Chùm ảnh phong cảnh đất nước

By DƯƠNG HƯỚNG

Mời các bạn xem chùm ảnh phong cảnh đất nước Việt Nam tươi đẹp

  • bennharongp.jpg

    167 views

  • cauthehucp.jpg

     

  • 151 views

  • bandocp.jpg

    109 views

  • banthuyenp.jpg

    68 views

  • binhdinhp.jpg

    90 views

  • baitulong2p.jpg

    76 views

  • bietthubanap.jpg

    61 views

  • bandoc2p.jpg

    83 views

  • banlimp.jpg

    77 views

  • cana2002p.jpg

    56 views

  • caobangp.jpg

    67 views

  • caobang2002p.jpg

    79 views

  • catcatp.jpg

    52 views

  • bobienp.jpg

    59 views

  • catbap.jpg

    75 views

  • bonglaup.jpg

    64 views

  • caobang4p.jpg

    51 views

  • dailanhp.jpg

    55 views

  • chuathayp.jpg

    60 views

  • daklakp-2.jpg

    58 views


More...

THƯ NGỎ... GỬI THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

By DƯƠNG HƯỚNG

THƯ NGỎ CỦA MỘT CON DÂN NƯỚC VIỆT GỬI THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Nhà văn Phạm Đình Trọng
 


