hướng là một ngòi bút quyết liệt dám nói thẳng nói thật kể cả những bi kịch đau đớn nhất của con người của chiến tranh. Đối với ông ngay trong chiến tranh đã có một kỷ niệm thực ra còn hơn một kỷ niệm nhiều nó là một món quà mà tạo hóa đã ban cho ông trong những giây phút thanh bình hiếm hoi giữa hai chiến tuyến người lính Dương Hướng bỗng chốc tìm được nửa phía bên kia một cách chớp nhoáng mà ông không dám coi đó là một mối tình ông chỉ cho rằng đó là một giấc chiêm bao. Nhưng giấc chiêm bao đã cho ông một Dương Hướng con bằng xương bằng thịt mà hai mươi năm sau ông mới biết. Khi biết điều ấy vượt lên trên những rắc rối thường tình ông thầm cám ơn trời phật cám ơn những đồng đội đã khuất.

Cái tạng Dương Hướng viết về chiến tranh luôn là không tiếng súng không ùng oàng nhưng thân phận con người hẳn nhiên được đặt lên trên hết. Từ chàng trai Làng Đông - Thái Bình đến nhà văn Dương Hướng ở Hạ Long - Quảng Ninh tuy thay đổi nhiều nhưng vẫn đồng nhất với nhau về cái chân - thiện - mỹ trong cuộc sống và trong sáng tác. Đó có thể gọi là nhân cách nhà văn một nhân cách không phải có nhiều trong làng văn đất Việt.

 Lao động nhà văn là một lao động tổng hợp   từ khả năng đọc đời sống sống trong đời sống cảm nhận và thể hiện nó ra bằng tác phẩm. Viết văn xuôi còn đòi hỏi một sức khỏe bền bỉ và sự say mê nghề nghiệp. Người cán bộ Hải quan và nhà văn Dương Hướng luôn hòa đồng là một. Lặng lẽ viết và in sách. Nhận các giải thưởng cao nhất của Hội Nhà văn Bộ Quốc phòng tỉnh Quảng Ninh và lặng lẽ ra với biển làm nhiệm vụ của mình  để mưu sinh để thâu nạp đời sống để viết tiếp. Các đầu sách của Dương Hướng từ Gót son Bến không chồng Trần gian đời người Người đàn bà trên bãi tắm Bóng đêm mặt trời... và vừa qua là Dưới chín tầng trời thảy đều mang đậm phong cách Dương Hướng tức là sự lặng lẽ khiêm tốn nhưng bên trong tác phẩm mới là những cái ông muốn nói ra thì rất sâu sắc rất quyết liệt. Quảng Ninh là vùng đất dung nạp người tứ xứ. Những văn nhân kẻ sĩ mọi phương trời hội tụ về đây. Họ quây quần bên nhau sáng tác và công tác. Các nhà văn lớp trước như Nguyên Hồng Võ Huy Tâm đến lớp sau như Lý Biên Cương Hoàng Minh Tường Tạ Kim Hùng Trần Nhuận Minh và Dương Hướng. Dương Hướng ngồi đó khiêm nhường bên các bạn văn. Dương Hướng là vậy im lặng cả trong sáng tác và đời sống. Và bạn bè ông lớn tuổi và nhỏ tuổi đến với ông là đến với tấm lòng gợi mở bao dung chân thật. Dù một thời khó khăn hoặc hôm nay cuộc sống khá đủ đầy vẫn mãi mãi một tấm lòng ấy một tình cảm ấy.

 Sinh năm 1949 tại Thái Bình nhưng lại gắn bó cuộc đời với vùng đất Quảng Ninh. Ông hiện ở chân núi Bài thơ phường Bạch Đằng - Thành phố Hạ Long. Gia đình nhà văn đã vượt qua những ngày khó khăn thiếu thốn nhất để có cuộc sống hôm nay. Vợ ông một cô giáo dạy văn đã ba mươi năm gắn bó với nhà văn sẻ chia những vui buồn và thường chép những trang văn cho ông những trang văn thấm biết bao nhiêu mồ hôi và nước mắt.

