Rừng vàng biển bạc

By DƯƠNG HƯỚNG

RỪNG VÀNG BIỂN BẠC (trích trường ca)

          Văn Công Hùng
phận người mỏng như lưỡi hàu

          dập dênh trên sóng

          như những chùm hoa biển

          mỏng manh đến tận cùng

          nhỏ nhoi đến tận cùng

-------------------------------------------

          Những bàn tay giơ về phía nửa chừng

          những câu thơ phập phồng trong ổ cứng

          bình minh loang lổ từng dáng cong trên biển

          chân trần bấm choãi bãi ngang


          đất nước tôi rừng vàng biển bạc

          đất nước tôi nhân dân cần cù

          đất nước tôi thông minh bậc nhất

          đất nước tôi núi lớn sông dài

          đất nước tôi củ dong riềng cũng to cũng lớn

          đất nước tôi cái đói cũng trường kỳ

          biển cũng xanh hơn nước biển thông thường

          và trời cũng đẹp hơn điều có thể...


          ba giờ sáng biển một mình lắc gió

          bờ dương xanh thăm thẳm mắt người

          những tiếng thở mệt nhoài  nhễu nhão

          bàn chân bấu cát run run

          những cái bụng lép kẹp nặn mồ hôi vào cát

          lưng song song với trời

          mặt úp

          những con cá bằng ngón tay mắc vào lưới

          quẫy lên giọt sống cuối cùng trong ẩn hiện nụ cười hy vọng

          những đứa trẻ con đang đợi ở nhà

          có thể chúng mong những ổ bánh mì nguội ngắt


          năm giờ sáng bờ biển nghìn nghịt người

          những người béo tốt

          những kẻ nghèo hèn

          dập dềnh vỏ ốc vỏ sò vỏ lon bia vỏ chai rượu ngoại

          nhũng nhịu cả những bao cao su hương táo hương sôcôla

          cả những vỉ viagra đã xé

          những con sứa co mình chờ chết

          tách mây le lói mặt trời

          ban mai ngái ngủ...


          người đàn bà nhặt rác biển

          chị nhặt miếng ăn

          nhặt tương lai

          tất cả những gì nhặt được

          từ những xô dạt biển

          những tấp vào bờ sau bao nhiêu nổi trôi

          những cặn bã những con tàu lạ

          những mỏi mòn năm tháng tháng năm


          ngoài xa biển gào...


          nơi ấy Gạc Ma đất nước mình có những vòng tròn người bất tử

          ưỡn ngực che cho Tổ Quốc

          giơ mặt hứng đạn

          sau lưng là bờ tre ruộng lúa

          là những số phận người kiêu dũng mấy ngàn năm

          sau lưng những là cặp vợ chồng mới cưới

          bỏ ra nhiều triệu để đi tuần trăng mật kiếm chỗ tân hôn để được tự do là trên hết

          sau lưng là những bữa nhậu ê hề sơn hào hải vị

          sau lưng là những thứ trưởng chủ tịch tập đoàn coi đất nước là cuộc đánh bài năm mươi năm mươi thắng thua không cần biết

          sau lưng là mẹ ta chiều chiều vun lá tre đốt cho bình yên xóm ngõ

          là tiếng tàu cau thong thả nhịp trăng liềm

          là hoang dại mắt chị chiều nghĩa trang liệt sĩ

          là môi người ta yêu ngậm nước mắt mỏi mòn...


          phận người mỏng như lưỡi hàu

          dập dênh trên sóng

          như những chùm hoa biển

          mỏng manh đến tận cùng

          nhỏ nhoi đến tận cùng

          cô đơn...

          những chùm hoa nắm chặt tay nhau

          trước hung bạo đại liên pháo nhiều nòng tên lửa

          những khu trục hạm chiến đấu hạm những đầu lâu xương cái

          họ im lặng

          lầm lì

          và hóa...


          đến bây giờ nỗi đau ấy vẫn đau

          gần một trăm chàng trai đang lênh đênh trên những miền gió lạ

          đất không có

          những nén hương không có

          chỉ những chân trời ảo hoặc lơ mơ

          đất không có khói hương không có

          chỉ biển xanh rời rời vô cảm

          òa đau

          đất không có cỗ quan tài không có

          nước biển này có ấm với anh không...


          nếu không có cái video clip... (tác giả tự đục bỏ tám dòng)

          ...có ai mà không khóc

          ai không đau

          ai dửng dưng

          ai giấu nhẹm

          ai cố tình quên nước mắt

          ai đã quên máu đổ Gạc Ma

          ai đã quên máu nhuộm Hoàng Sa

          ai đã quên miền đảo thiêng Tổ Quốc

         

          Biển vẫn bạc vẫn từng cơn vật vã

          trời cứ xanh cứ thắc thỏm muôn trùng

          em cứ đợi những đêm dài vò võ

          thẳm mù xa người cũng mỏi mòn trông

          vầng trăng đưa nôi vầng trăng vẫn thức

          nỗi nhớ thét gào vời vợi biển đông

          những người vợ nghiêng đêm trằn trọc

          gửi nước mắt vào hun hút miền đêm

          giá được hôn nhau một lần thôi rồi chết

          giá được ghì nhau một lát rồi quên

          bao nhiêu giá giá như mình hóa biển

          ôm nhau yêu cho trọn nỗi nhớ dài...


          Ai đặt tên cây là phong ba

          nghe lên đã vọng vang bão táp

          gió mặt trời lấm láp

          tan hoang những giấc mơ thánh thiện

          chẻ tơi bời giấc ngủ

          giã đêm thắc thỏm phập phồng

          những đêm dài không ngủ

          nhà mà có phải nhà đâu

          lênh vênh thủy triều lên xuống

          ngập nghênh chân sóng chênh chao ngày trắng mắt

          xa mờ khơi...

         


More...

Thơ Nguyễn Việt Chiến

By DƯƠNG HƯỚNG



Nhà thơ Tổ quốc và tự do

                   Nguyễn Việt Chiến

  

Sau ba tháng trở về tiếp tục nghề báo tại Báo Thanh Niên tôi được mời đi dự trại sáng tác văn học của Quân đội nhân dân Việt Nam tại Hạ Long tháng 4-2009. Trại sáng tác do Tạp chí Văn nghệ Quân đội phối hợp với Cục chính trị quân chủng Hải quân tổ chức với đề tài sáng tác về " Biển đảo và người chiến sĩ hải quân" với sự tham gia của đông đảo các cây bút sung sức trong và ngoài quân đội.

   Một chuyến đi thú vị với các nhà văn nhà thơ khá nổi tiếng: Khuất Quang Thuỵ Ngô Vĩnh Bình Nguyễn Hữu Quý Đỗ Bích Thuý   Nguyễn Thế Hùng Đỗ Tiến Thuỵ Nguyễn Đình Tú Văn Chinh Dương Hướng Dương Kiều Minh... cùng khá nhiều cây bút trẻ đang được nhắc tới trên văn đàn thời gian gần đây.

   Hôm khai mạc trại sáng tác một sĩ quan cao cấp của quân chủng hải quân đã nói chuyện cả một buổi sáng với các nhà văn về tình hình biển- đảo của chúng ta hiện nay. Có lẽ đã rất lâu tôi và một số nhà văn mới tiếp cận được những thông tin có thể gọi là khá nhậy cảm và nóng bỏng từ nhiều phía về đề tài này. Tôi nghĩ đối với những người cầm bút hôm nay vượt lên trên tất cả các vấn đề thời sự nhậy cảm ấy là tình yêu Tổ quốc. Tình yêu đó được nuôi dưỡng trong tâm hồn mỗi con người Việt Nam qua nhiều thăng trầm và hình như lại đang được khơi dậy trong những tháng năm này.

   Có người cho rằng có thể tình yêu Tổ quốc đồng nghĩa với trách nhiệm công dân của mỗi một con người trước số phận của dân tộc của đất nước mình. Thôi xin hãy bớt nói những điều lớn lao những lời vĩ đại như vậy. Chúng ta là con dân của đất Việt ông cha ta từ ngàn năm trước đã lên rừng đã xuống biển để khai phá dựng xây non nước này. Và biển-đảo ấy là một phần gia tài nghèo khó mà ông cha ta tự ngàn xưa đã không tiếc máu xương công sức để giữ gìn để truyền đời lại cho cháu con hôm nay.

    Đất nước của chúng ta liên miên trận mạc suốt bao đời những nỗi đau thương chiến tranh còn ghi dấu nơi rừng sâu biển thẳm. Và qua nhiều thế kỷ hàng triệu người con ưu tú của dân tộc chúng ta đã dâng hiến tuổi thanh xuân của mình đã vĩnh viễn nằm dưới cỏ để gìn giữ non nước này để mang lại tự do và hạnh phúc cho thế hệ mai sau... Những cảm xúc trên đã bồn chồn thao thức trong tôi suốt một ngày dài ở trại sáng tác Hạ Long. Và "Tổ quốc nhìn từ biển" là bài thơ đầu tiên của tôi sau chuỗi ngày hoạn nạn vừa đi qua.

   Tôi đã vượt được qua nỗi đau đời thường của riêng mình để nghĩ về Tổ quốc để xúc động theo cách một nhà thơ khi cảm nhận tự do trong mỗi ngày đang sống. Không hiểu đấy có phải là điều đáng mừng hay đáng lo bởi bài thơ đầu tiên khi tôi trở lại cầm bút lại là bài thơ viết về Tổ quốc- một đề tài lớn lao đã bao trùm dân tộc này trong suốt ngàn năm giặc giã.