         Thành phố Hồ Chí Minh  ngày   2  tháng  3  năm  2009
   
Kính gửi: Ông NGUYỄN TẤN DŨNG THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
      NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM   Thưa Ông Thủ tướng   Tôi là Phạm Đình Trọng công dân Việt Nam đang sống trên dải đất gấm vóc Việt Nam. Là người lính tôi đã trải qua trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước tôi đã đi từ mảnh đất cực Bắc Vị Xuyên tỉnh Hà Giang đến mảnh đất cực Nam của đất nước đảo Phú Quốc đảo Thổ Chu tỉnh Kiên Giang tôi đã đi từ Trường Sơn đến Trường Sa. Dặm đường đất nước ấy đã cho tôi thấy đất nước Việt Nam thân yêu của tôi gấm vóc như thế nào. Là nhà báo nhà văn quân đội tôi đã viết về sự hi sinh vô cùng to lớn của nhân dân và đồng đội của tôi trong cuộc kháng chiến chống Mĩ giành độc lập thống nhất đất nước tôi cũng đã viết về những mất mát hi sinh đau lòng mà đồng đội thân yêu của tôi đã phải nhận lấy để giữ từng mỏm đất ở Vị Xuyên Hà Giang để giữ từng doi cát san hô ở Trường Sa ngòai biển đông. Sự hi sinh cao cả ấy máu của nhân dân và đồng đội tôi hôm nay máu của cha ông chúng ta đã đổ ra trong suốt chiều dài lịch sử giữ nước hôm qua đã cho tôi thấy từng nắm đất của Tổ quốc Việt Nam thiêng liêng như thế nào! Nhưng những diễn biến của những năm tháng lịch sử vừa qua lại cho tôi thấy những người có trách nhiệm quản lí đất nước của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam không những đã không giữ được trọn vẹn dải đất Việt Nam gấm vóc và thiêng liêng mà cả đến việc khai thác tài nguyên đất nước dường như cũng không vì lợi ích của đất nước Việt Nam không vì nhân dân Việt Nam! Dân biết. Dân bàn. Dân làm. Dân kiểm tra. Đó là điều nhà nước ta vẫn thường nói vẫn đề cao. Là công dân Việt Nam tôi cần được bàn được có ý kiến về vấn đề nghiêm trọng này. Là đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam đảng cầm quyền tôi càng cần có trách nhiệm có tiếng nói về việc vô cùng hệ trọng này. Định mệnh đã đặt đất nước chúng ta cạnh nước lớn phương bắc Trung Hoa một đất nước mênh mông rộng lớn nhưng trập trùng núi hiểm cuồn cuộn sông dữ phần đất bằng còn lại thì nơi hạn hán đồng khô cỏ cháy nơi lũ lụt lút cả huyện cả tỉnh! Dân số lại quá đông người dân khốn khó luôn đói đất thèm đất làm ăn! Còn người cai trị đất nước mênh mông ấy thì từ xa xưa đến nay vẫn tự huyễn hoặc là Thiên tử là con Trời mang mệnh Trời thống trị thiên hạ mở mang bờ cõi Trung Hoa! Suốt quá trình lịch sử nước láng giềng khổng lồ phương Bắc ấy thời nào triều nào cũng lăm le lấn bờ lấn cõi nước ta! Dải đất Việt Nam gấm vóc còn được dài rộng đến hôm nay là nhờ lòng yêu nước nồng nàn nhờ ý thức dân tộc sâu đậm nhờ nền văn hóa Lạc Việt đã tạo ra cho người Việt bản sắc riêng không thể bị đồng hóa với những nền văn hóa khác nhờ ý chí quật cường bất khuất nhờ xương máu hi sinh của nhiều thế hệ người Việt đã đổ ra trong sự nghiệp giữ nước và điều quan trọng hàng đầu là nhờ người đứng đầu trăm họ người dân nước Việt đã đủ khôn khéo tỉnh táo trong đối sách với mưu đồ lấn cõi chiếm đất của phương Bắc đã biết đặt lợi ích của dân tộc Việt Nam đặt lợi ích của đất nước Việt Nam lên trên lợi ích riêng tư của vương triều. Lịch sử đã dạy cho những triều đại phương Bắc hiểu rằng chiếm đất bằng sức mạnh của đội quân  khổng lồ và thiện chiến không khó nhưng không bền! Vì đó là sự chiếm đọat phi pháp sớm muộn người Việt dù là dân tộc nhỏ bé nhưng có ý thức dân tộc rất cao và có lịch sử giữ nước rất anh hùng sẽ giành lại phần đất thiêng liêng bị mất. Trong lịch sử đã nhiều lần nhà nước khổng lồ phương Bắc chiếm được đất của nhà nước nhỏ bé phương Nam nhưng chưa lần nào họ nuốt trôi! Chỉ bằng cách ve vãn mua chuộc kẻ có quyền để có được những thỏa thuận kí kết nhượng đất nhượng cõi rất đàng hòang hợp pháp họ mới nuốt trôi được mảnh đất cắt nhượng đó! Đó là khi người Pháp chiếm nước ta triều nhà Thanh phương Băc liền kí với người Pháp hiệp ước Thiên Tân năm 1885 cho người Pháp chút lợi lộc buôn bán trên đất Trung Hoa để người Pháp cắt một số vùng đất Việt Nam ở biên giới phía Bắc cho nhà Thanh nhập vào các tỉnh Vân Nam Quảng Tây Quảng Đông của Trung Hoa! "Một thước núi một tấc sông của ta lẽ nào lại có thể vứt bỏ? Ngươi phải kiên quyết tranh biện chớ cho họ lấn dần. Nếu họ không nghe còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày rõ điều ngay lẽ gian. Nếu ngươi dám đem một thước một tấc đất của Thái Tổ làm mồi cho giặc thì phải tội tru di!" Đó là lời chỉ dụ của vua sáng Lê Thánh Tông cho sứ thần nhà Lê đàm phán về cương vực lãnh thổ với sứ thần nhà Minh. Đó cũng là tiếng nói nghiêm khắc của lịch sử của hồn thiêng sông núi Việt Nam với những người nắm quyền quản lí đất nước Việt Nam mọi thời đại! Những người mang dòng máu con Hồng cháu Lạc ở cương vị quản lí đất nước trong quá khứ đều là những người khoa bảng có đạo lí trung với nước hiếu với dân thông thuộc lịch sử nước nhà có trí lự và khí phách dân tộc họ đã kiên định tranh biện không cho nước lớn lấn lướt áp đặt giữ được vẹn tòan đất đai gấm vóc nước Đại Việt. Còn chúng ta hôm nay thì sao? Lịch sử ông cha để lại dạy chúng ta bài học là để dân tộc tồn tại để đất nước vẹn tòan phải đưa giá trị dân tộc lên trên hết phải đòan kết thương yêu dân tộc Nhiễu điều phủ lấy giá gương - Người trong một nước phải thương nhau cùng! Nhưng hôm nay chúng ta đã làm ngược lại với điều cha ông đã dạy. Lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm lí tưởng soi đường lấy học thuyết đấu tranh giai cấp làm phương châm hành động Quan san muôn dặm một nhà - Bốn phương vô sản đều là anh em! Chúng ta đã đưa giá trị giai cấp lên trên giá trị dân tộc! Người cùng dòng giống Lạc Hồng rất mực yêu nước thương nòi nhờ làm ăn lương thiện và hiệu quả mà có chút của ăn của để liền bị qui là giai cấp bóc lột giai cấp đối kháng trở thành kẻ thù của nhà nước công nông bị xử lí tàn bạo! Nhưng năm 1958 khi nhà nước công nông Trung Hoa tuyên bố vùng biển của họ bao trùm cả quần đảo Hòang Sa quần đảo Trường Sa của tổ tiên ta với tinh thần quốc tế vô sản Thủ tướng Phạm Văn Đồng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa liền có công hàm ủng hộ tuyên bố tham lam bành trướng của nhà nước công nông phương Bắc! Đưa giá trị giai cấp lên trên giá trị dân tộc làm cho ý thức dân tộc phai nhạt đi làm dân tộc yếu đi! Dân tộc yếu đi thì tham vọng bành trướng sẽ lấn tới với đủ mưu chước thủ đọan phương thức lấn đất lấn cõi. Miền Bắc nước ta vừa được giải phóng khỏi quân Pháp xâm lược nước lớn phương Bắc liền xốt xắng ra tay hào hiệp nhận giúp Việt Nam khôi phục đường sắt Đồng Đăng - Hà Nội. Khi đó ở miền Bắc nước ta chỉ có nhà máy điện nhà máy nước còn có thể cố ì ạch họat động còn các nhà máy khác đều tanh bành chưa thể khôi phục. Cả miền Bắc thất nghiệp! Lại thêm lực lượng lao động hùng hậu là cán bộ bộ đội miền