Giai Tử trái tim đau đáu nỗi niềm

By DƯƠNG HƯỚNG


Ảnh 1: Nhà thơ Mai Phương thăm tác giả Giai Tử
Ảnh 2: Hai mẹ con tác giả Giai Tử
 

Giai Tử trái tim đau đáu nỗi niềm


                                                                   Dương Hướng

Tác giả trẻ Giai Tử thuộc thế hệ 8x (1984) tên khai sinh là Nguyễn Duy Hùng hiện đang sống ở phường Bắc Sơn thị xã Uông Bí. Năm 2004 vừa được vào làm viêc tại công ty than Uông Bí  được một tháng thì chẳng may bị tai nạn giao thông phải nằm liệt giường không được hưởng chế độ đãi ngộ gì. Có lẽ do hoàn cảnh đặc biệt rủi ro đến với mình giữa tuổi đời còn trai trẻ đang tràn đầy sức sống cộng với niềm đam mê văn học đã đưa chàng trai Giai Tử đến với văn chương mà có lẽ chính bản thân cháu cũng không ngờ tới.

   Ngày đầu tiên tôi về làm biên tập văn xuôi cho báo Hạ Long lục trong đống bản thảo chất chồng từ bao năm tôi thấy có một bản thảo truyện ngắn viết tay với những con chữ dày di dít kín cả hai mặt giấy với cai tên "Giai Tử" lạ hoắc. Nếu là người biên tập khó tính sẽ chẳng bao giờ ngó đến. Tôi căng mắt đọc lướt vài trang và buộc phải thay đổi ý thức của mình và đọc lại từ đầu. Càng đọc trong tôi càng nảy ra nhiều nhận định: Tôi không nghĩ đây lại là tác giả trẻ bởi văn rất "già" Tôi quyết định đưa đánh máy lại bản thảo và cho in. Hóa ra cả giới văn nghệ Quảng Ninh không ai biết Giai Tử là ai. Khi biết được hoàn cảnh đặc biệt của Giai Tử tôi và nhà thơ Nguyễn Châu thực sự xúc động. Trong thời gian có một năm báo Hạ Long đã nhận được từ tác giả Giai tử 5 truyện ngắn và đã in tới 4 truyện truyện nào cũng khá. Là người biên tập tôi thực sự thấy quý mến tác giả Giai tử ở mọi phương diện. Văn Giai Tử không thể đọc nhanh mộc mạc chân chất mọi nỗi niềm cứ lắng đọng vào trong không phô trương mà sâu kín chất chứa nỗi niềm đáu đáu trong tim và cứ từ từ tỏa ra sự ấm áp bao dung đầy tính nhân văn cao cả. Tôi cho đây là một tác giả trẻ có triển vọng nhất ở Quảng Ninh rất cần được sự quan tâm động viên giúp đỡ trước hết là của cơ quan văn nghệ các tổ chức đoàn thể và cá nhân có lòng yêu quý văn chương yêu quý tài năng và sự vượt khó của tác giả Giai Tử. Câu chuyện về tác giả Giai Tử đã làm xúc động cánh văn nghệ sỹ và những người quan tâm tới văn học nghệ thuật. Ngày 7/9/2009 Nhà thơ Mai Phương chủ tịch chi hội nhà văn Việt Nam tại Quảng Ninh và tôi cùng tác giả Vũ Thảo Ngọc đã đến thăm gia đình tác giả Giai Tử. Tôi đã từ lâu phấp phỏng mường tượng ra cảnh Giai tử phải khó khăn lắm trong cuộc sống nhưng vẫn bị bất ngờ khi đứng trước gian nhà lụp sụp được chồng lên bằng những viên gạch sỉ sần sùi không trát vữa rộng chỉ chừng 6 m2. Và càng bất ngờ hơn khi tôi bước vào trong cái "Lầu văn" nhỏ bé nhìn thấy thân hình Giai Tử cởi trần nằm trên chiếc giường cạnh màn vi tính cũ kỹ mà bà mẹ Giai Tử vừa mới cố gắng mua được để động viên con mình trong công việc sáng tác khó nhọc. Nhà thơ Mai Phương và tôi đều xúc động ngồi bên cạnh Giai Tử với những lời thăm hỏi chân tình. Khi nắm đôi bàn tay run rẩy của tác giả tôi xúc động và thầm hy vọng mong em vượt qua được mọi khó khăn để được như những tác giả đàn anh cùng cảnh ngộ như nhà thơ Đỗ Trọng Khơi nhà văn Trần Văn Thước ở Thái Bình.  Dưới đây là những dòng đối thoại giữa nhà thơ Mai Phương và Giai Tử:

•-          Cháu đã có vợ chưa?