   Và cũng có một điều trùng hợp khá lý thú trong đời thơ của tôi khi cách đây một năm bài thơ "Thời đất nước gian lao" của tôi được Tạp chí Văn nghệ quân đội in trong số tháng 6-2008 vào lúc tôi đang lâm nạn. Tôi chợt nghĩ rằng hình tượng Tổ quốc trong thơ tôi (và trong thơ của nhiều nhà thơ Việt Nam yêu nước) là một chủ đề xuyên suốt qua nhiều tháng năm. Vì thế hôm tôi đi dự trại sáng tác về đề tài biển-đảo ở Hạ Long bài thơ của tôi như một sự cộng hưởng tri âm với các nhà văn quân đội mà tôi yêu mến.

  Dưới đây là toàn bộ bài thơ "Tổ quốc nhìn từ biển" của tôi đã in trên Tạp chí Văn nghệ quân đội số tháng 5-2009 và bài thơ "Thời đất nước gian lao" in trên Tạp chí Văn nghệ quân đội số tháng 6-2008.                                                                

                                                                                                                                              

   Patroling to protect the coast


Được Wehrmacht sửa chữa / chuyển vào 03:14 ngày 12/01/2008

   
Nguyễn Việt Chiến

                  Tổ quốc nhìn từ biển

Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển

Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa

Ngàn năm trước con theo cha xuống biển

Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa

Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc

Các con nằm thao thức phía Trường Sơn

Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả

Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn

Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển

Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng

Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa

Trong hồn người có ngọn sóng nào không

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao quần đảo

Lạc Long cha nay chưa thấy trở về

Lời cha dặn phải giữ từng thước đất

Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi

Đêm trằn trọc nỗi mưa nguồn chớp bể

Thương Lý Sơn đảo khuất giữa mây mù

Thương Cồn Cỏ gối đầu lên sóng dữ

Thương Hòn Mê bão tố phía âm u

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao thương tích

Những đau thương trận mạc đã qua rồi

Bao dáng núi còn mang hình goá phụ

Vọng phu buồn vẫn dỗ trẻ ru nôi

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hiểm hoạ

Đã muời lần giặc đến tự biển Đông

Những ngọn sóng hoá Bạch Đằng cảm tử

Lũ Thoát Hoan bạc tóc khiếp trống đồng

Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo

Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn

Máu đã đổ ở Trường Sa ngày ấy

Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân

Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả

Những chàng trai ra đảo đã quên mình

Một sắc chỉ về Hoàng Sa thủa trước*

Còn truyền đời con cháu mãi đinh ninh

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát

Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời

Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất

Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi

                               (Trại viết Hạ Long 4-2009)

* Mới đây người dân huyện đảo Lý Sơn đã tìm thấy một sắc chỉ của vua triều Nguyễn năm 1835 cử dân binh ra canh giữ đảo Hoàng Sa

More...

Thơ Phạm Xuân Trường

By DƯƠNG HƯỚNG

Dương Hướng tôi đọc mấy bài thơ thấy thú vị xin phép Phạm Xuân Trường và Trần Nhương rước về trang nhà

THƠ PHẠM XUÂN TRƯỜNG
Phạm Xuân Trường
 

            Tát Ao  
Năm năm một lần ta lại tát ao
Cá bé cá to cuống cuồng trong vũng bùn cơ hội
Mè ăn nổi
Trôi trắm ăn chìm
Rô phi náu mình hang hốc
Chép chẳng hóa rồng
Dấu mặt trong bùn
Lươn chạch nằm im
Dưới mặt trời chói lọi
Ta đọc tên các ngươi. 
 
Chó Đá
                    
                    I Đầu làng thì thụp khói hương
Mặt trơ trán bóng gió sương dãi dầu
Chẳng hề được một tiếng gâu
Thản nhiên tọa hưởng cau trầu thế gian

                   II
Trăm năm bia đá thì mòn
Nghìn năm chó đá mặt còn trơ trơ
Bao giờ cho đến bao giờ
Ô hay phận chó mà thờ cũng thiêng.                         

Tịch Điền

Ấy là tôi nói ngày xưa   (*)
Vua đi cày ruộng chắc đùa vậy thôi
Đấng Chí Tôn: Vốn con giời
Có đâu lại khoác áo tơi đi cày...
Nghìn xưa lại thấy hôm nay
Ô kìa! Vua giả cầm cày chìa vôi
Đầu bờ mấy bác bầy tôi
Thay nhau diễn lại trò chơi Tịch Điền
*Câu thơ của cố nhà thơ Nguyễn Ngọc Ly  

More...

Bế giảng lớp tập huấn lý luận phê bình vhnt TW lầnI

By DƯƠNG HƯỚNG

Bế giảng lớp tập huấn bồi dưỡng lý luận phê bình VHNT TW lần I

!0h sáng ngày 3/6/2009 tại Bãi Cháy thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh lớp tập huán bôi dưỡng lý luận phê bình văn học do hội đồng lý luận phê bình VHNT TW tổ chức cho các học viên các tỉnh phia Bắc đã bế giảng. Tới dự có đc Phùng Hữu Phú chủ tịch hội đồng LLPBVHNT TW; đc Nguyễn Hồng Quân phó bí thư thường trực tỉnh QN; và các giáo sư tiến sỹ Hà Minh Đức Trần Đình Sử Đinh Xuân Dũng và cả họa sỹ Trần khánh Chương chủ tịch hội mỹ thuật Việt Nam... cùng các ban ngành hội VHNT của tỉnh Quảng Ninh đến dự.

Lớp tập huấn lần thứ nhất được mở trong thời gian 1 tuần với nội dung tập huấn thảo luận 5 chuyên đề quan trọng đặt ra cho nền vhnt Việt Nam nói chung và cho công tác lý luận phê bình vhnt nói rêng. Trong thời gian học tập các giáo sư cùng học viên đã đươc đi thực tế thăm Vịnh Hạ Long xem triễn lãm ảnh của nghệ sỹ nhiếp ảnh Đỗ Kha xem bộ phim "Đừng Đốt" xem vở kịch "Người tôi yêu" và đọc tác phẩm "Cánh đồng bất tận" của nhà văn Nguyễn thị Ngọc Tư giao lưu gặp gỡ với đồng chí chủ tịch Quảng Ninh Nguyễn Đức Đam tại trung tâm du lịch Tuần Châu. Kết quả trong một tuần với tinh thần trách nhiêm cao của các giáo sư tiến sỹ các học viên đã có được 99 bài thực hành đạt loại khá. Buổi bế giảng diễn ra trong không khí nồng ấm giứa các học viên với các giáo sư tiến sĩ. Lớp tập huấn lần này các giáo sư và học viên đã nhận được sự quan tâm đón tiếp tận tình của lãnh đạo tỉnh ủy ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh.


Dưới đây là vài hình ảnh hoạt động của lớp tập huấn lần này


CẢNH CHỤP TỪ HÀNH LANG LỚP TẬP HUẤN NHÌN RA HẠ LONG


Đ/C PHÙNG HỮU PHÚ CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG LÝ LUẬN PHÊ BÌNH VHNT TW ĐỌC DIỄN VĂN



NGỒI HÀNG ĐẦU TỪ TRÁI SANG:
Đ/C HỒNG VINH ỦY VIÊN HỘI ĐỒNG LLPBVHNT TW
GIÁO SƯ TIẾN SỸ HÀ MINH ĐỨC
NGUYỄN VĂN TUẤN TRƯỞNG BAN TUYÊN GIÁO TỈNH QUẢNG NINH



NHÀ THƠ HỮU THỈNH CHỦ TỊCH HỘI NHÀ VĂN VIỆT NAM NÓI CHUYỆN VỀ  LÝ LUẬN PHÊ BÌNH VHNT


GIÁO SƯ TIẾN SỸ TRẦN ĐÌNH SỬ NÓI VỀ NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN PHÊ BÌNH VĂN HỌC Ở VIỆT NAM


NGỒI TRƯỚC BÀN TỪ TRÁI SANG:
- TRƯƠNG THIẾU HUYỀN PHÓ TỔNG BIÊN TẬP BÁO QUẢNG NINH
- Dương Hướng
Nguyễn Thúy Quỳnh phó củ tịch hội vhnt tỉnh Thái Nguyên


Chủ tịch hội vhnt tỉnh Quảng Ninh Phạm Hồng Cẩm ngồi giữa 2 người nhìn chính diện
tiếp các cán bộ  học viên lớp tập huấn
-


KHÔNG KHÍ GIAO LƯU TRONG BỮA LIÊN HOAN CHIA TAY CỦA HỌC VIÊN
VỚI Đ/C VŨ CÔNG LỰC PHÓ BAN TUYÊN GIÁO TỈNH QUẢNG NINH


Chung

More...

Triển lãm ảnh Đỗ Kha

By DƯƠNG HƯỚNG

Hạ Long Thuyền và Biển
Triển lãm ảnh Đỗ Kha
Vào hồi 9 h ngày 25/5/ 2009 tại tầng 1 trụ sở hội văn học nghệ thuật tỉnh Quảng Ninh 90 Lê Thánh Tông thành phố Hạ Long hội văn học nghệ tỉnh Q N phối hợp với Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh VN tổ chức khai mạc  triển lãm ảnh nghệ thuật của nghệ sỹ nhiếp ảnh Đỗ Kha về đề tài Hạ Long thuyền và biển. Đây là cuộc triển lãm cá nhân có được không khí vui vẻ ấm áp và trang trọng gây ấn tượng tốt đẹp trong giới văn nghệ sỹ tỉnh nhà. Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của nhà nhiếp ảnh đỗ Kha đã gắn bó với vùng trời vùng biển Hạ Long. Tới giờ phút này ông là một trong những tác giả đã thành công nhất sáng tác về Hạ Long huyền thoại.
Dưới đây là một vài hình ảnh về buổi khai mạc triển làm ảnh Đỗ Kha- Thuyền và biển.