Nam tập kết! Lực lượng lao động dư thừa nhưng với lòng tin tưởng và trân trọng tình cảm quốc tế vô sản chúng ta đã mở rộng cửa ải phía Bắc đón hàng trăm công nhân đường sắt Trung Hoa vào Lạng Sơn làm công việc cơ bắp đơn giản là san nền đường rải đá đặt đường ray và những công nhân đường sắt Trung Hoa đã đưa chỗ nối ray của tuyến đường sắt liên vận Việt -  Trung vào sâu lãnh thổ nước ta hơn ba trăm mét! Để rồi sau này họ lí sự là luật pháp không cho phép đường sắt nước này lại đặt trên lãnh thổ nước khác vì thế chỗ nối ray chính là chỗ phân chia biên giới quốc gia! Qua những vụ vịệc đất đai ở biên cương phía bắc có thể dễ dàng nhận ra bài bản cướp đất của phương Bắc là: Lặng lẽ chiếm đất ở từng điểm nhỏ lẻ rải rác coi như đó chỉ là những vụ việc cục bộ địa phương nhà nước trung ương không hay biết! Nhà nước trung ương cứ cao giọng nói hữu hảo cứ ban phát lời vàng hữu nghị nhưng cục bộ cứ lấn đất chiếm đất lặng lẽ mà chiếm không gây ồn ào thành sự kiện quốc gia là được! Cả hệ thống truyền thông khổng lồ của ta cũng làm ngơ đồng lõa! Mấy con thú của công viên giải trí Đại Nam ở tỉnh lẻ Bình Dương xổng chuồng thì nhiều tờ báo ở thành phố Hồ Chí Minh có bài ảnh đưa tin nhiều ngày dõi theo từng dấu chân bầy thú vượt ngục! Nhưng ngày 29. 2. 1976 hàng ngàn quân phương Bắc mặc đồ dân sự tràn qua biên giới vào đất ta giăng thành hàng rào ở thác Bản Giốc Cao Bằng che chắn cho tốp thợ đổ bê tông cột mốc chia cắt thác Bản Giốc làm đôi chiếm nửa thác của ta thì không có tờ báo nào đưa tin! Không có tờ báo nào đưa tin ngày 4.3.1992 đòan người từ phương Bắc mang súng ống gậy gộc ầm ầm kéo đến bản Sẻo Lũng mỏm cực bắc của nước ta thuộc huyện Đồng Văn tỉnh Hà Giang! Họ đốt phá nhà cửa dân ta rồi tuyên bố đất Sẻo Lũng là lãnh thổ Trung Hoa! Các báo không đưa tin vì không biết sự việc hay không được phép đưa tin? Phương Bắc gây sự lấn đất là việc thường ngày ở biên giới tai mắt của các báo không thể không biết! Báo chí ở trung ương đã im lặng báo chí của các tỉnh biên giới cũng lặng thinh thì lạ quá! Kẻ cướp xông vào tận nhà cướp bóc mà không bị chủ nhà hô hóan tố cáo thì kẻ cướp cứ làm tới chiếm hết điểm cao này đến sườn núi khác! Nhiều thế đất có giá trị chiến lược về quân sự và kinh tế chiếm được rồi lúc đó họ mới hối thúc ta đàm phán kí kết hiệp ước biên giới để hợp pháp hóa những mảnh đất hiểm yếu đã chiếm được! Năm 1885 được người Pháp cắt nhượng cho một rẻo đất Việt Nam ở biên giới phía Bắc thì năm 1887 có ngay hiệp ước biên giới Việt - Trung kí giữa nhà Thanh và chính quyền Pháp để phần đất Việt Nam bị cắt nhượng đó chính thức trở thành đất đai Trung Hoa! Bài bản lấn đất này đã diễn ra từ trong xa thẳm lịch sử nên vua sáng Lê Thánh Tông phải nhắc nhở bề tôi "kiên  quyết tranh biện"! Tranh biện trong đàm phán với phương Bắc để giữ được đất đai thiêng liêng là vô cùng quan trọng. Chúng ta chưa nhận thức được đầy đủ điều này hay vì lẽ gì chúng ta không thể tranh biện? Phương Bắc biết rằng mảnh đất của ta bị họ chiếm sẽ là trở ngại khó vượt qua trong đàm phán về hiệp ước biên giới nên họ lại định ra cả thời hạn phải hòan thành đàm phán thời hạn phải hòan thành cắm mốc và ta cứ răm rắp thực hiện! Tranh biện để giữ lấy đất đai tổ tiên là trí lự kẻ sĩ là khí phách dân tộc. Ôi chao ý thức dân tộc đã làm nên nền văn minh sông Hồng đã làm nên nền văn hóa Lạc Việt   khí phách dân tộc đã làm nên những chiến công hiển hách chống ngọai xâm Bạch Đằng Đống Đa Điện Biên Phủ đâu rồi? Trí lự kẻ sĩ Đại Việt đâu rồi? Trong lịch sử triều đại nào cũng phải đưa những kẻ sĩ những lõi sáng dân tộc những tinh hoa Đại Việt như Nguyễn Hiền Mạc Đĩnh Chi Nguyễn Trực . . . ra tranh biện với phương Bắc. Ngày nay người đi đàm phán đã có chủ trương chỉ đạo của đảng như quan tòa ngồi xử các vụ án có liên quan ít nhiều đến chính trị đều có sẵn bản án bỏ túi cứ theo bản án đã có trong túi mà xử! Người đi đàm phán chỉ cần có hàm quan chức cấp bộ và có cấp ủy đảng tương đương ủy viên ban cán sự đảng cấp bộ là ổn! Kết quả đàm phán đã có từ trước đàm phán rồi đâu cần kẻ sĩ đâu cần tranh biện! Vâng kết quả đàm phán đã có từ trước đàm phán rồi điều này đã được tuyên bố chung Vịêt - Trung nhân chuyến đi Trung Hoa của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh tháng năm năm 2008 tiết lộ: "Hai nước sẽ thiết lập đường dây nóng giữa các nhà lãnh đạo . . . Việc tranh chấp lãnh thổ lãnh hải giữa hai nước hai bên phải tôn trọng những kí kết của lãnh đạo đã thỏa thuận trong quá khứ"! Viết "hai bên phải tôn trọng những kí kết . . ." cho có vẻ bình đẳng thôi! Chỉ có Trung Hoa lấn đất của ta ta đâu dám động đến đất đai Trung Hoa! Trong đàm phán ta không chấp nhận sự lấn chiếm đó nên mới có đôi co tranh chấp! Chỉ có Việt Nam tranh chấp đòi lại đất mà thôi! Vì thế nội dung thực sự của lời tuyên bố chung là: "Việc tranh chấp lãnh thổ lãnh hải giữa hai nước Việt Nam phải tôn trọng những kí kết của lãnh đạo hai nước đã thỏa thuận trong quá khứ"! Lãnh đạo đã thỏa thuận rồi thì người đàm phán còn tranh biện gì nữa! Ông thứ trưởng bộ Ngọai giao Lê Công Phụng rồi đến ông thứ trưởng Vũ Dũng kế nhiệm làm trưởntg đòan Việt Nam đàm phán về hiệp ước biên giới với Trung Hoa khi trả lời phỏng vấn của báo chí trong nước và ngòai nước đều nói rằng không có chuyện mất đất! Nhưng thực tế đất đã mất biển đã mất rồi! Dư luận hỏi hai ông không thể nói rằng đúng chúng ta đã phải kí kết hiệp ước để mất đất mất biển nên hai ông phải nói thế cho qua chuyện mà thôi! Còn người dân ở biên giới và những người Việt Nam nhìn thấy rõ sự việc mất đất thì nói khác! Tiếp đòan nhà văn Việt Nam lên biên giới Cao Bằng bà Nguyễn Thị Nương ủy viên trung ương đảng bí thư tỉnh ủy Cao Bằng nói: Đường biên phân chia lại có chỗ đất bên bạn thuộc về ta có chỗ đất bên ta thuộc về bạn nhưng bên ta thuộc về bạn nhiều hơn! (Đỗ Hòang. Cực Bắc bao nỗi lo toan. Tạp chí Nhà Văn hội Nhà Văn Việt Nam số 1.2008 trang 55). Đó là cái nhìn khái quát của người lãnh đạo. Còn mắt người dân thì thấy cụ thể hơn. Nhà văn Đỗ Hòang tác giả bài bút kí Cực Bắc bao nỗi lo toan vừa dẫn ra ở trên kể: Tôi đến thác Bản Giốc gặp cụ Nông Văn Thà làm ruộng bên thác kể rằng: Hồi còn nhỏ nhà cụ dựng ở bên kia thác Bản Giốc cụ theo bố vào sâu cách thác 12 km để làm rẫy (Bài đã dẫn trang 54) Nhà văn Đỗ Hòang viết tiếp: "Bây giờ phân giới phần thác đã nằm phía bên bạn hơn phần nửa! Các cột mốc phải cắm đi cắm lại nhiều lần" (Bài đã dẫn trang 58) Vẫn bài bút kí Cực Bắc bao nỗi lo toan nhà văn Đỗ Hòang viết về đường biên giới ở Lạng Sơn: "Riêng tôi chứng kiến là năm 1973 khi tôi lên Lạng Sơn nhìn thấy Mục Nam Quan là của bộ đội mình đứng gác. Nhưng tháng 5 năm 2006 vừa qua tôi cùng đòan nhà văn Việt Nam ở Trung Quốc về qua cửa khẩu Lạng Sơn thì thấy cổng Hữu Nghị Quan và nhiều ngôi nhà xây từ thời Pháp đã ở trên đất bạn . . . Đường biên lùi sâu vào đất