•-          Chưa? Cháu như thế này ai lấy?

•-          Cháu đến với văn học bằng con đường nào?

•-          Cháu chẳng có quyển sách văn học nào để đọc! Có lần nhà văn Dương Hướng điện hỏi cháu đã đọc "Đêm trắng" của ông "Đốt" ở Nga chưa? ( tôi cảm nhận văn cháu mang hơi hướng văn ông Đốt) Thú thật cháu chưa biết ông "Đốt" là ai.

•-          Thề thì làm sao viết được?

•-          Cháu cứ nằm và tưởng tượng ra...Cháu chỉ có duy nhất chiếc đài bán dẫn. Từ ngày cháu bị tai nạn ngày nào cháu cũng mở đài nghe thời sự nghe buổi đọc truyện đêm khuya....

•-          Cháu viết văn bằng cách nào?

•-          Trước đây cháu chỉ nằm viết trên vở học sinh bây giờ cháu đã viết được trên màn vi tính.

•-          Cháu nằm thế này thì ai đi lĩnh nhuận bút cho cháu?

•-          Nhà cháu chỉ có hai mẹ con nên mọi việc trong nhà đều do mẹ cháu!

Cả đoàn chúng tôi đều xúc động khi nhà thơ Mai Phương trao món quà nhỏ mọn là hai triệu đồng của chi hội nhà văn Việt Nam tại Quảng Ninh cho Giai Tử và tuyển tập truyện ngắn Quảng Ninh 40 năm trong đó có truyện ngắn "Quả đêm" của Giai Tử với hi vọng động viên tinh thần tác giả vượt qua mọi khó khăn để cống hiến cho bạn đọc yêu văn chương cả nước những tác phẩm xuất sắc hơn nữa. Ai đã từng đọc những truyện ngắn của Giai Tử Như "Hanh phúc đánh rơi" "Quả đêm". "Dự mưu"...đều có chung một cảm nhận tác giả đã viết bằng cả trái tim đầy ắp nhân hậu với những câu chuyện rất đời thường gần gũi quanh ta mà sao cuốn hút lạ kỳ.

    Khi tôi đang viết những dòng này thì nhận được thông tin tác giả Trương văn Hoành ở Thị xã Cẩm Phả đã liên hệ với một doanh nghiêp hứa sẽ đến thăm Giai Tử và nhà báo Ngô Mai Phong (báo lao động) Nhà thơ Nguyễn Châu (báo Hạ Long) cũng hẹn có dịp đến Thăm động viên Giai Tử một tác giả truyện ngắn đau đáu nỗi niềm giản dị mà nhân ái vô cùng.

 

More...

Lý Biên Cương thăm thẳm đường đời

By DƯƠNG HƯỚNG


Chân dung nhà văn LÝ BIÊN CƯƠNG
Bài viết này tôi đã gửi báo Quảng Ninh số tết nhưng
do khuôn khổ báo có hạn nên phải cắt bỏ một số đoạn.
Đầu xuân mới tôi trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc
trọn bài viêt của
tôi vê  nhà vă n Lý Biên Cương 
             
          
                                    

                                   

                      Lý Biên Cương thăm thẳm đường đời

                                                         Dương Hướng

Văn là đời câu nói đó rất đúng với cuộc đời và văn chương sự nghiệp của nhà văn Lý Biên Cương. Hãy đọc tên các tác phẩm (những đứa con tinh thần) của ông ta cảm nhận như thể số trời đã định. Âm vang của ngôn từ nghĩa ngữ cứ bám riết vào từng đoạn đường đời thăm thẳm nỗi gian truân của ông. Nó vận vào ông hay ông vận vào nó? 
 

More...