Phó chủ tịch hội vhnt tỉnh Quảng Ninh Phạm Thành  đứng bên nghệ sỹ nhiếp ảnh Đỗ Kha đọc lời khai mạc.


Bạn bè đồng nghiệp tặng hoa nghệ sĩ nhiếp ảnh Đỗ Kha

 
- Nghệ sĩ nhiếp ảnh Vũ Văn Cảnh ủy viên Thường vụ Hội nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam đọc lời chào mừng
- Người bạn đời của nghệ sỹ nhiếp ảnh Đỗ Kha


Chủ tịch hội vhnt tỉnh Phạm Hồng Cẩm (Bên phải) và đại diện hội nghệ sỹ nhiếp ảnh Việt Nam cắt băng khai mạc

DokhaHalong

ảnh Đỗ Kha


Cảnh thui thuyền tại Lán Bè xưa
Ảnh Đỗ Kha


Lán Bè xưa
Ảnh Đỗ Kha

Cánh buồm đỏ Bãi Cháy xưa
Ảnh Đỗ Kha


Giăn lưới bắt cá
Ảnh Đỗ Kha


Phơi lưới
ảnh Đỗ Kha

More...

Lam Hạ-một thời tóc xanh máu đỏ

By DƯƠNG HƯỚNG

Lam Hạ - một thời tóc xanh máu đỏ


Ký của Lưu Quốc Hoà

01685083357

Quay phim Nguyễn Bảo và Đạo diễn Đặng Thị Thu Hiền - Đoàn làm phim thuộc Trung Tâm THKTS- VTC4 Thành phố Hồ Chí Minh đang tác nghiệp

Bà Nguyễn Thị Tình và Trương Thị Nhàn Cán bộ trung đội năm xưa

Các chị của tôi giờ đã thành những già làng

Sau hơn 40 năm kể từ ngày diễn ra trận đánh ác liệt trong cuộc chống chiến tranh phá hoại của Mỹ. Bảo vệ tuyến vận chuyển huyết mạch Bắc - Nam tại địa bàn Tỉnh Hà Nam. Cứ vào ngày 1/10 dương lịch. Cả làng Đình tràng có một ngày giỗ chung để tưởng nhớ đến linh hồn các chị nữ dân quân gồm 6 cô gái trẻ hy sinh cùng bộ đội ngay trận địa đầu thôn.
Theo mốc thời gian tính từ 1/10/ 1966 đến nay đã là 43 năm. Khoảng thời gian ấy tính ra đã là non nửa thế kỷ. Dấu ấn chiến tranh đã lùi xa nhưng dư âm hào sảng. Bản anh hùng ca bất diệt vẫn ngân vang trong lòng bao thế hệ đã sinh ra từ mảnh đất Lam hạ anh hùng.

Đi qua cuộc chiến tranh phá hoại. Ngoài sự hy sinh của bộ đội chủ lực. Lam hạ đã mất đi 10 cô gái trẻ tuổi đời từ 16 đến 20. Có chị vừa làm lễ xuất đội 2 hôm đã anh dũng hy sinh. Các chị đã hiến dâng tuổi xuân cao khiết và mộng mơ cho cuộc chiến đấu. Trong 3 trận đánh ác liệt tại địa bàn xã các chị lần lượt nhận lấy sự hy sinh quả cảm. Người trước vừa ngã xuống người sau lại leo lên mâm pháo chưa khô máu đồng đội mà tiếp tục ngẩng cao đầu nhằm thẳng máy bay cho đường đạn phòng không vút lên vít cổ những siêu điện tử Hoa Kỳ.
Theo chân đoàn làm phim thuộc Trung Tâm Truyền hình KTC - VTC4 Thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi dến với Đài Liệt sỹ và Đài tưởng niệm Chiến thắng trên địa bàn xã Lam hạ anh hùng làm phim tài liệu. Gặp lại những nhân chứng lịc sử của trận đánh.
Nhà tôi ở phía sau trận địa và bây giờ là Đài Chiến Thắng của thôn Đình tràng. Tôi có 2 chị gái cùng tham gia trận đánh đó. Cũng tại trận này. Chị thứ 2 của tôi là Lưu thị Mến may mắn bị thương và sống sót. Có thể nói đó là người duy nhất còn lại của khẩu đội 1. Đại đội 6 pháo cao xạ của Tỉnh đội Nam hà ngày ấy. Hiện chị tôi là nhân chứng sống cho trận đánh cùng với vài 3 chị khác phần lớn là ngoài 70 tuổi...Tham gia cung cấp tư liệu cho báo chí và các đoàn làm phim.
Tôi có cô giáo Vũ thi Phương Chủ nhiệm lớp 4c cũng hy sinh tại trận địa...Lần lượt các gương mặt các chi hôm nay lại hiện về nguyên vẹn trong tôi: Chị Nguyễn thị Thu 17 tuổi đang vỡ giọng nên tiếng nói khan khan mặt lấm tấm mụn cá. Chị Nguyễn thị Thi em gái sau chị là thiếu niên vừa xuất đội. Cả thẹn và hay ngúng nguẩy làm nũng các anh các chú bộ đội...Chị Trần Thị Tuyết dong dỏng cao tai đeo khuyên vàng 2 hôm trước còn đi cất vó te với tôi ở cánh đồng Hồng...Nhiều kỷ niệm với các chị lắm. Trong 6 chị hy sinh ngày 1/10/1966 tất cả là người thân của tôi trong một làng ngoại đê đầy tre và ổi. Năm đó tôi 12 tuổi và đang đi học. Thỉnh thoảng theo các chị ra trận địa chơi với các anh bộ đội pháo đứng trên mâm pháo hát và đọc thơ cho các anh các chị nghe. ÔI ! Giá không có chiến tranh. Các chị đã lên bà lên cụ với con đống cháu đàn rồi...Tôi đứng lặng cùng đoàn làm phim mà mhớ về sớm đó. Vâng! Sớm 1/10 năm 1966! Hai ngày sau Tết Trung thu Bính Ngọ...
***********