ta đến năm sáu trăm mét! Đấy là điều không phải chỉ tôi mà nhiều người nữa cũng rất day dứt băn khoăn mặc dù tôi chỉ là một thường dân và tự hỏi: Mình như gái góa lo việc triều đình! Nhưng cổ nhân đã dạy: Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách nhà nước thịnh suy một dân thường cũng phải có trách nhiệm lo lắng bảo vệ. Việc này luôn bức xúc và canh cánh trong lòng tôi!" (trang 55) Là bộ đội Nam tiến tập kết ra Bắc là chiến sĩ biên phòng ngay từ khi thành lập lực lượng này rồi trở thành sĩ quan tuyên huấn anh sĩ quan tuyên huấn bộ đội biên phòng Lương Sĩ Cầm đã nhiều lần đến cửa khẩu Hữu Nghị ở Lạng Sơn sau này trở thành nhà văn đại tá bộ đội biên phòng trong bài viết về cửa khẩu Hữu Nghị ở Lạng Sơn nhà văn đại tá Lương Sĩ Cầm viết: Năm 1955 lấy cớ giúp Việt nam khôi phục đường xe lửa bọn bành trướng đã cho đặt điểm nối ray vào sâu đất Việt Nam 326 mét đến năm 1974 nghĩa là ngót hai mươi năm sau chúng trắng trợn tuyên bố điểm nối ray ở đâu là đường biên giới chạy qua đó hòng cướp của ta một dải đất ăn sâu đến tận chân đồn Hữu Nghị Quan! Sự thật cay đắng như vậy đó! Tháng 1 năm 1974 phương Bắc dùng lực lượng hải quân không quân hùng mạnh đánh chiếm của chính quyền Sài Gòn tòan bộ quần đảo Hòang Sa trải dài hàng trăm kilomet. Quần đảo Hòang Sa bị mất trắng bằng vũ lực bằng cuộc xâm lăng trắng trợn chúng ta còn có thể nhờ luật pháp quốc tế phân xử đòi lại. Bằng cách này hay cách khác nhất định chúng ta sẽ giành lại được quần đảo Hòang Sa đã thấm đẫm máu ông cha ta còn lưu giữ hài cốt nhiều thế hệ ông cha ta! Xã hội càng văn minh con người càng biết tôn trọng luật pháp và đạo lí con người càng có nhu cầu sống trong luật pháp và đạo lí. Thế hệ chúng ta chưa đòi lại được quần đảo Hòang Sa thì thế hệ con chúng ta cháu chúng ta sẽ đòi được. Đó là điều chắc chắn. Nhưng một phần thác Bản Giốc ở Cao Bằng hàng trăm mét chiều sâu đất đai ở Đồng Đăng Lạng Sơn những điểm cao ở Vị Xuyên Yên Minh tỉnh Hà Giang những điểm cao ở Cao Lộc Tràng Định tỉnh Lạng Sơn bị Trung Hoa chiếm trong cuộc chiến tranh biên giới 1979 - 1988 những mảnh đất gấm vóc thiêng liêng của Tổ quốc Việt Nam đã trở thành đất đai Trung Hoa bởi hiệp ước biên giới do hai bên cùng thỏa thuận kí kết năm 1999 thì làm sao có thể đòi lại được thưa ông Thủ tướng? Ở cạnh nhà nước phương Bắc khổng lồ luôn lăm le thôn tính bành trướng cha ông ta vẫn đứng vững và bảo tòan được bờ cõi là nhờ văn hóa Lạc Việt và nhờ ý thức dân tộc rất sâu sắc của người dân nước Việt từ bậc đế vương ngồi trên ngôi báu đến người dân đen nơi xóm vắng. Nền văn hóa Lạc Việt tuy không chói lọi tỏa sáng khắp thế giới nhưng cũng đủ làm nên sự khác biệt của cốt cách Việt Nam tâm hồn Việt Nam. Văn hóa Lạc Việt đã tạo ra điệu hát chèo ở miền Bắc điệu hát lí ở miền Nam tạo ra kho tàng văn hóa dân gian đồ sộ tạo ra ca dao dân ca miền Bắc miền Trung miền Nam mỗi miền một nét độc đáo riêng tạo ra những bản trường ca những khúc sử thi hùng tráng Tây Nguyên. Văn hóa Lạc Việt đã sản sinh ra trống đồng Đông Sơn trống đồng Ngọc Lũ sản sinh ra cồng chiêng Tây Nguyên. Tiếng trống đồng tiếng cồng chiêng luôn âm vang trong không gian sông núi nước Việt. Điệu chèo điệu lí luôn tha thiết trong tâm thức người Việt tạo nên bản sắc tâm hồn Việt. Ý thức dân tộc "Nam quốc sơn hà Nam đế cư" tạo ra truyền thuyết Hùng Vương để mà tự hào tạo ra truyền thuyết Mẹ Âu Cơ sinh ra bọc trăm trứng nở ra trăm con để nhắc nhở đoàn kết thương yêu dân tộc. Ý thức dân tộc bao giờ cũng đưa Tổ quốc lên trên hết. "Tổ quốc trên hết!" "Hi sinh vì Tổ quốc!" nhờ thế Tổ quốc Việt Nam mới vững vàng tòan vẹn đến hôm nay. Nhưng ngày nay nhà nước ta lại đưa đảng lên trên hết! Tổ quốc cho ta khái niệm cho ta ý thức về đất nước về nhân dân về dân tộc. Đảng cho ta khái niệm về một giai cấp một học thuyết một lực lượng xã hội. Đạo lí dân tộc và chữ nghĩa thánh hiền đều dạy con dân nước Việt là Trung với Nước Hiếu với Dân. Đưa Tổ quốc lên trên hết nên ngày mới giành được độc lập sau cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở những nơi công quyền đều có bàn thờ Tổ quốc với hàng chữ trang trọng thiêng liêng "Tổ quốc trên hết". Đưa Tổ quốc đưa đất nước lên trên hết nên phong tục từ ngàn đời của người Việt là mùa xuân về nơi nơi mở hội mừng đất nước thái bình thịnh vượng mùa xuân về người người đi lễ Trời Phật cầu mong mưa thuận gió hòa cuộc sống ấm no hạnh phúc. Ngày nay nhà nước dạy con dân nước Việt là Trung với Đảng Hiếu với Dân mùa xuân về thì Mừng đảng Mừng xuân! Dù đảng có công lao lớn với dân tộc trong giai đọan lịch sử vừa qua nhưng không thể đưa đảng lên trên Tổ quốc trên dân tộc không thể lấy khái niệm đảng thay khái niệm Tổ quốc thay khái niệm dân tộc! Trung với Đảng Hiếu với Dân thay cho Trung với Nước Hiếu với Dân Mừng Đảng mừng Xuân thay cho Mừng Xuân mừng Đất nước là sự thiếu khiêm tốn thiếu lễ nghĩa "Ghế trên ngồi tót sỗ sàng" là đặt đảng không đúng vị trí của đảng là lấn át hạ thấp Tổ quốc hạ thấp đất nước hạ thấp dân tộc! Trong khái niệm trong ngôn từ chỉ có đảng! Khái niệm Tổ quốc bị gạt bỏ mất hút thì ý thức dân tộc cũng phai nhạt chìm khuất! Ý thức dân tộc bị coi nhẹ đến đau lòng còn biểu hiện ra trong việc làm trong hành xử của nhà nước với dân! Thanh niên sinh viên học sinh tập hợp trước sứ quán Trung Hoa ôn hòa phản đối Trung Hoa sát nhập quần đảo Hòang Sa quần đảo Trường Sa vào lãnh thổ Trung Hoa. Đó là nền văn minh Lạc Việt lên tiếng là ý thức dân tộc Việt Nam lên tiếng! Nhà nước dùng công cụ bạo lực trấn áp tiếng nói chính đáng của nền văn minh Lạc Việt trấn áp ý thức dân tộc chính đáng của nhân dân tài sản vô giá làm nên sự trường tồn của non nước Việt Nam đó là một cư xử thiếu văn minh với nền văn minh Lạc Việt là chối bỏ ý thức dân tộc của nhân dân! Tham vọng bành trướng của phương Bắc phải chững lại  trước ý thức dân tộc rất sâu sắc rất mạnh mẽ của vua tôi nước Việt. Ý thức dân tộc vơi hụt đi lập tức phương Bắc sẽ lấn tới! Ở nơi núi liền núi sông liền sông biển liền biển thì họ sẽ lấn núi lấn sông lấn biển. Tài nguyên ở sâu trong lãnh thổ ta họ không lấn chiếm được thì họ sẽ đưa người đến tận nơi khai quật tài nguyên trong đất đai ta đưa về nước họ phát triển kinh tế của họ! Hàng trăm công dân phương Bắc mới đến Tây Nguyên hôm qua rồi hàng ngàn người sẽ đến nay mai là để làm điều đó! Lạ quá qui họach khai thác bô xít ở Tây Nguyên mới được Chính phủ phê duyệt luận chứng kinh tế kĩ thuật đang sọan thảo các nhà khoa học còn đang tranh luận nên hay không nên khai thác bô xít ở Tây Nguyên thế mà công dân Trung Hoa người cầm bản đồ người mang cưa máy người cuốc người xẻng đã xục xạo ở Tây Nguyên! Dư luận người dân Việt Nam đang lo ngại đang xôn xao bàn tán về tính hiệu quả về thảm họa môi trường khi khai thác bô xít Tây Nguyên và càng lo ngại hơn khi hàng ngàn trai tráng Trung Hoa sẽ có mặt đông đảo trùng