 Đạo vợ chồng là nghĩa tào khang sẻ chia và thông cảm. Là nhà văn đương nhiên khi sáng tác sự tập trung vào tác phẩm là cao độ đôi khi quên cả những công việc khác. Nhà văn Dương Hướng khác ông chỉn chu việc cơ quan gia đình và cả văn chương. Hai vợ chồng ông rất hay bàn về sáng tác. Trong các tác phẩm tiêu biểu của ông Bến không chồng đã được dịch ra tiếng Pháp tiếng Anh nhưng chắc ít ai biết những trang bản thảo đầu tiên lại do cô giáo Quy vợ ông nâng niu chép bằng tiếng Việt và hiện nay đang nằm trên giá sách của những người yêu quý văn chương Dương Hướng. Ông luôn có lượng độc giả ổn định của mình đó là những người lính bước ra từ chiến tranh với những bi kịch khác nhau đời sống vật chất tinh thần khác nhau nhưng không bao giờ đầu hàng số phận. Những cuốn sách như đã thay lời nói về ước mơ cuộc sống của họ.
 Bến không chồng một tác phẩm xuất sắc của Nhà văn Dương Hướng viết về đề tài chiến tranh không hề có tiếng súng đã gây tiếng vang trên văn đàn. Câu chuyện xảy ra ở một làng quê Việt Nam với tất cả những tích cực và tiêu cực đến tận cùng bản chất của những lệ làng tập tục hủ tục... Trên cái nền ấy nhà văn xây dựng những tính cách những số phận những bi kịch của cả một thế hệ. Tiểu thuyết đã được đạo diễn Lưu Trọng Ninh đưa vào điện ảnh rất thành công. ở đây tư duy nhà văn và tư duy điện ảnh đã đồng điệu thăng hoa để tác phẩm ăn sâu bám rễ và ám ảnh người đọc người xem nhiều thế hệ.
 Những cảnh phim như những cảnh đời luôn hiện ra trong trí óc nhà văn dằn vặt đớn đau không ít lúc là bất lực. Thân phận con người là mối quan tâm vĩnh cửu của các nhà văn chân chính. Nó là mạch nước ngọt ngào để các nhà văn hòa mình vào đó đi tiếp trong bước đường sáng tạo không mấy bằng phẳng của nghề cầm bút.

 Đời sống thực tiễn luôn là những bãi bồi mầu mỡ để nhà văn sáng tác. Đội kiểm soát chống buôn lậu Hải quan số 2 - Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh nơi nhà văn Dương Hướng từng công tác hơn 30 ròng năm với bao kỷ niệm về nghề về đời đã cho ông một chất liệu đời sống phong phú dày dặn đôi lúc đa tạp kể cả những mặt trái kể cả những nghiệt ngã trong công cuộc mưu sinh. Các đồng nghiệp của ông luôn tìm thấy ở ông sự thương yêu bao dung và tình nghĩa hiếm thấy. Ông sống hòa mình hóm hỉnh và rất có ý thức công việc. Mấy ai biết rằng Dương Hướng rất giỏi nghiệp vụ Hải quan và khi chúng tôi chất vấn rằng ông đã thông đồng với những kẻ buôn lậu bao giờ chưa Dương Hướng phá lên cười cái kiểu cười cũng chả biết thế nào mà lần nhưng có thể đoán chắc một điều ông không bao giờ và chưa bao giờ dung dưỡng cho cái xấu cái ác hoành hành bởi giá trị từ đời sống lương thiện mang lại cho con người đã ngấm sâu vào ông từ cái ngày lẫm chẫm ở làng Đông. Là nhà văn trước hết và trên hết anh phải hoàn thiện cho tốt tư cách nghĩa vụ của công dân của chính mình.

 Đã ở cuối cái tuổi tri thiên mệnh tuổi sung sức chín chắn và nhiều chiêm nghiệm của ngòi bút văn xuôi. Dù âm thầm lặng lẽ cũng đã có nhiều bài báo viết về ông những câu hỏi về đời về nghề dành cho ông. Theo cá tính của mình ông trả lời   tâm sự và có chính kiến rất thẳng thắn còn không ít những gợi mở suy tư chiêm nghiệm. Cái duyên thầm Dương Hướng dù khiêm nhường mấy cũng phát lộ và cái duyên văn duyên giải thưởng vẫn thường xuyên đến với ông như  một sự đền đáp sức lao động bền bỉ của nhà văn nơi cửa biển.

Với một nhà văn khoảng cách từ cuộc đời vào trang viết là một biên giới mềm với những giá trị tương đồng giữa sống và viết giữa đi và đến giữa gieo hạt và gặt hái. Dù ở đâu dù làm gì thì nhà văn vẫn luôn đắm mình trong cuộc sống của nhân dân của những người lao động để từ ấy những ngẫm ngợi những thăng hoa của họ luôn luôn gắn chặt với đời sống nhân dân. Ra đi từ Bến không chồng hiện nay dường như ông đã ra tới biển. Biển cuộc đời và biển văn chương rộng lớn đã thấm những giọt mồ hôi lặng lẽ của người con ưu tú làng Đông.

More...