Đó là một buổi sớm mùa thu bình yên. Sự bình yên đang ẩn chứa bên trong cái khốc liệt của chiến tranh. Buổi sớm như nốt lặng trong bản giao hưởng của cuộc chiến đấu với bầy chim ríu rít tha mồi về tổ. Trên rặng tre đầu làng. Đàn sáo mỏ vàng đỗ vít vổng nhành tre. Nắng hửng và mây bay nhởn nhơ nhàn tản. Trên trận địa Phòng không đầu làng. Những bóng mũ sắt bắt nắng sớm lấp loá bên mâm pháo. Lúa đồng đang vào thì đứng cái và năm đó có dịch vàng lụi nên xã viên ra ra đồng từ rất sớm.
Chiều 30 /9. Chiếc máy bay trinh sát cườg kích A4D như tên kẻ trộm bất ngờ lao qua và nghiêng cánh chụp ảnh cây cầu Sắt và các mục tiêu trong " tam giác lửa" Hà nam. Cũng trước đó mấy hôm. Theo tin tình báo phòng không dự báo là : những ngày đẹp trời tới địch sẽ oanh tạc vào các mục tiêu chiến lược của Hà Nam dọc theo quốc lộ1A. Các lực lượng pháo phòng không đã sẵn sàng vào vị trí chiến đấu. Sẵn sàng tung lửa vít đầu các loại "thần sấm" "con ma". Đón lõng tầm cao có pháo 100 và pháo 57 ly có tầm bắn từ 10 ngàn và 5 ngàn mét. Tầm trung là pháo 37 ly bắn đón tầm bổ nhào cắt bom độ cao 3 ngàn mét. Thấp hơn là 14 5 và 12 7 ly và súng trung liên. Đại liên súng máy súng trường của dân quân tự vệ.
Đóng quân tại đầu thôn Đình Tràng xã Tiên Hoà (nay là Lam Hạ) là một Đại Đội pháo 37 ly thuộc tiểu đoàn 6 pháo phòng không của bộ chỉ huy quân sự Tỉnh Nam Hà. Án ngữ để bảo vệ 3 mục tiêu trong tam giác lửa ( Cầu Sắt - Cầu Ôtô và Cống 7 cửa)
Trung đội nữ dân quân dưới sự chỉ huy trực tiếp của Đại đội trưởng Nguyễn Chí Liêm. Các cán bộ trung đội như Nguyễn thị Tình. Trương Thị Nhàn trước khi vào trận hiệp đồng cùng bộ đội đã luyện tập kỹ để sẵn sằng đảm nhiệm 5 số pháo thủ nếu bộ đội gặp thương vong. Các đội cứu thương tải thương tiếp đạn hậu cần...cũng sẵn sàng vào vị chí chiến đấu...Nhân đân các làng cạnh mục tiêu đều chuyển đi sơ tán. Chỉ để lại lực lượng làm nhiệm vụ trực tiếp tham chiến ở lại. Đúng là một thế trận hiệp đồng của chiến tranh nhân dân "vững như bàn thạch"
Ai cũng nhớ một thời "đường cày đảm đang". Các chị trong trung đội nữ dân quân hôm đó được bố trí làm việc đồng áng gần trận địa để sẵn sàng phối hợp chiến đấu...Cả quê hương Hà nam vào trận ung dung với tư thế của người chiến thắng. Của người làm chủ mặt đất bâù trời...
Nắng đã lên mấy con sào. 6h 15 p . Chiếc còi báo động 6 vòi đặt trên nóc nhà máy Cơ Khí Hà Nam đĩnh đạc cất lên hiệu lệnh báo động cấp 3. Và khi tiếng còi chưa dứt tiếng đã thấy vần vũ trên bầu trời từ tám hướng bốn phương từng đàn máy bay bay vào theo đội hình "bàn tay xoè" . Những tốp phản lực chui ra từ đám mây trắng xốp thi nhau lao xuống cắt bom vào mục tiêu. Theo tin tình báo đây là trận tập kích chiến lược tổng lực để xoá sổ các mục tiêu quân sự chiến lược của Hà Nam. Mỹ đã huy động trên 50 lần chiếc máy bay phản lực cường kích chiến lược. Cất cánh từ Ha Oai. Từ Hạm đội 7. Từ tầu Cô Ren Xi...Từ Cò Rạt ( Thái lan) chia làm nhiều trận nhiều tầng nhiều hướng ồ ạt lao vào công kích.
Những loạt bom đầu tiên như vãi mạ xuống mục tiêu bị pháo phòng không đánh trả đều lạc xuống sông Châu Giang và ra cả cánh đồng. Một vài quả lạc vào làng...Trong giây lát. Cả bầu trời Hà Nam là khói và lửa. Khói bom che lấp mặt trời buổi sớm. Các loại pháo phòng không bảo vệ mục tiêu khạc lửa hất từng tốp lên cao để không thể định dạng tầm bổ nhào mục tiêu. Đúng là một trận chiến đấu với "mưa bom" và "bão đạn"...
Trung đội nữ dân quân thôn Đình Tràng hôm ấy phần lớn đã ra đồng. Một số chị còn luấn quấn lợn gà thay cha mẹ đem em đi sơ tán. Có chị còn ăn nốt củ khoai hay bên giá ngô rang còn nóng. Có chị đang thêu rở chiếc khăn tay để tặng bạn trai sắp lên đường nhập ngũ...Sau hồi còi báo động tất cả các chị đều bỏ rở công việc. Con trâu đang rở luống cày chưa kịp tháo ách. Gánh phân đặt giữa đường. Cái cuốc cái cào quăng ngang ngõ...Tất cả là nhiệm vụ chiến đấu. Tất cả lao ra trận địa trong khói đạn khói bom bịt bùng . Những bóng áo nâu chân đất các chị như những con thoi lao vào cuộc chiến đấu thứ nhất. Người nào vào vị trí ấy theo bàn tay đạo diễn vô hình nhưng đã được bài binh bố trận qua 3 năm chống chiến tranh phá hoại và đã tham chiến gần 100 trận đánh.
Sau loạt bom thứ nhất. Làng xóm nhiều góc đã tan hoang cây đổ. Trên đường đê 493 cột cao thế gãy và dây đứt. Xã viên ra đồng mấy người bị thương. Có bà lòi cả ruột phải lấy bát tộ úp lại rồi cáng về nơi cấp cứu (cụ Hai Thực). Có những em đi hôi cá ao bom tiện đứt chân mà không tìm lại được (anh Nguyễn văn Quỳnh bây giờ)...Làng Đình Tràng hôm ấy đón nhận sự khốc liệt của chiến tranh như một dây đàn căng quá cỡ...
Cứ thế! Cứ thế...Chỉ sau vài chục phút vào các thời điểm 6h45 - 8h32 - 9h20 - 9h34 Các trận chiến khốc liệt liên tiếp diễn ra. Pháo chưa kịp thay nguỵ trang. Có nòng pháo đỏ như trong bễ rèn. Bộ đội và dân quân chỉ kịp dùng khăn ướt rồi té nước làm nguội để đón lõng trận sau. Còn pháo còn người là còn bảo vệ được mục tiêu . Câu khẩu hiệu ấy vang lên trên 4 khẩu đội đang sẵn sàng nghênh chiến. Tranh thủ lúc ngừng tiếng súng. Các chị dân quân vừa củng cố trận địa vừa chuyền tay nhau ca nước. những gương mặt sạm đen khói súng mỉm cười nhìn nhau. Chỉ có con mắt như những đốm lửa cháy lung linh. Truyền sức mạnhj cho nhau để vào trận mới.
10h5 phút lại vào trận. Hai khẩu đội áp mạn đê 493 hạ thấp nòng pháo quay hướng bắc đón bổ nhào. Từ hướng Tây. Một tốp lao vào cường kích trận địa hoả lực. Loạt bom và loạt rốc két đầu tiên đã rơi trúng vào 2 khẩu đội trên sườn đê
Khói bom bao phủ trận địa làm các khẩu đội không nhìn thấy nhau. Chỉ vài tích tắc thôi bao bộ đội và dân quân đã anh dũng ngã xuống. Phần lớn là hy sinh tại trận. Riêng khẩu đội 2 bị thương vong hoàn toàn cả bộ đội và dân quân. Một quả rốc kéy xuyên thẳng vào càng pháo. Hất cả pháo lẫn người văng ra ngoài. Những thi thể mười chín đôi mươi không còn nguyên vẹn. Riêng chi Trần Thị Tuyết mất đầu và mất tay. Đội cứu thương bì bũng mò trong hố bom và tìm lại được. Người ta phải đắn đo xem tay nào chân nào là của nam hay của nữ. Hai cán bộ chủ chốt là anh Nguyễn Văn Trọng Chính trị vên Huyện đội Duy Tiên và bí thư Đảng Ủy xã Đặng bảng Nhãn trong khi chỉ huy chiến đấu cũng hy sinh tại trận.
Trong trận này có hai chị em gái là Nguyễn thị Thu và Nguyễn Thị Thi cùng ở hai khẩu đội bị thương vong. Anh Nguyễn Văn Thái xạ thủ trung liên thấy cả hai em bị thương liền lao vào bế lên. Chị Thu gạt anh trai và bảo: Anh về vị trí chiến đấu đi. Ở đây đã có cứu thương...và sau đó một lúc là tim ngừng đập. Chi Thi bị bom cưa mất chân khi lên cáng còn dặn anh Thái: Em chết mất. Anh ở lại chăm bố mẹ và trả thù cho em...Đấy là lời nói cuối cùng của các chị trước khi vĩnh viễn mất đi sự sống. Dâng hiến tuổi xuân cao đẹp cho cuộc chiến đấu vì độc lập tự do. Lời nhắn gửi của các chị nhiều năm tháng qua đã là cảm hứng bất tận cho văn chương và thi ca. Tên tuổi các chị đã đi vào lịch sử quê hương Hà Nam kiên cường bất khuất.
Vậy là buổi sớm đó vào hồi 10h15 phút làng xóm vĩnh viễn mất đi 8 người con. Ngoài 6 chị là Nguyễn thị Thu - Nguyễn thị Thi - Đinh Thị Tâm - Trần Thị Tuyết - Phạm thị Lan - Vũ Thị Phương còn có anh Đỗ văn Dục và Phạm Ngoc Giao. Hai nam dân quân đã có vợ con cũng cùng hy sinh tại trận địa. Các anh đều có vợ mọn con thơ. Tôi không thể quên hình ảnh lúc hạ huyệt anh Giao. Lũ trẻ đứng ngơ ngác không hiểu điều gì xảy ra. Chính tôi còn phải dục con anh: Chúng mày khóc bố đi. Đứa lớn quay lại ngơ ngác hỏi tôi: Khóc cái gì cơ chứ. Tôi gào lên : Bố mày chết rồi. Người ta đang chôn đấy...Chúng không khóc và mắng tôi nói láo. Tối bố sẽ về.
Cả Cô giáo Vũ Thị Phương của tôi nữa. Ngày ấy cô phụ trách lớp 4C và cử tôi làm quản ca cho lớp. Bốn hôm trước khi hy sinh. Cô dạy cả lớp bài "Trồng hoa bên đài liệt sĩ" dạy nửa chừng có lệnh báo động . Cả lớp chia nhau vào hầm. Tôi ngồi cùng hầm với cô. Chẳng biết có phải điềm gở không cô bảo: " Dạo này ác liệt quá! Nếu cô chết em thay cô dạy nốt bài hát này cho cả lớp nhé" ...Sau khi cô mất. Lớp 4C như gà lạc mẹ. tứ tán chia vào các lớp khác và chính tôi đã thay cô dạy nốt bài hát cho lứa học sinh hôm nay đã lên ông lên bà. Hội đồng niên chúng tôi cứ vào dịp giỗ cô lại hát bài này và vỗ tay theo nhịp của tôi...Nhiều người nhin lên ảnh cô mà khóc
Lam Hạ quê tôi vào trận là thế! Không những làng Đình Tràng mà hai làng bên là Đường Ấm và Hoà Lạc những trận tiếp theo. Cũng những cô gái trẻ như thế lại ngã xuống bên mâm pháo đó là các chị Trần Thị Thẹp Chi Nguyễn Thị Oánh chị Nguyễn thị Thuận và Nguyễn Thị Chung Riêng Chị Oánh vừa qua tuần trăng mật. Sau khi chị Oánh hy sinh chồng chị xung phong đi bộ dội. Một năm sau chồng chị anh Nguyễn văn Chắc cùng đơn vị pháo 57 ly về tại quê hương chiến đấu cũng hy sinh tại trận. Hiện hai ngôi mộ của đôi vợ chồng trẻ chôn cạnh nhau tại đài Liệt sĩ xã Lam hạ anh hùng.
Vậy trên mảnh đất Lam hạ đau thương và anh dũng trong cuộc chiến tranh phá hoại đã có 10 cô gái hy sinh. Cũng như các cô gái Đồng Lộc. Các chị đã ý thức đầy đủ về sự hy sinh của mình trước khi vào trận. Những vì sao hết mình toả sáng cho mục đích của cuộc chiến đấu.
Các chị xứng đáng là những anh hùng của quê hương Lam hạ.
Xin Cám ơn sự có mặt của Đoàn làm phim thuộc Trung Tâm Ytuyền hình Kỹ thuật số VTC4 - TP Hồ Chí Minh. Bằng sự đam mê nghề nghiệp. Bằng trách nhiệm cúa thế hệ hậu chiến. Các anh các chị đã tái hiện cuộc chiến đấu trên quê hương Hà nam anh hùng. ..Mong dự án khu tưởng niệm tâm linh Lam hạ được triển khai nhanh chóng để nhân dân cả nước cùng với nhân dân Hà Nam tôn vinh một truyền thống tốt đẹp. Để cháu con muôn đời tiếp bước truyền thống xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

More...