trùng đội ngũ ở Tây Nguyên trung tâm bán đảo Đông Dương khi đó ông Thủ tướng mới tuyên bố rằng khai thác bô xít Tây Nguyên là chủ trương lớn của đảng và nhà nước! Chủ trương lớn của đảng và nhà nước mà Quốc hội của dân chưa được bàn định thì người Trung Hoa đã xắn tay áo thực hiện chủ trương lớn của đảng và nhà nước ta rồi! Điều này làm cho người dân phải đặt câu hỏi: Chủ trương lớn khai thác bô xít Tây Nguyên có thực sự vì đất nước Việt Nam có thực sự vì nhân dân Việt Nam. Tôi lại nhớ đến câu văn trong tuyên bố chung Việt - Trung mà Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã kí với Tổng bí thư Hồ Cẩm Đào tháng 5 năm 2008 ở Bắc Kinh: Hai nước sẽ thiết lập đường dây nóng giữa các nhà lãnh đạo . . . Việc tranh chấp lãnh thổ lãnh hải giữa hai nước hai bên phải tôn trọng những kí kết của lãnh đạo đã thỏa thuận trong quá khứ! Việt Nam mới có vài xưởng cơ khí nhỏ bé sửa chữa những hư hỏng nhẹ của máy bay. Những xưởng sửa chữa máy bay đó như những tiệm sửa xe máy vỉa hè của ngành mô tô mà thôi! Việt Nam chưa có công nghiệp hàng không lại càng không mơ đến công nghiệp vũ trụ! Vì thế Việt Nam không có nhu cầu lớn và bức thiết về nhôm. Nhu cầu lớn và bức thiết về nhôm là Trung Hoa! Với tham vọng bành trướng Trung Hoa đang khao khát trở thành cường quốc quân sự và cường quốc vũ trụ. Muốn trở thành cường quốc quân sự phải có số lượng lớn vũ khí chiến lược tầm xa hiện đại nhất. Công nghiệp vũ trụ luôn gắn liền với công nghiệp hàng không. Công nghiệp vũ trụ công nghiệp hàng không và vũ khí chiến lược tầm xa cần rất nhiều nhôm. Hiện nay Trung Hoa là nước sản xuất và tiêu thụ nhôm lớn nhất thế giới. Trung Hoa cũng có nhiều mỏ bô xít nhưng trữ lượng nhỏ. Trữ lượng bô xít của Trung Hoa chỉ bằng 2% trữ lượng tòan cầu. Đang hối hả khai thác bô xít trong nước thì Trung Hoa phải dừng lại! Có mỏ bô xít Trung Hoa đã đầu tư tới gần hai tỉ đô la vừa đưa vào khai thác cũng phải đóng cửa vì thảm họa môi trường! Ngòai lượng bùn đỏ red mud ngập ngụa làm tan hoang môi trường tự nhiên giết chết màu xanh sa mạc hóa một vùng rộng lớn khai thác bô xít còn phải sử dụng nhiều hóa chất độc hại như sulfur dioxide. Vùng khai thác bô xit sa mạc đỏ xuất  hiện khí hậu nóng lên bệnh lạ và bệnh hiểm phát triển cây trồng vật nuôi không sống nổi! Trước tình cảnh đó Trung Hoa phải đưa ra chính sách: Xuất khẩu thảm họa môi trường và nhập khẩu nhôm thô alumina nguyên liệu về luyện thành nhôm kim lọai alminium để thỏa mãn tham vọng phát triển công nghiệp vũ trụ công nghiệp hàng không và công nghiệp sản xuất vũ khí chiến lược tầm xa. Cả lục địa đen châu Phi đã trở thành bãi khai mỏ của Trung Hoa cung cấp nguyên liệu thiết yếu cho cả nền công nghiệp nhiều tham vọng của Trung Hoa. Trung Hoa ồ ạt đưa người đến châu Phi khai mỏ dầu ở Sudan Nigéria Angola khai mỏ đồng ở Zambia Congo khai mỏ sắt ở Libéria và khai mỏ bô xít ở Guinea. Có một điều rất đáng chú ý là những nước châu Phi cho Trung Hoa đến rút ruột tài nguyên phần lớn là những nước độc tài tham nhũng và các tổ chức quốc tế đã lên án mạnh mẽ Trung Hoa chỉ cốt khai thác thật nhanh thật nhiều tài nguyên của các nước mà không hề quan tâm đến môi trường sinh thái nơi khai thác sẽ để lại hậu quả bi thảm cho môi trường sống ở những nơi đó! Trữ lượng bô xít ở Guinea không lớn lại quá xa xôi với Trung Hoa. Phải vận chuyển lượng lớn nhôm thô alumina đi chặng đường gần hai mươi ngàn cây số bịển dữ vừa quá tốn kém vừa nhiều bất trắc trở ngại! Trong khi bô xít ở Tây Nguyên Việt Nam có trữ lượng khá lớn lại kề cận với Trung Hoa. Thế là người Trung Hoa mau mắn đặt chân lên mảnh đất bô xít có màu tím lịm như miếng tiết gà ở Tây Nguyên nước ta! Và chúng ta cũng chấp nhận để Tây Nguyên nước ta trở thành bãi khai mỏ của người Trung Hoa với những hậu quả bi thảm cho môi trường Tây Nguyên sao? Khai thác bô xít Tây Nguyên các nhà khoa học đã nói về hiệu quả kinh tế không lớn không đáng với những thiệt hại quá lớn về môi trường. Các nhà khoa học đã nói về những bất cập: Khai thác bô xít cần quá nhiều nước mà hằng năm Tây Nguyên đều có hơn nửa năm khát nước; Khai thác bô xít cần quá nhiều điện mà nước ta đang thiếu điện. Các nhà khoa học đã nói về hiểm họa: Khai thác bô xít thải ra khối bùn đỏ khổng lồ đặt chênh vênh trên nóc nhà ba nước Đông Dương. Khoan nói đến thảm họa bùn đỏ chỉ cần nhớ lại mấy trận lũ quét gần đây. Từ nguồn ra biển của các con sông miền Trung đều rất ngắn độ dốc rất cao rừng cây có vai trò rất lớn trong việc giữ nước làm gỉam lượng nước của các con lũ. Chỉ mấy tên cướp rừng chặt trộm mấy cánh rừng ở Gia Lai ở Lâm Đồng ở Đắc Nông mà suốt nhiều năm liền cả dải đất miền Trung liên tiếp bị lũ quét mỗi năm quét đi hàng chục mạng người quét đi đất màu nhà cửa hoa màu hàng trăm ngàn hecta! Khai thác bô xít Tây Nguyên diện tích rừng bị phá còn lớn gấp trăm ngàn lần diện tích rừng bị mấy tên cướp rừng tàn phá thì thảm họa sẽ còn lớn đến mức nào? Không gian văn hóa Tây Nguyên đang bị thu hẹp nghiêm trọng. Nhiều năm qua dòng người di dân tự do từ miền Bắc từ đồng bằng miền Trung ồ ạt đổ bộ lên Tây Nguyên. Không gian văn hóa làng rừng Tây Nguyên đã bị thu hẹp rất lớn trước sự mở rộng của không gian văn hóa làng vườn của người Việt đồng bằng. Những sự biến nổ ra vừa qua ở Tây Nguyên chính là những phản ứng văn hóa xung đột văn hóa. Nay hàng ngàn trai tráng Trung Hoa đến quần thảo đào xới đất rừng Tây Nguyên. Họ không chỉ mang văn hóa Đại Hán "bình thiên hạ" mà họ còn mang cả thứ văn hóa của hàng hóa Trung Hoa hàng hóa tiêu dùng hào nhóang rẻ tiền và rất có ý thức chinh phục chiếm lĩnh thị trường sẽ đổ vào Tây Nguyên! Biến Tây Nguyên thành một công trường không còn rừng cây chỉ có ngổn ngang bùn đất họ cũng biến Tây Nguyên thành cái chợ Trung Hoa! Rừng cây đại ngàn Tây Nguyên là cội nguồn văn hóa làng rừng đầy bản sắc Tây Nguyên. Rừng cây đại ngàn Tây Nguyên bị đào tận gốc trốc tận rễ thì văn hóa làng rừng Tây Nguyên cũng bị đào tận gốc trốc tận rễ! Khai thác bô xít Tây Nguyên là chủ trương lớn của đảng và nhà nước. Nhưng khai thác bô xít Tây Nguyên cũng đặt ra những vấn đề rất lớn về độc lập dân tộc về mục đích và hiệu quả sử dụng tài nguyên đất nước về môi trường sống và không gian văn hóa của đất nước. Tòan vẹn lãnh thổ độc lập dân tộc tài nguyên và môi trường đất nước tài sản văn hóa của dân tộc vì những vấn đề lớn và nghiêm trọng đó tôi mạo muội bộc lộ nỗi lo lắng của một con dân nước Việt mong được Thủ tướng lưu tâm. Trân trọng cảm ơn Thủ tướng                    Kính thư         PHẠM  ĐÌNH TRỌNG
                 Nhà văn
       A.  94 Phạm Văn Bạch P.15 Q. Tân Bình Tp. Hồ Chí Minh
       T.   091 8483 823
                                                     NƠI  NHẬN
. Thủ tướng NGUYỄN TẤN DŨNG
. Nhà thơ HỮU THỈNH Chủ tịch Hội Nhà Văn Việt Nam
. Chi bộ P. 15 Q. Tân Bình Tp. HCM
. Các cơ quan truyền thông  