Phạm Quỳnh thật ra là người như thế nào?

By DƯƠNG HƯỚNG

Bài viết này tôi đọc trên trang vanchinh.nét của nhà văn
Văn Chinh thấy cảm kích nên đưa về trang nhà làm tư liệu.

Phạm Quỳnh thật ra là người như thế nào?
PDF. In Email
Không ghi tên   
Thứ bảy 16 Tháng 5 2009 22:59

Hơn nửa cuối thế kỷ XX và vài năm đầu thế kỷ XXI câu trả lời công khai thường ngắn gọn đến tàn nhẫn: Phạm Quỳnh là kẻ bán nước là tên tay sai đắc lực của thực dân Pháp.

Nhưng ngay từ những năm 1940 Vũ Ngọc Phan đã đánh giá cái công xây dựng Quốc Ngữ buổi đầu của Phạm Quỳnh không phải là nhỏ và hết lời ca ngợi tài năng cùng cống hiến của ông cho văn hóa nước nhà. Đầu những năm 1970 Nguyễn Công Hoan công khai tiết lộ trong cuốn Đời viết văn của tôi là ông đã viết kiệt tác Kép Tư Bền do thương Phạm Quỳnh chỉ vì yêu nước mà phải mang nhiều tiếng xấu. Nhà văn hóa Nam Bộ Vương Hồng Sển thì gọi ông là Người đáng làm Thầy còn hỏi vì sao Cách Mạng lại đi giết cụ Phạm Quỳnh cứ để cụ ấy sống có phải còn có nhiều cái mà học không. Gần đây đầu thế kỷ mới nhà văn Sơn Tùng chuyên viết về Hồ Chủ tịch đã cho công bố tư liệu về Mối thân tình giữa Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh và Phạm Quỳnh và gọi ông là bậc danh nhân văn hóa. Còn nhà văn Nguyên Ngọc thì đánh giá ông là một trong mấy người khổng lồ ở nước ta đầu thế kỷ XX.
 
Phạm Quỳnh sinh năm 1893 tại Hà Nội trong một gia đình bốn đời đều là nhà nho nghèo. Chín tháng mất mẹ chín tuổi mất cha được bà nội cưu mang rau cháo nuôi cháu qua ngày. Lớn lên một chút thì bà lo tìm toàn những chỗ học không mất tiền để Phạm Quỳnh theo học. Từ trường tiểu học Pháp Việt phố Hàng Đào ở gần nhà (số 1 phố Hàng Trống) đến trường Thông Ngôn ở bờ sông Hồng hơi xa chỉ toàn cuốc bộ đi học. Năm 1908 trường Thông Ngôn nhập với trường Thành Chung Nam Định thành trường Bưởi (tức trường Chu Văn An sau này) thì vừa lúc Phạm Quỳnh đỗ thủ khoa khóa đầu tiên trường Bưởi.
 
Năm ấy Pháp đàn áp Đông Kinh Nghĩa Thục Phạm Quỳnh cùng bạn bè yêu nước lại hiếu học tham gia biểu tình phản đối. Bị bắt giam một ngày một đêm sau được thả vì còn trong tuổi vị thành niên: Mới mười lăm. Rồi do đỗ cao Phạm Quỳnh được tuyển ngay vào làm nhân viên trường Viễn Đông Bác Cổ một cơ quan nghiên cứu khoa học về Đông Dương của Pháp. Năm 1913 mới 20 tuổi Phạm Quỳnh đã nổi danh là nhà báo sâu sắc độc đáo uyên thâm qua những bài ông gửi đăng trên Đông Dương tạp chí. Ông đặc biệt ham mê chữ quốc ngữ say sưa tìm về cội nguồn dân tộc miệt mài đọc các tài liệu cổ sẵn có trong kho cơ quan này. Nên năm 1917 24 tuổi ông chớp ngay lấy thời cơ nhận làm chủ bút phần quốc văn trong Nam Phong tạp chí. Có phương tiện trong tay ông thỏa sức thi thố tài năng chiêu mộ nhân tài cùng chung chí hướng yêu nước thương dân mong cho dân sớm có cái chữ mở mang đầu óc hòng không thua kém người. Thời gian làm báo này năm 1922 ông đi Pháp dự Đấu Xảo Thuộc Địa ít nhất cũng ba lần gặp và bàn việc nước với Nguyễn Ái Quốc Phan Châu Trinh Phan Văn Trường Nguyễn Văn Vĩnh v.v... Nguyễn Ái Quốc còn chủ động cho làm cơm Bắc mời Phạm Quỳnh đến nhà cùng trò chuyện tối đến lại rủ nhau đi xem thành phố Paris trước ngày hội lớn quốc khánh 14 tháng 7. Năm 1925 được tin Phan Bội Châu sắp bị đưa ra xử ở Hội Đồng Đề Hình Hà Nội ông đã viết bài trên báo tiếng Pháp nhằm người đọc là người Pháp cầm quyền ở chính quốc và ở Đông Dương yêu cầu khoan hồng cho nhà chí sĩ. Sau đó Phan Bội Châu đã được miễn mọi tội chỉ bị quản thúc ở Huế. Thời gian này Phạm Quỳnh tối tối thường đến thăm và giúp đỡ về vật chất cho đến khi Phan Bội Châu qua đời.
 
Ngày 8/1/1945 Khâm sứ Trung Kỳ Haelewyn đã gửi "phúc trình tối mật" cho toàn quyền Decoux và đại tướng Mordant tố cáo Phạm Quỳnh đe dọa sẽ kêu gọi dân chúng nổi dậy nếu Pháp không trả quyền cho Việt Nam cai quản Bắc và Trung bộ.
 
Sau Nhật đảo chính Pháp 29/3/1945 Phạm Quỳnh từ quan về ở ẩn tại nhà riêng bắt đầu trở lại với văn học mà ông hằng yêu mến: dịch 51 bài thơ Đỗ Phủ và viết dở dang tập Hoa Đường tùy bút-Kiến văn cảm tưởng I.
 
Trưa 23/8/1945 có mấy sinh viên trường Thanh Niên Tiền Tuyến Huế đến "mời ông lên Ủy ban Cách mạng làm việc". Ông nhanh nhẹn ra đi. Rồi đêm 6/9/1945 thì ông bị thủ tiêu khoảng 1 giờ khuya tại khu rừng Hắc Thú vắng vẻ gần Hiền Sĩ Thừa Thiên Huế.
 
Sau này nhà thơ Huy Cận trong phái đoàn chính phủ vào dự lễ Bảo Đại thoái vị và trao lại ấn kiếm có nghe dân Huế xì xào nhiều về chuyện này. Về tới Hà Nội ông đã thuật lại với Bác Hồ thì: "Bác thở dài nắm tay tôi và nói "Đã lỡ mất rồi!""
 

More...

Những tấm ảnh cũ

By DƯƠNG HƯỚNG

« Trước | KHÁT VỌNG NHỮNG MÙA TRĂNG vanconghung | 15 May 2009 16:36 | THỬ BÌNH THƠ | (104 Reads)           Trong mỗi chúng ta đều có một "thằng bé" ấy bên mình. Nó tre pheo luồng nứa nó nhuôm nhoam đất cát nhưng nó cũng trong veo tinh khiết và cao sang đến kỳ lạ. Nó vừa ngọt ngào mơ mộng nhưng cũng nghiêm khắc dõi nhìn và nhờ "thằng bé" ấy mà chúng ta lớn lên

--------------------------
            NHỮNG TẤM ẢNH CŨ

                                   HƯƠNG ĐÌNH

      Tôi bây giờ đối diện tôi ngày ấy

      Người đàn ông nhìn đứa trẻ lên mười

      Có sợi rốn dây diều kia nối trời với đất

      Cậu bé đồi hoang lò cò

                      dõi theo người đàn ông bay đến nghìn sao.

      Giờ tôi muôn màu

                    tìm tôi xưa đen trắng

      Người đàn ông áo vàng về thắp lên ngọn nến

      Mà cậu bé đi rồi

                         đi về phía những mùa trăng.

      Giờ tôi nguyên vẹn hình hài

                          nhìn tôi xưa nhoè khuôn mặt

      Cậu bé cắn tay đứng nhìn

               cánh diều vương trên những tháp tầng cao

      Và đêm ấy trong giấc mơ thị thành tôi

                                      những cột đèn chằng chịt

      Bỗng hoá thành bờ tre nhỏ lao xao.

-------------------------

KHÁT VỌNG NHỮNG MÙA TRĂNG

          Con người ta luôn có ý thức tìm về ký ức tìm về tuổi thơ tìm về những ngày đã mất. Cái ý thức "tìm về" ấy nó thường trực trong mỗi người giúp người ta cân bằng trong đời sống giúp người ta hướng thiện neo giữ bản ngã trong cái xô bồ hiện tại. Ở đây nhà thơ trong một lần "tìm về" ấy đã bắt gặp tuổi thơ của mình ký ức của mình và bắt đầu một cuộc so sánh tự vấn.

          Cái sự được mất ở đời nhiều khi cũng chả thể định lượng định tính định danh định hình được. Có cái tưởng như là được đấy lại là mầm tai họa có cái tưởng mất mười mươi lại là điều may. Cuộc đời nhiều khi có những điều không bao giờ lý giải được như thế.   "Tôi bây giờ đối diện tôi ngày ấy/ Người đàn ông nhìn đứa trẻ lên mười/ Có sợi rốn dây diều kia nối trời với đất/ Cậu bé đồi hoang lò cò dõi theo người đàn ông bay đến nghìn sao". Thì cứ ngỡ như lớn lên trưởng thành là đương nhiên là nghĩa phận an nhiên tự tại té ra lại phải giằng xé đến thế nuối tiếc đến thế có chút gì như xót xa thân phận. Trong mỗi chúng ta đều có một "thằng bé" ấy bên mình. Nó tre pheo luồng nứa nó nhuôm nhoam đất cát nhưng nó cũng trong veo tinh khiết và cao sang đến kỳ lạ. Nó vừa ngọt ngào mơ mộng nhưng cũng nghiêm khắc dõi nhìn và nhờ "thằng bé" ấy mà chúng ta lớn lên tiếp: Giờ tôi nguyên vẹn hình hài nhìn tôi xưa nhoè khuôn mặt thực ra là một cách nói chứ cái hình hài vẹn nguyên bây giờ chắc gì đã "tròn trịa" hơn cái khuôn mặt nhòe nhoẹt xưa.

          Hương Đình là một giọng thơ đang vừa ổn định vừa mới. Anh ổn định trong cái nền vốn liếng của những hình ảnh câu chữ vừa nền nã vừa vang vọng vừa ảo vừa thực và mới trong cách suy nghĩ tiếp cận tư tưởng nghệ thuật. Vấn đề của thơ anh là những vấn đề muôn kiếp của văn chương của con người nhưng cách tiếp cận thì nó chỉ của anh mà thôi. Giờ tôi muôn màu  tìm tôi xưa đen trắng/ Người đàn ông áo vàng về thắp lên ngọn nến/  Mà cậu bé đi rồi đi về phía những mùa trăng. Trăng là một ẩn dụ nghệ thuật quen thuộc nhưng đặt vào ngữ cảnh câu thơ này thì nó mới. Giữa cái người đàn ông thành đạt hôm nay với áo vàng với muôn màu với ánh sáng ngọn nến... với cái cậu bé đen trắng cộc kệch ngày xưa ai hạnh phúc hơn ai chả biết chỉ biết người đàn- ông- số- phận- hôm- nay thì đứng sững ở đấy đầy ngạc nhiên tiếc nuối trong khi cậu bé kia như một thiên thần đã đi về phía những mùa trăng. Không phải phía vầng trăng nó cụ thể lắm những giấc mơ không bao giờ cụ thể cái đẹp không bao giờ cụ thể khát vọng không bao giờ cụ thể nó là phía những mùa trăng vừa bao la bát ngát vừa hư ảo mênh mang mở ra một chân trời mới cho những tưởng tượng và khát vọng của con người...

          Thì ra cuối cùng thơ chính là cách tốt nhất giãi bày khát vọng dẫu khát vọng ấy có khi chỉ là "bờ tre nhỏ lao xao"...

More...

Tổ quốc ta con tầu cháu vẽ

By DƯƠNG HƯỚNG

Patroling under in the sunset

Cảnh biển đảo Trường Sa: Ảnh Sưu tầm "Cảnh đẹp Trường Sa"
Tổ quốc ta con tàu cháu vẽ


Trương Thiếu Huyền

Tổ quốc ta con tàu cháu vẽ
Hoàng Sa Trường Sa hai cánh buồm đỏ
Lớn lên cháu làm thuỷ thủ
Thái Bình Dương đón gió
Như cha ông ra khơi
Lạc Long Quân cùng 50 người con xuống biển
Từ bến Bình Than đại thắng Bạch Đằng
Từ đảo Lý Sơn những thuỷ binh lấy thân mình ghìm thành cột mốc


Tổ quốc ta Chim Việt cháu vẽ
Hai cánh vỗ Hoàng Sa Trường Sa
Ngang đỉnh Trường Sơn phóng tầm biển cả
Cháu sẽ nghe tiếng thét của bà Triệu Thị Trinh trước hoạ xâm lăng
"Ta muốn cưỡi cơn gió mạnh đạp luồng sóng dữ chém cá kình ở Biển Đông!"
Cháu sẽ hiểu vì sao Trần Quốc Toản bóp nát quả cam
Vì sao tre làng Ngà kết thành chiến luỹ!

Tổ quốc ta hình chữ S cháu vẽ
Hoàng Sa Trường Sa những dấu chấm linh hồn
Cháu ơi không thể mất linh hồn Tổ quốc
Hồn Tổ quốc trong trái tim yêu nước
"Nam quốc sơn hà Nam đế cư!"


Tổ quốc ta cháu vẽ là gì có thế hoa sen
Những cánh sen Hoàng Sa Trường Sa yêu dấu
Nâng trên tay đoá sen Tổ quốc
Hương sen sẽ mách cháu phải làm gì
Mỗi khi Tổ quốc lâm nguy!

                                                              0h04 ngày 14.5.2009
và Trường Sa của chúng ta...
 

More...

Mị Lực

By DƯƠNG HƯỚNG

 

Truyện ngắn của Nguyễn Hiệp:

MỊ LỰC

Uống đại dương no cứng nỗi ham mê

Vẫn chết khát bụng người nhai đá tảng

Bốp... Bốp... Có một bệnh nhân tâm thần chốc chốc lại vỗ hai tay vào nhau miệng lại lầm bầm: "Vì tao tao phải đánh mày vì mày tao phải đánh mày đánh tao..." Thoạt đầu chẳng ai hiểu bệnh nhân tên O này muốn nói gì sau một lúc mọi người mới ồ lên: A là vỗ muỗi. Chính vì câu đố buồn cười ấy của O mà trong bệnh án có ghi thêm "dị ứng với muỗi" rồi lại thấy thêm dòng gạch nối "muỗi chứ không phải mũi". Ai đọc trang bệnh án này cũng phì cười vì sự lẩm cẩm của vị bác sĩ tâm thần nhưng ai đã từng ở bệnh viện lúc ấy thì thấy thương cho ông bác sĩ già suốt ngày bị "tra tấn" bởi những câu chuyện muỗi giấc mơ muỗi quái dị của bệnh nhân tên O này. Có thời điểm tưởng O hết bệnh vị bác sĩ đưa cho O một trang sách tiếng Anh O đọc rành rẽ giọng chuẩn Luân Đôn làm cho vị bác sĩ gật gù liên tục. Bác sĩ hỏi chuyện thiền trúng đài O phát một thôi một hồi những hiểu biết sâu sắc không chê vào đâu được. Cũng vì câu nói tỉnh táo của O: "Thiền giúp uốn nắn đặc tính dân tộc và văn hoá" mà vị bác sĩ chắc ăn O hết bệnh. Khi O bước ra cửa ông còn nhận xét : "Thành phần của nông dân miền Nam thật phức tạp trước khi mặc áo nâu họ mang áo trắng cổ cồn quá nhiều người như vậy..."

Đầu giờ chiều vị bác sĩ đem giấy xuất viện đến cho O thì không thấy O đâu cả bác sĩ nhìn xuống gầm giường thì phát hiện ra O đang thu mình một góc.

-Anh làm gì ở đó?

-Suỵt suỵt... Để cho mấy con muỗi tìm chết cha nó luôn...

Vị bác sĩ lắc đầu cất tờ giấy xuất viện vào túi. Trong cái lắc đầu của vị bác sĩ có sự thất vọng có cả nỗi buồn thương những gì bệnh nhân O đã trải qua buồn thương cho cả những giấc mơ kì dị mà ông đã nghe bằng cả tấm lòng khi chính O kể lại vào những ngày đầu óc tỉnh táo.

&

...O lôi cái bàn ủi "con gà" trong góc bếp ra dốc dốc tay trút hết lớp tro bụi tẩn mẩn tỉ mỉ lau cái khớp nắp hình đầu con gà bằng đồng đã rỉ xanh hì hụi ngồi quạt mấy cục than cho hừng đỏ công việc mà hơn hai mươi năm nay ông chưa lần nghĩ tới. O hất nắp đầu gà đánh trốc một tiếng vừa nghĩ: "Chà rồng lại mời tôm đến nhà chuyện lạ đây." Vừa đè mạnh tay đưa cái bàn ủi qua qua lại lại các nếp nhăn của chiếc sơ mi "si- đa" mới mua mùa lúa trước O vừa nghĩ ngợi lung trong đầu. O khoác áo vuốt thêm mấy lần vạt cho phẳng rồi băng bờ ruộng qua khu toà nhà cao lớn sáng trưng ánh điện.

-Ô người anh em hàng xóm với nhau bao nhiêu năm...

-...Nhà lớn ngạch cửa cao...

-Ôi của nả phù du láng giềng tối lửa tắt đèn có nhau. Chẳng qua anh...  Thôi mời mời...

-...

... - Mây xứ mình lạ thiệt đó! Đêm mà mây cứ mồn một như giữa ban ngày. Tui gọi nó là mây Niết bàn anh thấy được hông? Hắn nói. O ậm ừ. Không phải là không có gì trong đầu nhưng O mang máng ngờ cái lõi của chuyện mời mọc này chưa được nói ra. Khi hắn gọi thứ mây hồng ở đây là mây Niết bàn thì O định cãi lại: Niết bàn là cõi không còn tham sân si sao lại ví kì cục vậy được nhưng rồi chính O cũng đã tìm được cách lí giải theo hướng ma ma Phật Phật của hắn thật ra thì do nhiều đêm ngồi một mình O cũng thường ngắm mây hồng bay trong đêm.