More...

Hư Thực- một hành trình còn dài

By DƯƠNG HƯỚNG

Cuốn tiểu thuyết "Hư Thực" của nhà văn Phùng Văn Khai xuất bản hồi đầu năm 2009 do nhà xb Văn Học ấn hành đã gây được sự chú ý của bạn đọc vì lối viết mới. Sau bài viết giới thiệu của tôi tác giả Đặng Văn Sinh đã có cái nhìn sinh động và sắc sảo trong "Hư Thực" với bài viết " Hư thực sự thể nghiệm của tiểu thuyết ảo giác" Nay tình cờ tôi lại được đọc bài viết của Trần Sáng về cuốn Hư Thực trên trannhương.com. Tôi xin phép tác giả được post về trang nhà để bạn đọc tham khảo.






























Hư thực - Một hành trình còn dài
Trần Sáng
 

  Một cốt chuyện không rõ ràng với các nhân vật mơ hồ mộng mỵ kỳ ảo. Một câu chuyện đọc xong khó có thể kể lại được.
Hư Thực (tiểu thuyết của Phùng Văn Khai - NXB Văn Học 2008) rõ ràng đã mang những đặc điểm của tiểu thuyết mới - mới ở đây xin được hiểu theo tinh thần của Alain Robber Gillet (nhà tiểu thuyết người Pháp một đại diện tiêu biểu cho dòng tiểu thuyết này) là: lối viết phá thể xóa bỏ tuyến tính đảo lộn quá khứ và hiện tại đảo lộn trật tự lô gic. Với lối viết này tác giả như đặt lại vấn đề hiện thực. Đối với tiểu thuyết mới cái hiện thực đáng chú ý chính là cái hiện thực mang trong trí nhớ trong trí tưởng tượng của nhà văn... Hiện thực thường nhật lọt vào trường quan sát thị giác của con người chỉ tầng hiện thực thứ nhất hiện thực duy lý nó chỉ là cái đà để để người viết tiếp tục dấn sâu vào trong hành trình khám phá vũ trụ nội tâm sâu thẳm cua con người.
Rõ ràng với những đặc điểm như vậy thì người đọc truyền thống với tư cách là những chủ thể tiếp nhận sẽ buộc phải thay đổi cách đọc để có một hệ mỹ học tương ứng khi đọc tiểu thuyết Hư Thực. Nếu không liệu họ có thể kể lại một cách mạch lạc về cuộc đi của Y và họ Đào chăng? (hai nhân vật chính của tác phẩm). Chắc chắn đó sẽ là một thử nghiệm thất bại bởi cái hành trình mộng mỵ khởi hành trong một đêm trăng lạnh cuối đông đó không hề có chỗ cho những suy nghĩ mạch lạc những đoạn đối thoại mạch lạc những hành động mạch lạc dưới sự kiểm soát mạch lạc của lý tính. Tất cả là những dòng suy tư những hình ảnh mơ hồ rời rạc đứt nối tưởng chừng cực kỳ rối rắm vô minh. Tuy nhiên nếu người đọc kiên quyết chối bỏ vai trò giám sát hà khắc và lạnh lẽo của lý tính thì hành trình của Hư Thực sẽ hiện dần lên như trong trò chơi xem tranh không gian ba chiều - một trò chơi  mà hình ảnh thực của bức tranh chỉ hiện ra khi lớp hình ảnh bên ngoài đã bị xóa nhòe - đó là một hành trình đi tìm tự do một hành trình trở về với bản ngã chân thực của con người mà Y và họ Đào là những đại diện. Cũng với cách thấu thị như vậy Trong Hiện thực thứ hai của bức tranh đó theo lối tiên nghiệm những câu hỏi hiện sinh sẽ dần hiện lên như: Đời sống của chúng ta là gì? Tự do là gì? Phải làm sao để thấu triệt được nó? Những ảo giác ma quái của Y về người bạn đồng hành về mối tương giao kỳ lạ của anh chàng nhà văn kỳ quặc này với bầy sói (trong truyện gọi là lũ Hồng Cẩu Quẩy) với cô gái người rừng. Phải chăng là báo động một tình trạng bất khả kháng của con người bị vây khốn trong cái bẫy đời sống tham lam đang dần dà thít lại. Y và họ Đào hai mà phải chăng chỉ là một rồi cách nhìn đa phức trập trùng những mâu thuẫn của Y về họ Đào khi thì phấp phỏng những lo âu nghi hoặc như đối với một kẻ hôn ám luôn tiềm ẩn đầy những bất an . (trích trang 10:... họ Đào nằm bất động mắt mở trừng trừng có một làn khói mỏng đùn phảng phất trên khuôn mặt hoang hóa râu ria lạnh lẽo...Y nằm như bắt vít xuống gường. Tim óc Y bắt đầu cựa quậy rồi sùng sục sôi lên. Mẹ kiếp! nếu là ma thì ta đây chứ không phải là mi có quyền trỗi dậy dọa nạt bạn bè. Cầm bút thì cùng cầm bút hà cớ gì mà ma mãnh xảo thuật trù úm anh em..." nhưng có lúc lại hồ hởi khâm phục như đối với một người  viết cao quí đích thực một nhân cách cao quí hiếm hoi không muốn dùng ngòi bút để xu thời nịnh thế: "... cứ như họ Đào thân cô thế cô lang bạt kỳ hồ bấp bênh nghề ngỗng gia đình xa vắng vợ con không màng tiền tài im lặng. Độc thân hơn bốn mươi năm lại tội nợ cầm bút viết văn lại viết không xu thời chiều thế thì kiếp người  cũng như kiếp bướm như có như không..." như một cách nhận diện bản thể độc đáo họ Đào phải chăng chính là một nhị bản của Y? là phần vô thức sâu thẳm trong mỗi con người chúng ta mà ngay cả sự minh triết cũng chưa bao giờ thấu triệt.
 Vô thức theo tinh thần của Sigmund Freud đó là những sự kiện tâm linh cá nhân chìm khuất trong góc tối của tâm hồn và không bao giờ biểu hiện hoàn toàn khác với bản năng. Nó là động cơ tiềm ẩn có khi trở nên mãnh liệt thôi thúc hành động đến mức không kiểm soát được. Không hợp với lý trí... Trong Hư thực vô thức được Phùng Văn Khai sử dụng như một cỗ Linh Xa ma quái để cho nhân vật đầy mộng mỵ là Y đẩy đi rất xa trong hành trình ngược lặn sâu vào bản thể như một phản ứng trước hiện thực đầy bất an.
Rồi con mắt thứ ba của Y được khai mở phải chăng chính là Huệ nhãn  tàng ẩn trong mỗi chúng ta một thần nhãn hằng tồn nhưng chưa bao giờ được khai mở vì nó đã bị vùi lấp một cách thô bạo bởi chấp ngã nặng nề trong mỗi con người.
Phải chăng? nó là một sự dự báo cho một cách nhìn khác về con người về đời sống? Con người với phần chìm của tảng băng tâm linh rõ ràng không thể là đối tượng cho những lối nhìn giản lược thô thiển.
Những hình ảnh hay là những ảo giác những giấc mơ trong Hư Thực. Tựa như các mảnh vỡ của của một lọ độc bình cổ. Tuy mỗi mảnh chỉ chứa một nét hoa văn kỳ quặc nhưng trong nó lại ẩn chứa những trầm tích ngữ nghĩa khốc liệt. Cô gái dã nhân bị săn đuổi như một lời chối bỏ quyết liệt đối với sự vô minh tăm tối của cái gọi là thế giới văn minh đang nặng nề ô nhiễm. Cuộc hốn chiến của những đạo quân vàng quân đen. Phải chăng là hình ảnh của thế giới phi lý bất ổn với những bạo lực khủng bố xung đột triền miên. Những thằng người mặc áo số (tù nhân) lầm lũi vô cảm phá phách. Là gì? nếu không phải là tâm lý bầy đàn với những ứng xử máy móc phi nhân bản của các bản ngã bị đè bẹp bởi tầng tầng những định chế lạnh lùng. Người nhà của ông lão tật nguyền đang lún dần lún dần cô gái điên sống trong bãi rác với những con búp bê tết bằng nilon. Tất cả các mảnh vỡ đó ghép lại đã nói lên điều gì? nó cảnh báo một tình trạng bất ổn một hiện thực phi nhân của đời sống dưới lớp vỏ êm đềm.
Mặc dầu chở trên mình bao thông điệp lớn lao là vậy song thật đáng tiếc Hư thực chưa thể được coi là một cuốn tiểu thuyết mới hoàn chỉnh. Trước hết là về mặt ngôn ngữ tác giả chưa thành công trong việc xác lập một hệ ngôn ngữ riêng cho tác phẩm. Nếu như một tác phẩm theo phong cách truyền thống đòi hỏi một ngôn ngữ càng sáng rõ khúc triết bao nhiêu càng tốt. Thì ngược lại với một cuốn tiểu thuyết đầy ảo giác mộng mỵ như Hư Thực cần tương thích một lối hành ngôn mơ hồ sương khói tiệm cận đời sống có lẽ sẽ hiệu dụng hơn chăng? Mặt khác chỉ khi tác giả dụng ngôn một chất liệu như vậy thì ngôn ngữ mới có tính tự trị và văn bản mới trở thành một văn bản mở một "kết cấu vẫy gọi" (theo cách gọi của W.Iser và U.Eco - các nhà chú giải học hiện đại và phê bình ký hiệu học). Và lúc này thì văn bản hoàn toàn có quyền trịnh trọng mời độc giả cùng tham gia vào hành trình khám phá hứa hẹn đầy thú vị.
Trong trập trùng những cơn mơ hình ảnh tác giả có thể biến nó thành trùng trùng những biểu tượng có tính ẩn dụ cao và giàu sức biểu nghĩa. Thật đáng tiếc là trong Hư Thực mặc dù rất nhiều những hình ảnh những sự kiện những câu chuyện phi lý kỳ ảo (con tàu chạy trong đêm trăng lũ sói mắt đỏ - Hồng Cẩu Quẩy linh hồn thiếu nữ hóa thân vào cây Sung - Mộc tinh - cô gái dã nhân người đàn bà điên những con búp bê rác ông già tật nguyền sống trong căn nhà đang lún xuống v.v.... Nhưng hình như chưa có hình ảnh nào đủ tính tượng trưng như một biểu tượng cũng như chưa có câu chuyện nào có thể toả ra từ trường của sự ám ảnh để trở thành một huyền thoại.
 Trong một sự so sánh chưa thực sự được thỏa đáng lắm thì Nguyễn Bình Phương (một nhà văn thường sử dụng bút pháp hiện thực kỳ ảo trong các sáng tác của mình đã  xác lập được một lối hành ngôn riêng rất độc đáo nó nằm ở biên giới mong manh giữa cái lạnh lùng cuả một kẻ quan sát ngoài cuộc  (tính phi chủ thể-theo cách gọi của các nhà lập thuyết hậu hiện đại) với sự chủ động dự phần của một chủ thể sáng tạo. Chất thơ của văn phong cùng với những quan sát trực giác tâm linh tinh tế và sự dụng công trong cấu trúc ngôn ngữ... đã đem đến một chiều sâu triết học cho tác phẩm: "Mưa xuân ắt phải khác mưa rào. Mưa xuân buồn bã phơ phất lang thang như người mộng du mặc áo xám đi trên đồng vắng bãi thưa. Mưa rào lấp lánh ngân nga tiếng chuông. Sấm gừ gừ ở chốn cao xa uyển chuyển hệt như con mèo thoắt lui về thoắt phóng ra soãi hai chân trước móng co cứng lại cào lên tấm vải bạt đã cũ rích nhưng còn khá bền. Mưa rào thực sự là một đám rước." (trang 9- tiểu thuyết Người đi vắng) Hoặc: "Cái chết bao giờ cũng là điều vĩ đại cuối cùng mà con người đạt đến. Bao nhiêu năm nay con người cứ khao khát thanh thản khao khát tự do bình đẳng khao khát cả nỗi cô đơn tịch mịch nữa? Những điều đó đều nằm trong cơ thể của cái chết." (trang 173- tiểu thuyết Những đứa trẻ chết già)
Trong Hư Thực mặc dù tác giả đã đúng khi chọn một lối hành văn thiên về triết luận để diễn đạt song cũng giống như đa số các trường hợp tương tự bi kịch của sự "lực bất tòng tâm" đã đã bộc lộ qua những triết lý vụng về chủ quan khinh xuất thậm chí đỗi chỗ có thể còn phản lại tác giả một cách không chủ định:." Đừng tưởng đầu đường xó chợ là không còn nhân cách. Chúng ta phải có những suy nghĩ khác ông bạn ạ. Phải biết cúi mình xuống. Phải nằm sát đất nghe giun dế than thở". (trích tiểu thuyết Hư Thực)
Đọc đoạn văn này hẳn chúng ta phải hiểu rằng tác giả đã công nhiên khẳng định vai trò "thượng đế" của nhà văn và nghiêng mình cúi xuống lắng nghe những lời rên rỉ của đám giun dế (cũng có thể hiểu là những nỗi đau khổ của chúng sinh). Hẳn nhiên đây phải là một hành động hạ cố! Tuy nhiên điều này lại hoàn toàn mâu thuẫn với tinh thần hiện sinh của toàn bộ câu chuyện. Và như vậy thì căn để sâu sa của hiện trạng này chỉ có thể giải thích là: Tác giả đã không có một căn bản triết học vững chắc đủ sức nâng bổng tác phẩm của mình lên (mượn cách nói của nhà bác học Hy Lạp Arsimet). Đây cũng là điểm yếu chí tử của người viết nước ta nói chung đặc biệt với những tác giả sáng tác theo phong cách hậu hiện đại.
Cũng là những hành trình lặn sâu vào bản thể đặt ra những hoài nghi về hiện thực (theo tinh thần của Milan Kundra: tiểu thuyết là hiền minh của sự hoài nghi) nhưng những hoài nghi được đặt ra trong Hư Thực mới chỉ dừng lại ở những hoài nghi xã hội học chứ chưa phải là những hoài nghi triết học.
Bên cạnh đó thì sự thiếu một trực giác tâm linh bén nhạy (cũng theo lối tiên nghiệm đây gần như là một điều kiện cần của dạng tiểu thuyết này). Chính điều này đã dẫn đến hiện trạng mặc dù tác giả đã sắm được cỗ xe linh giác nhưng thật đáng tiếc kẻ cầm cương dẫn dắt cuọc hành trình lại là một gã xà ích có tên là duy lý. Chính vì thế tác phẩm vẫn chưa tạo được sự ám ảnh tèi đa cần thiết lên người đọc: " Làng Bái những ngày ấy chìm trong đói nghèo xơ xác và u ám. Từng rặng tre ken dày lớp lớp chạy vòng quanh làng lu"n rũ xuống ủ ê. Đêm đêm những thân tre kẽo kẹt cọ vào nhau vọng ra thứ âm thanh ma quái. Trẻ con làng Bái từ bao nhiêu năm lớn lên trong những âm thanh u ám quái đản ấy lớn lên trong sự thì thào dọa dẫm tị nạnh đe loi của những kẻ góa chồng góa vợ tai ác đầy khó hiểu những gã ma cô ma cậu lạc từ đâu đến và mấy ông cán bộ cán bèo quen đấu đá bị mất chức quyền suốt ngày hậm hực chuyên xúi bẩy người nhẹ dạ và tự mình trộm cắp vặt". thì cã thể thấy bất chấp những nỗ lực tự thân tác giả vẫn không xác lập được một huyền thoại mới để lý giải một cách thuyết phục cho sự biến mất của người làng.
Với ý hướng lý giải về sự tha hóa của con người. Nhưng với không gian u ám tối tăm cùng với những bi kịch nhân sinh như: cái chết bí ẩn của đứa bé cùng câu chuyện loạn luân điên rồ của gã đàn ông thô lậu được diễn đạt như một lát cắt nhỏ trong câu chuyện dường như mới chỉ là những thế chấp nhẹ cân. trong một biểu hiện tương tự để lý giải cho sự biến mất của làng Macondo của G.Macket (tiểu thuyết Trăm năm cô đơn - giải NoBel văn học năm 1982-NXB văn học năm 1993) được bảo chứng bằng một đại tự sự của một dòng họ với một phổ hệ kéo dài đến bẩy đời và đương nhiên sức thuyết phục lớn đã toát ra bởi cả không gian văn hóa kỳ bí của tân lục địa đã được chở trên con thuyền có trọng tải khổng lồ đó.
Tuy nhiên đối với một người mới nhập môn dòng tiểu thuyết mới như Phùng Văn Khai thì làm được như vậy kể ra cũng là đáng kể. Bên cạnh đó sự không bằng lòng với những thứ cũ mòn nhàm sáo để thử sức trong công cuộc khai phá những vùng đất mới luôn là những nỗ lực đáng tôn trọng và khâm phục của bất kỳ người cầm bút nào. Bởi lẽ thiếu điều này thì liệu nhà văn liệu có xứng đáng được gọi là người sáng tạo. Con đường văn học là con đường vạn lý nó chưa bao giờ từ chối bất kỳ khách lữ hành nào. Những thể nghiệm của Phùng Văn Khai tuy kết quả còn rất vừa phải song dù sao đó cũng là những bước dầu tiên của một hành trình còn dài.  