...Mây hồng trôi trong đêm là thứ phù hoa hơn tất cả các loại phù hoa có lần ngồi bó gối ngước lên bầu trời O đã lẩm nhẩm hát một đoạn như vầy: "Cho mây ươm tóc em nồng /Tình yêu tắm trong mây hồng..." nhưng rồi thả trôi ánh mắt mình hồi lâu theo những mảng sắc hồng hồng anh ánh đó O chợt  xấu hổ vô cùng vì cái tính trời trợt bẩm sinh của mình đến mức nhầm lẫn thứ màu mỡ giả tạm thứ phong lưu mượn hồn độc hại với nhẹ hồng buổi sớm với rung động đầu đời với đôi môi nồng nàn lãng mạn đẹp đẽ nhất kiếp nhân sinh. Mây hồng ở đây là loại mây xà xuống thấp do ánh đèn của hàng chục ngàn bóng điện tròn bảy lăm oat đồng loạt hực lên cả đêm mà hồng hồng đỏ đỏ vàng vàng mà biến ảo hư hư thật thật bởi vậy sắc của nó mới vừa giả tạo vừa bợm bãi đe doạ làm sao hình của nó mới vừa hào nhoáng vừa  rỗng xốp đến kẻ dại nhất cũng sinh lòng nghi ngờ hồn của nó lờ đờ trôi thấy đó mà như là chẳng có. Nó là ngọn lửa đã tắt. Nó sinh ra từ hư không (hư không chứ không phải tính không) và đang lừ lừ bay về hư không như một xác tro không hơn không kém. Vậy mà hắn gã trọc phú mới đi đâu ngồi đâu cũng xưng danh nhà thơ ấy cứ huyên thuyên.
Chỉ miền quê rặt chó ăn đá gà ăn muối mái tranh vách đất u u ám ám... mà rồi đột ngột xôn xao nhà nhà người người chong điện sáng trời sáng đất mật độ hạ bình điện trong nháy mắt đã hình dung biểu đồ dâng một cột đỏ lòm lòm cao nhất nước xe xe cộ cộ rồ rồ ăn chơi bia bọt tiệc tùng chung chi mánh mung phe cánh thủ đoạn rục rịch trắng đêm ... mới có loại mây hồng lờ lờ sáng bầu trời khuya. Màu mây loại mây ấy chưa thời nào chưa nơi nào trên trần gian này đường đường chính chính trình diễn trên bầu trời đêm lâu vậy. Phàm thứ gì màu mỡ giả tạm qua nhanh thì người đời gọi phù hoa vậy mà mây hồng ở đây thì hắn lại xem là mây Niết bàn: rung riêng rủng riểng trắng nói đen còn được thì bài ca con cá mây Niết bàn nghe sặc luận điệu ru dụ có gì là lạ những gã "nhà thơ" địa phương như hắn xét cho cùng chỉ là những thứ trang sức đầu sai hoặc dùng mỹ từ "thơ" chỉ một mục đích là "cho sang" (nghe nói có người trong hai năm đã viết được chín trăm bài thơ gửi đăng khắp các tờ tin từ cấp huyện cho đến cấp ngành nghề có người nhờ hai tiếng nhà thơ mà thăng quan tiến chức như diều gặp gió có kẻ trọc phú mở miệng là "cánh nhà thơ tụi mình"... Kiểu "nhà thơ" nhan nhản các chiếu nhậu) họ không đáng để tranh cãi. O thầm nghĩ vậy rồi đưa tay phẩy một cái vào khoảng không.

Uống hết hai bình trà với đủ thứ chuyện trên trời dưới đất. Hắn huyên thuyên. O ậm ờ. Mấy lần nhìn vói xuống bếp hắn mới hắng giọng: Xong chưa bây? Dọn cho bác O với tui mâm đặc biệt nha dọn thẳng ngoài hiên này cho mát! Vợ hắn lật đật bưng mâm chén bước lên thơn thớt nói cười chợt mắt bỗng lấm la lấm lét mặt cúi gầm xuống đất. O đã thấy được thái độ ấy nhưng chưa biết nó là gì. Mùi thịt thà xà lách bánh mì bay thốc lên mũi O cố kềm chế để không phải nuốt nước miếng.

Hắn tự tay nhấc chiếc chảo dày đặt lên bếp ga đổ dầu ăn vào chảo vừa bốc lên mấy sợi khói hắn gắp hai miếng thịt bò bỏ vào xèo xèo đẩy qua đẩy lại. Hắn nói: Món bò bít tết này phải làm tới đâu ăn tới đó mới ngon. O đã nuốt trôi ba miếng ly rượu Tây đã làm hai má O nóng bừng O mới hỏi "Nay có chuyện gì mà thịnh soạn thế này?" "Có gì đâu hàng xóm láng giềng chiều chiều lai rai với nhau tí chút thì nhầm nhò gì mà thịnh với soạn."...

Khi đã ngà ngà lâng lâng hắn đưa O ra cổng vừa vỗ vỗ vai hắn vừa thì thào: Tôi chỉ cho anh bí quyết làm thịt bò cho mềm nghen: Một chút chanh anh nhớ chưa còn hầm thì phải là ổi non chua chát nó mới mềm chua chát nó mới...mềm... Hắn vỗ vai O một cái thật mạnh rồi cười hề hề quay vào nhà.

Mấy lần lên bờ xuống ruộng cuối cùng O cũng lảo đảo đặt chân lên đất nhà. "Chua chát nó mới mềm" sao hắn lại nhấn mãi cái câu ấy? Chợt có linh tính điều gì đó chẳng lành O phăm phăm tiến về phía chuồng bò nhà mình. Lẽ ra O phải nghe tiếng cạ cạ vào chuồng của con Khú mới phải sao lại im lặng? O rút khúc cây cài cửa. Con Khú nằm bẹp một góc chuồng. Chân O dẫm phải thứ gì sền sệt như bùn. Máu! O dụi mắt liên tục rõ ràng là máu...

&

Cuộc đời O nghĩ cũng tủi thân thật ba chìm bảy nổi chín lênh đênh. Lúc còn nhỏ thì tức tối lồng lộn với bọn bạn bè trẻ con cứ theo trêu chọc bằng cái câu hỏi khốn kiếp "Ai đi đó?" rồi nói lái lại là "O đi..." chỉ vậy mà suốt thời niên thiếu lúc nào O cũng như người ngứa gan sẵn sàng cà khịa với bất cứ ai. Lem luốc lớn lên giấc mơ nào cũng thấy mình đóng vai người hùng kẻ giàu có được thiên hạ ngưỡng mộ nghiêng mắt lặng người nhưng mải chỉ trơ những bước chân khập khiễng té trượt chúi nhũi bữa đói bữa no giờ lại ánh hồng tàn tro mị lực đảo chao bám riết hành hạ trong đầu. Từ ngày nghe được ba tiếng Mây - Niết  - Bàn lòng chợt bất an nửa muốn cãi lại cái gã nhà thơ trọc phú mở miệng là văn nhã xập xoè nửa hy vọng tìm ở đó sự quyến rũ lý giải khác: Có thể Niết bàn ở đây được hiểu là cách nói theo kinh nghiệm nội tâm. O trách mình sao lại không biết trong lịch sử thiền cũng đã từng có cách nói "Cầu trôi chứ nước không trôi" phi lý và mâu thuẫn này? Có lẽ tay nhà thơ lừa bịp mua đất của O nói những điều phi lý một cách đầy lý lẽ? Rồi O muốn xét lại mình O phỉ báng mình coi ba cái lý sự cùn ba cái chữ sĩ trong đầu có phải là thứ vô dụng ác độc giam hãm tù đày mình lâu nay.

Vì muốn mua mấy mảnh ruộng và lô vườn liên canh liên cư mà hắn đành đoạn cho người thẻo mông con bò Khú để tách O ra khỏi mảnh ruộng của mình. Bữa tiệc thịt bò bít tết ấy đã làm O chết điếng cả năm trời chẳng làm ăn gì được O đã khóc hết nước mắt. Nhớ lại đêm ấy O ngồi ôm ngang cổ con Khú suốt đềm mắt dại chằm chằm nhìn muốn đục chém màn đêm cho hả giận. "Khú ơi! Là Khú ơi! Mày có tội tình gì đâu!?" Đến nửa khuya thì O cũng gào rú được một thôi một hồi. Con Khú đã gắn bó với O trên mảnh ruộng sớm sớm chiều chiều như hình với bóng hỏi làm sao không buồn thương cho được. Cứ nhìn cái lưỡi cày rỉ sét lỗ chỗ vàng bơ vơ bất động nắm một góc hiên là không cầm nước mắt. Mỗi lần rơi nước mắt là mỗi lần hình ảnh cặp mắt lấm lét của vợ hắn lại hiện lên làm cho người O căng lên nóng bức không chịu nổi... Cuối cùng lòng thù hận cũng nguôi ngoai bởi làm gì hắn thì thật tình O cũng chẳng dám làm gì phạm pháp đành ngậm chát nuốt chua mà bán tất cả ruộng vườn hương hoả ông bà để lại cho hắn. Đôi lúc nhớ lại mọi chuyện O còn cám ơn hắn nhờ hắn mớm cho viễn cảnh "phi thương bất phú" mà anh mới có ý tưởng độc đáo riêng mình. O mang tiền bán đất đi thuê một lô mặt đường O gò lưng đi gom lượm khiêng vác thồ mấy chục phiến đá vảy đủ hình thù trốc ra vương vãi dưới chân núi mướn thợ may hàng chục bộ nhục bồ đoàn áo nâu mở quán cà phê Thiền với mong muốn giúp người tĩnh tâm quên đi sân hận ham muốn O quá ngao ngán với những chiếc bóng người mọi tầng lớp đang xoèn xoẹt lao đi cuồng dại mê đắm với bụi đường bụi tiền bụi tham bám dính bụi ác dày trơ ngoài kia quá ngao ngán với bao thủ đoạn ác độc chiếm đất chiếm nhà của bọn trọc phú mới. O muốn xả và cũng muốn mọi người cùng xả nhưng O đã nhầm con người ở đây chỉ chiếc bè trôi chở chống lòng tôn sùng của nả bạc tiền đang mê cuồng trôi với cuộc đời bão dông. Thời của những thói mạt tâm. Quán khai trương cả tháng vẫn vắng như chợ bà Đanh lỗ trắng mắt lại còn bị người ta chửi cho ê mặt: Vớ vẩn uống cà phê để bàn chuyện làm ăn để bạn bè tán gẫu để giết chết thời gian... sao thiền được. Dù O ra sức thuyết giảng giải thích cũng không ai nghe. O nói: Ngồi tĩnh tâm với ly cà phê sẽ giúp mọi người đánh thức sức mạnh vốn có bên trong mình. Họ bịt tai bịt mắt bịt miệng.

Lời nói của O gió thổi bay đi. Thiền quán của cũng tan như bọt nước. Từ ngày cất những chiếc áo nâu và những chiếc nhục bồ đoàn vào một góc nợ nần O chuyển qua mở trại bia lộ thiên ven con đường vào Lũng Say này những đêm vắng khách O thường nhìn mây hồng bay lâu dần thành thói quen O đâm nghiện loại mây phù hoa này mới hết nước nói. Khách quen ở trại bia thường ngồi ngập vào những buổi chiều chỉ là cán bộ công nhân viên chức và các tay mánh mung buôn bán chung chi lần đầu tiên O thấy gã nông dân xuất hiện ở đây mà lại uống "lầy" không biết bao nhiêu là vỏ bia vương vãi quanh bàn quanh chân. Thoạt đầu gã uống và nói chuyện trâu bò heo gà thanh long gạo đậu:

-Hai răng trưởng thành chính giữa mọc bằng hai răng sữa áp vừa rụng nó hai năm tuổi. Tôi nói  sai tuổi trâu mới là lạ...

...- Thanh long năm nay được giá cái xứ chết đói đến nơi bo bo mì lát muôn năm tự dưng lại được trời cứu đói...

Sau đó gã tự kể chuyện của mình rồi gã khóc rồi gã hát như bị rượu xô rượu đẩy tẩu hoả nhập ma sa đà trẻ nhỏ. Gã này uống bia nhiều đến nỗi O nhìn mà say theo. Cũng có thể trí tưởng tượng của O có vấn đề nhìn gà hoá cuốc còn đỡ đằng này lại nhìn một nhoè thành ba O thật sự thấy trên cái bàn ấy có ba người ngồi O nghe rõ ràng họ nói chuyện với nhau họ hát với nhau. Ba con người rõ ràng: I Ư và Ơ O đặt tên cho họ như thế cũng vì những lời hát  phát ra mang sắc thái dân ca đủ cả ba miền:

- Đẹp như trong mộng ì ì ì ì ì... Í...i... ì...

-Say... Say ...Trời đất lăn quay...ứ... ư... O ởng tượng ra người bên cạnh vừa ngã nghiêng ra bộ ra tịch vừa đưa tay định dìu người có giọng hát i i kéo nhựa ấy thì bị nhét ly rượu vào tay.

-Kể từ biết uống tới giờ tớ uống đã hơn ba chiếc thuyền lớn... chở đầy rượu...i...i... Say hả? Say này... Này rót... uống nhá... nhá... Trăm phần trăm... Dzô đi! Dzô...í...ì...i... Người tên I dừng lại đột ngột ly rượu rơi xoảng xuống nền gạch. I cũng rơi người xuống ngoẹo đầu qua thành ghế rồi lịm nhanh như nhúm than cây sến cây sơn vốn chẳng giữ lửa lại vừa bị hất đúng một thùng nước đầy chỉ kịp xèo cái đã nguội lạnh người I bây giờ chưa đến mức như món đông sương nhưng ẹo oặt nhũn nhoẹt một bị thịt chợ chiều. Kẻ vừa chịu đựng cú ép trăm phần trăm đưa chân trượt trên vỏ chai ngã sượt khỏi bàn lại lồm cồm vịn ghế khom lưng xốc nách bạn nhậu. Người ngồi lầm lì nãy giờ cứ đưa ly lên là nốc cạn ở ghế bên kia đủng đỉnh nhấc từng chân ra khỏi ghế rồi vừa bước tới nhét vội tà áo của người say vào quần vừa ngước cằm lắc lắc chợt phồng gân cổ mà lên câu vọng cổ mùi mẫn: Lan ơi... Sao đành cắt đứt dây chuông... Ánh điện đường mới mắc của thị trấn Lũng Say hắt bóng họ đổ dài mỗi lần họ nghiêng chao sát đất bóng chợt ngắn lại tiếng ư ư ơ ơ nhề nhệ trôi theo họ như những đám mây chứa âm thanh mớ âm thanh chẳng nghĩa lý gì. O bực mình vì người khác uống mà sao mình lại say rõ ràng O đã mang thật sự đầy đủ các triệu chứng của người say. Tím chi tím tái tím tê (ơ ơ) tím xanh tím mét (ơ) mắt mê tối sầm. Tím gì như thịt da thâm trận đau hôm trước tím bầm hôm sau...(ớ...ơ ...ơ...). Lúc Ơ bước xiêu vẹo bên đường O mải nhìn theo không buồn dọn quán. O hiểu ra: Khi người ta đau người ta thường hát hò kiểu đó. Con đường của thị trấn Lũng Say về khuya hiu hắt khó tả chợt O rợn lạnh trong người vừa thụt lùi vào quán O vừa rùng mình thấy các đám mây hồng đang chuyển sang tím rịm một góc trời.

&

...Đêm thứ nhất sau khi bán đất cho hắn O nằm mơ thấy mình bị róc đi hai mông đít máu chảy ra lênh láng một mép ruộng không thấy đau nhưng mất hết sinh lực tay chân không buồn động cựa ruồi bu không đuổi nổi.

Đêm thứ hai O lại nằm mơ thấy một hình hài da bọc xương đang gục gặc di chuyển trên một bãi cỏ gai.  Đến gần thấy bộ xương quen quen giáp mặt hoá ra bộ xương đó chính là mình.

Đêm thứ ba vừa nhắm mắt là O chìm vào vùng trời đầy mây hồng O vừa lao theo những đám mây sặc sỡ là là bên trên tầm tay với chợt O sựng lại vì phát hiện những cơn gió đang xuyên qua người mình gió lạnh buốt gió xuyên qua tim những sợi gân máu treo nối lửng lơ đầy ngay trong cơ thể O đưa tay rờ rẫm khắp thân mình chỗ nào O cũng chạm phải những khúc xương xương cứng đơ lạnh ngắt như xương của lễ Sang cát của ngày bốc mộ. Trong đám mây hồng chợt xuất hiện hàng đàn muỗi khổng lồ tiếng "vo ve" rền rền góc trời muỗi núp bóng trong sắc mây hồng những cặp chân cao khều lòng khòng khua động chúng đông đến mức làm cho những đám mây như phình ra. Quái vật muỗi! Những con muỗi có cặp mắt kép đe doạ. Xúc tu của chúng rất nhạy với mùi mồ hôi của con người. Vừa thấy một đám đông áo nâu đang cày bừa trên đồng ruộng đàn muỗi mừng quíu âm thanh "vo ve" của chúng nghe rộn ràng nghe xôn xao như kiểu đám người dự tiệc. O cứ trố mắt nhìn ngỡ có loài muỗi mới chuyên hút mồ hôi người không phải hút máu truyền bệnh sốt rét như loài A- no- phen. Chúng quần tụ trên đầu những người nông dân như những chiếc máy bay những chiếc xúc tu nhạy cảm mồ hôi huơ huơ đánh mùi. Bầy muỗi liên tiếp phát ra những tiếng "vo ve" rền trời rền đất. Họ đã dừng tay cày dừng tay cấy họ quay đầu nghe bên phải quay đầu nghe bên trái họ đứng yên miệng nở nụ cười thật tươi khuôn mặt họ rạng ngời rồi cùng kéo nhau đi về một hướng theo sự điều khiển của tiếng "vo ve" trên bầu trời. Ngay lúc những người nông dân đang vui mừng thì những cái vòi khổng lồ của bầy muỗi căng ra chúng đồng loạt lao xuống đồng ruộng xanh um lao xuống những khu vườn trù mật. Thoạt đầu O cứ tưởng những người nông dân đã nghe theo những âm thanh hướng dẫn đúng đắn hấp dẫn nào đó giờ lại thấy những chiếc vòi muỗi đồng loạt hút bụng chúng căng phồng lên từng giây một. Những người áo nâu đang vui vẻ đi với nhau như sau một ngày cần lao cực nhọc chợt chao đảo ngã nghiêng. Có người té sấp. Có người té ngửa. Đất dưới chân họ bời bời vườn ruộng cò bay thẳng cánh chợt thụt dần thụt dần rồi biến mất họ chơi vơi rơi chơi vơi lộn đầu xuống cứ thế tất cả đều rơi thẳng những vật rơi cùng phương. Bầy muỗi hút đất càng lúc bụng càng phình to có con đã lặc lè vẫn còn cố hút. Tiếng "vo ve" vui mừng rền động át cả tiếng kêu rú của những người áo nâu. O cũng nhắm mắt rơi cùng phương với họ. Nỗi sợ hãi làm mồ hôi lạnh tuôn túa giọt giọt hai bên thái dương. Chợt O mở mắt trừng trừng xuống đáy thẳm. O hét lên một tiếng kinh hoàng rồi giật mình tỉnh giấc. Hoá ra chỉ là cơn ác mộng. Bây giờ đang là đêm. O lại đưa tay vỗ muỗi. Bốp. Và bốp. Và... bốp... nữa... không... thôi.

Chân núi Tà Cú 3/2009

NH

         

More...