More...

Những số phận Sơn Mỹ

By DƯƠNG HƯỚNG

Những số phận

Sơn Mỹ

(Tưởng niệm 41 năm vụ thảm sát Sơn Mỹ 16.03.1968)

"16-3-1968 nhằm ngày 18-2 Mậu Thân chỉ trong vòng bốn giờ 504 người dân Sơn Mỹ đã bị thảm sát bởi một đại đội lính Mỹ. Từ đó đến nay hằng năm cứ đến ngày 16-3 dương lịch người dân lại đến xã dự một buổi lễ chung; rồi ngày 18-2 âm lịch lại đứng trước bàn thờ nhà đối diện với nỗi đau riêng của mình.

"Có biết bao vùng đất đã nổi tiếng thế giới vì cảnh đẹp vì chiều sâu lịch sử và vì có những danh nhân. Riêng Sơn Mỹ của tôi nổi tiếng vì nó đau thương nhất" nhà thơ Thanh Thảo nói.

Năm 1998 lần đầu tiên trong vòng 30 năm ngày 16-3 dương lịch lại trùng với 18-2 âm lịch. Nhang khói lại âm thầm lan ra trong từng ngõ xóm.

Thư - 24 tuổi sinh viên Sư phạm Huế khoa Anh - bắt đầu công tác ở khu chứng tích Sơn Mỹ kể từ hai tháng nay. Thư kể người Mỹ đầu tiên mà cô hướng dẫn đã bật khóc hu hu. Hai lần người Mỹ này ngồi vào bàn định viết vài dòng cảm nghĩ nhưng cả hai lần anh ta đều khóc. "Tôi xấu hổ vì những đồng bào của tôi" anh nói rồi hỏi Thư: "Người dân Sơn Mỹ còn căm giận lính Mỹ căm giận nhân dân Mỹ không?". Thư an ủi: "Sơn Mỹ không bao giờ quên những người lính Mỹ đã giết cha mẹ anh em họ. Nhưng trong buổi sáng hôm ấy cũng có những người Mỹ tốt; nếu không có những người tốt đó thế giới đã không biết tới tội ác này".

Sáng 8-3-1998 chị Thao - một hướng dẫn viên kỳ cựu của bảo tàng - dẫn chúng tôi xuống xóm Thuận Yên. Bà Trương Thị Lê - lúc xảy ra vụ thảm sát bà mới 38 tuổi - kể lại rằng: "Sáng hôm đó chưa kịp ăn uống gì thì Mỹ đến. Mỹ đến xóm này thường. Mọi ngày vẫn cho kẹo xoa đầu trẻ con nên chúng tôi cũng không để ý. Nhưng...".

Herbert Carter một lính Mỹ đã tự bắn vào chân để khỏi tham gia cuộc thảm sát nhớ lại: "Tôi thấy một cụ già đứng giữa ruộng lúa vẫy tay thân thiện. Nhưng lính Mỹ hạ sát ngay. Tôi chẳng thấy một Việt cộng nào cả chỉ toàn những nông dân chạy ra khỏi túp lều bị đốt và bị bắn chết". Bà Trương Thị Lê hôm đó bị dẫn ra bờ mương và khi lính Mỹ bắt hơn một trăm người dân cứ đứng lên ngồi xuống thì bà nhìn thấy những họng súng. Bà Lê không đứng lên bà ôm đứa con trai sáu tuổi nằm gí sát xuống bờ mương. Súng nổ. "Nhờ có ba xác chết đè lên mẹ con tôi mới thoát". Hôm đó ngay chỗ bà Lê có 102 người bị thảm sát. "Chôn tập trung không chiếu đương gì cả". Bà Lê khóc dù đã 30 năm dù bà đã kể câu chuyện này hàng trăm hàng vạn lần.

Buổi sáng hôm đó trên vùng trời Sơn Mỹ còn có chuẩn úy Thompson. Hugh Thompson bay trên một chiếc trực thăng được phái đi tìm "vixi". Qua một ruộng lúa Thompson thấy một phụ nữ bị thương bèn bắn pháo hiệu xin cứu cấp. Nhưng lính Mỹ mặt đất chạy tới không những không cứu cấp mà còn xả súng bắn chết người phụ nữ kia. Thompson lượn thêm một vòng thì thấy một nhóm khoảng mười người Việt đang bị gom lại. Một tốp lính Mỹ đang dự định giết họ. Thompson ra lệnh cho xạ thủ Lawrence Colburn chĩa súng máy vào bọn lính Mỹ và "bắn ngay nếu lính Mỹ nào bắn vào dân làng". Sau đó Thompson gọi một trực thăng khác tới đưa những người dân này đến nơi an toàn.

Bà Phạm Thị Nhành lúc đó 14 tuổi kể: "Bị đưa lên khỏi hầm tôi cứ sợ bị hiếp nên lấy đất trét lên mặt. Khi bị đẩy lên trực thăng tôi lại càng sợ cứ khóc hu hu". Bà Nhành nói thêm: "Tôi không chịu lên trực thăng cứ nghĩ là chúng xúc đổ ra biển. Nhưng người lính Mỹ trắng cứ cố đẩy lên rồi đóng sập cửa lại. Khi lên đến Trường An trực thăng hạ xuống người Mỹ ra hiệu cho chúng tôi đừng quay lại nơi lính Mỹ đang bắn giết". Chúng tôi nói với bà: "Người Mỹ ra lệnh cứu bác hôm đó là ông Thompson ông ấy sắp tới đây". Gương mặt của bà Nhành sáng lên: "Tôi phải cám ơn ông ấy. Chính ông ta đã cứu mạng chín người chúng tôi".

Cũng sáng hôm ấy trên đường trở về một người lính của Thompson là Glenn Andreotta nhìn thấy trong đống xác người bị giết một cái gì ngọ nguậy. Thompson ra lệnh hạ xuống và họ tìm thấy một bé trai "khoảng ba tuổi" mình mẩy đầy máu nhưng còn sống. Đứa bé được đưa về thị xã Quảng Ngãi. Thực ra bé trai lúc đó đã sáu tuổi nhưng bị còi. Tên cậu ta là Đỗ Ba.

Bà Nga cô ruột của Đỗ Ba kể: "Trong vụ thảm sát đó mẹ và hai em của Đỗ Ba bị giết chết. Cha Đỗ Ba tháng 4-1975 là tù chính trị được đưa từ Côn Đảo về nhưng ông chết bệnh chỉ sau đó vài tháng. Đỗ Ba ở với chúng tôi năm 1979 cháu đang đi học thì có một cán bộ ở trên xuống xin cho cháu nghỉ học rồi đưa đi Đức tố cáo vụ Sơn Mỹ và tham dự trại hè. Trở về cháu có tên mới là Đỗ Hòa. Cháu nó có được ít tiền lại không chịu được đồng ruộng vất vả nên bỏ đi Sài Gòn. Mãi tới tháng rồi cháu mới gửi thư về nói là cháu phạm pháp nên đang ở trại K2 Z30A Xuân Lộc Đồng Nai. Cháu cho biết cuối năm nay sẽ được ra".

Chị Thao 43 tuổi quê ở Sơn Mỹ theo du kích lên rừng từ nhỏ. Sau 1975 chị chỉ học hết lớp 2 tự học hết lớp 12 năm 1984 thi đậu vào Đại học Văn hóa năm 1988 về quê xin vào làm trong khu chứng tích Sơn Mỹ. Sau đó chị là người phụ trách bảo tàng này. Cũng trong năm 1988 chị Thao hướng dẫn đoàn làm phim Nhớ Sơn Mỹ của người Anh. Những người làm phim cho chị xem những đoạn phim quay cảnh những tên lính Mỹ tham gia vụ thảm sát trở về luôn phải mang theo mình lọ thuốc an thần.

Riêng trung úy Calley kẻ trực tiếp chỉ huy trung đội 1 đại đội Charlie trung đội bắn giết dã man nhất cũng đã phải thú nhận với đoàn làm phim: "Tôi có một đứa con gái mỗi khi nó vấp té tôi lại có cảm giác như đang thấy những đứa trẻ Mỹ Lai bị bắn gục xuống". Suốt hai tuần liền chị Thao không lấy một đồng tiền công nào chỉ xin bộ ảnh gần 100 tấm mà đoàn làm phim thu thập từ Mỹ về những số phận Mỹ Lai.

Trưa 8-3-1998 hàng trăm người dân Sơn Mỹ tụ tập xem một chiếc máy gặt hiệu Yanmar lần đầu tiên được đưa về. Nhưng ở những thửa ruộng khác người nông dân vẫn tay liềm tay hái giữa trưa giở cơm nắm ra ăn ngoài đồng. Năm 1997 Sơn Mỹ mới có điện. Cũng trong năm Nhà xuất bản Văn Học tái bản tập thơ Trẻ con ở Sơn Mỹ của nhà thơ Thanh Thảo (viết năm 1976). Thanh Thảo lại về và giật mình bởi vẫn còn có bao trẻ em ở đây thất học. Một mình lặn lội vào Nam ra Bắc Thanh Thảo đi quyên góp tiền để lập một quĩ học bổng cho trẻ em nghèo hiếu học ở làng quê đau khổ này. (Trước đó năm 1994 báo Tuổi Trẻ đã xây tặng Sơn Mỹ năm phòng học cấp 52 học bổng trợ vốn cho 14 giáo viên).

Chị Thao mỗi ngày lại thu thập thêm được một chứng tích mới về Sơn Mỹ. Những tấm ảnh mà chị Thao thu thập được phần lớn do Ronald Haeberle chụp. R.Haeberle là phóng viên ảnh thuộc biên chế quân đội Mỹ. Sáng 16-3-1968 một tuần trước khi R.Haeberle giải ngũ anh được lệnh đi theo đại đội Charlie. R.Haeberle mang theo ba máy ảnh hai chiếc của quân đội lắp phim đen trắng còn chiếc của riêng thì lắp phim màu.

Hơn một năm sau R.Haeberle công bố những tấm hình này trên tờ Life. Hôm đó Haeberle chụp được cảnh một tốp phụ nữ tụm lại với nhau dưới gốc gòn gương mặt đau đớn và sợ hãi đến cùng cực. Ít giây sau họ bị bắn chết. Haeberle cũng chụp được cảnh em bé trai Trương Năm 4 tuổi bị thương anh là Trương Bốn 6 tuổi nằm đè lên che chở cho em. Ít giây sau lính Mỹ xả súng bắn chết hết...

30 năm sau tôi trở lại thôn Cổ Lũy nơi đại đội của Medina đã thảm sát 97 người gặp anh Lương Hùng - 49 tuổi một dũng sĩ diệt Mỹ một thương binh còn mảnh đạn nằm bên lá lách. Anh Lương Hùng nhớ lại buổi sáng hôm đó khi từ trong địa đạo Mỹ Khê chạy về thấy những xác chết ngổn ngang thấy bà thím dâu Võ Thị Mại nằm trên vũng máu bên cạnh là đứa trẻ sơ sinh. Anh Hùng kể: "Bà thím tôi sinh hồi 5 giờ sáng 7 giờ tụi lính tới hiếp cho đến chết". Cặp mắt anh Hùng dần đỏ hoe rồi nước mắt cứ thế lăn xuống hàm râu tua tủa của anh.

HUY ĐỨC
(TT 12- 3-1998)

 

 

Bài viết này của tôi còn có một đoạn nói về những kẻ sát nhân này đã từng rất thân thiện với người Sơn Mỹ cho đến khi rất nhiều lính Mỹ "biến mất" rồi những người lính vẫn cho trẻ con kẹo đấy được tìm thấy khi chỉ còn là những cái xác không toàn thây. Từng "chiếm đóng" tôi hiểu tình huống ấy. Đoạn này sau đó đã bị báo Tuổi Trẻ biên tập. Tôi nhớ là lúc ấy tôi đã không phản ứng như tôi vẫn thường làm mỗi khi bài của mình bị cắt. Sự trả thù nhắm vào thường dân là điều không bao giờ có thể bào chữa với bất cứ lý do gì.   

CHÚ THÍCH ẢNH: Hình trắng đen là kẻ chỉ huy vụ thảm sát: trung úy William Calley.

More...

KHI TÀI NĂNG BỊ...CỰ TUYỆT!

By DƯƠNG HƯỚNG

KHI TÀI NĂNG BỊ ... CỰ TUYỆT!

UMBERTO ECO (*)



Các bạn có biết ai là người chối bỏ Boleslaw Prus hay Gustave Flaubert không? Tuy điều này không thể tìm thấy trong cuốn sách gây tò mò gây xôn xao dư luận của Andre Bernard với tựa đề
Những lời từ  chối - gác bỏ đầy bất lực nhưng chính vậy mà các bạn biết được điều thú vị hơn: vì sao họ bị khước từ - cự tuyệt?

Trong tuyển tập hấp dẫn này đã nêu dẫn chứng qua những đánh giá tiêu cực về các tác phẩm bất hủ cùng những lời "gác bỏ" đối với nhiều bản thảo lừng danh... 

More...

Ba mươi năm xiêu xiêu nỗi nhớ

By DƯƠNG HƯỚNG

BA MƯƠI NĂM XIÊU XIÊU NỖI NHỚ  THƠ VĂN CÔNG HÙNG |                                           Tặng Phạm Ngọc Xuân

 


                   Rồi trở về

                   Con sông xưa vẫn thế

                   Hàng cây nào xanh đến chẳng thể hơn

                   Tôi với Krông Pa níu nhau bằng cái màu xanh không tưởng ấy

                   Nôn nao những ngày mùa khô dợm nắng ven sông...



                  

More...

Về một vụ bạo hành ở Hà Nam

By DƯƠNG HƯỚNG

Về một vụ bạo hành gia đình ở Hà nam
phần 2 ký sự và phóng sự

Hỡi các đồng nghiệp làm báo viết văn. Hãy cùng tôi góp tiếng nói chống nạn bạo hành phụ nữ. Tin bài và cảm nhận tôi sẽ chuyển về đoàn luật sư tình nguyện chống bạo hành CSAGA. Hãy yêu cầu luật pháp sử đúng tội kẻ giết vợ và bạc đãi con đẻ


Cây chuối ngược trong một đám tang Phần 2
Bài và ảnh :Lưu Quốc Hoà (ảnh pốt sau xin lỗi)

Trưa nay 2 / 2/ 2009. tôi lại đến xóm Thái Hoà làng Thịnh Châu. Nơi mà tôi đã có phóng sự các quý bạn đọc đã xem. Buổi sáng nay tôi đã điện trước cho anh Vũ Văn Chính ( anh dể ) và chị Lại Thị Tuyết (chị gái Lại thị Mai vợ anh Chính ). Hai vợ chồng bảo tôi: " Anh đến tầm trưa 1 giờ chiều cả 2 cháu đi học".
Máu nghề nghiệp thúc dục. Tôi bỏ bữa trưa và đến kịp lúc 12 giờ 23 phút. Cách nhà chị Mai khoảng 100 thước. Tôi gặp anh Phạm văn Sủng hàng xóm kề nhau của chị Mai. Hôm nay anh Sủng mặc tươm tất chắc là đi ăn cỗ. Nhận ra tôi anh vòng xe quay về không đi nữa. Lui cui mở hết các cánh cửa lấy ánh sáng cho tôi quay phim chụp ảnh (lúc này mất điện).

More...

Cuộc đời và một chiếc lá

By DƯƠNG HƯỚNG

 

Cuộc đời và một chiếc lá

"Cuôc đời một chiếc lá" tập thơ của nhà thơ Nguyễn châu in năm 1990 nxb Lao Động. Đến nay nxb giáo dục đã tuyển chọn tới 21 bài trong tập và giới thiệu trên http://www.cinet.gov.vn/vanhoa/vanhoc/vh-vietnam/tacgia/20/tho/c/nguyenchau.htmĐây
Đây là những bài thơ hay dường như lâu nay đã bị bỏ quên ít ai chú ý. Dương Hướng xin trân trọng giới thiệu với bạn: bè;
  cay rom.jpg

              Ước

(Thay lời tựa)

Ước chi trên cõi đời này

Chẳng ai phải sống những ngày khổ đau

Bài ca tìm đến mai sau

Dù bao vực thẳm sông sâu thác ghềnh!


 Ước chi mình ở bên mình

Không còn bom đạn chiến tranh cắt rời

Tình yêu cháy bỏng làn môi

Cánh chim khao khát khung trời mộng mơ!


 Ước chi tới tận bao giờ

Bát cơm ngon của giọt mồ hồi rơi

Dù đi cuối đất cùng trời

Đâu đâu cũng chỉ những người thương nhau!


More...

Hai đứa trẻ sau một vụ án

By DƯƠNG HƯỚNG

Vụ bạo hành ở Hà Nam

Lưu Quốc Hòa


 Hai đứa trẻ sau vụ án bạo hành
Hỡi những đồng nghiệp làm Báo và viết Văn! Hãy cùng tôi lên án nạn bạo hành gia đình để bảo vệ phụ nữ và trẻ em. Đó là hành động thiết thực nhân ngày 8/3
Bài và ảnh :Lưu quốc Hoà

Chiều 28 / 2 / 2009. Nhóm phóng viên báo chúng tôi đã có mặt taị thôn Thái Hoà làng Thịnh Châu (TP Phủ Lý Tỉnh Hà Nam )

Còn nhớ cách đây ít hôm. Toà án nhân dân TP Phủ lý đã sử vụ án sơ thẩm mà các cơ quan báo chí truyền hình đã đồng loạt đưa tin và có thái độ rất khách quan về phiên toà. Đại đa số dư luận cho rằng: Kết luận của Toà án là không công bằng nhất là làm nhân dân bất bình cao độ. Toà sử đã hơn một tuần rồi mà khắp nơi trong thành phố vẫn sôn xao bàn tán và có nhiều ý kiến nghi ngờ .

More...

Hồn Quê

By DƯƠNG HƯỚNG

Thơ TRẦN ĐÌNH NHÂN

HỒN QUÊ

Mới nghe cuốc vọng bờ tre
mà sao xanh cả tiếng ve trước thềm
ngang trời mây trắng trôi êm
hình như phượng đỏ sa thêm nắng vàng

Con đường xưa gió thênh thang
lẽ nào người cũ về làng hôm kia?
Vẩn vơ một thoáng trưa hè
tặng nhau cả một sân ve để buồn!

Trời quê mây trắng còn vương
đất quê như giục người thương nhớ người
bây giờ cả nắng hai nơi
để hồn quê mải đứng ngồi tiếng ve.

More...