Tiểu thuyết mới của Phùng Văn Khai

By DƯƠNG HƯỚNG

    Vài cảm nhận khi đọc tiểu thuyết “Hư Thực” của Phùng Văn Khai                                                                          Dương Hướng
“Hư Thực” là cuốn tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Phùng Văn Khai nhà xuất bản Hội Nhà Văn cấp giấy phép đã ra mắt bạn đọc như đón chào năm mới 2009. Tôi có vài nhận xét theo góc độ của người sáng tác khi đọc tiểu thuyết “Hư thực. “Hư thực” trước hết là một cuốn tiểu thuyết có lối viết khác với tất cả cuốn tiểu thuyết Việt Nam mà tôi đã đọc. Cũng có thể nó không lôi cuốn đôi với một số người quen đọc theo cách cảm nhận thông thường xưa nay. Tôi nghĩ có lẽ tiểu thuyết “Hư thực” tác giả sáng tác dành riêng cho giới “văn sỹ” chúng ta đọc nó ta bất chợt có niềm cảm hứng cho sự sáng tạo thăng hoa nó gióng như thứ men lạ tạo nên niềm hứng khởi đặc biệt. Một tiểu thuyết có bố cục cũng rất lạ không đầu không cuối không chương hồi không cốt truyện không biết đâu là nhân vật chính phụ tất cả được thể hiện bằng những giấc mơ. Phải đọc nó với sự tập trung cao độ mới hy vọng tìm ra ý tứ sâu sắc trong đó. Càng đọc càng cuốn ta vào một thế giới hư ảo mà các nhân vật tự bộc lộ ra băng những giấc mơ đan xen với thực tại vừa hư vừa thực khiến ta mê mụ đắm chìm u uất đau buồn và khát khao dâng trào cảm hứng. Những giấc mơ của đời sống thực được tác giả xếp đặt rất tinh phản ánh bằng tư duy của hai nhân vật là Y và họ Đào xuyên suốt tác phẩm với một loạt những nhân vât hết sức đặc biệt: cô gái người rừng người đàn bà điên ông già và con chó...cuộc sống của họ bị dồn đẩy tới tận cùng nơi rừng rú và hang hốc. Họ bị cô đơn đến tận cùng càng ngày họ càng bị “lún sâu” trước cảnh huy hoàng của đời sống xã hội hiện đại. Nhưng điều đáng nói là những nhân vật đáy xã hội được tác giả khắc họa bằng những chi tiết rất “đắt” mô tả rất sắc nét đời sống bên ngoài (lớp vỏ) và chiều sâu bên trong (nội tâm) các nhân vật với ý chí tình cảm và cả bản năng siêu đẳng của con người để tồn tại để duy trì sự sống của một kiếp người. Bi kịch điển hình của lớp người đáy xã hội như ông già cô đơn cô độc nhưng vẫn đầy khao khát sống khao khát dục vọng mà không chốn nương thân không nơi nương tựa không bạn tri âm và kinh khủng nhất không cả niềm tin vào đồng loại (con người) phải làm bạn và nương nhờ vào một con chó...   Những trang viết về người đàn bà điên cũng thật sinh động mà nhân bản vừa tối tăm vừa mơ hồ nhuốm mầu huyền thoại ám ảnh người đọc: “...Bao giờ cũng vậy cứ chiều chiều lúc sẩm tối vắng người chị lại vảng ra bới những thức ăn thừa trong bãi rác vừa ăn vừa khẽ mỉm cười có lúc như là hát...Chị luôn mặc hở hang đại khái. Mùa đông mùa hè đều phong phanh như nhau. Tóc chị đen dài cáu bện vào nhau từng lọn từng lọn ôm lòa xòa khuôn mặt khó đoán định tuổi tác...Chị sán đến bới đống vỏ ốc và khêu những con còn sót những phần lòng ốc cứt ốc mà khách đã bỏ hôi thối nồng nặc có khi từ mấy hôm trước thản nhiên ăn rất ngon lành   Cảnh trong rừng sâu rồi cảnh sông nước mây mù sương khói cảnh làng Bái liên tục lật đi lật lại trong những giấc mơ. Những mảng đời được tác giả dè dặt lần lượt bóc tách từng phần từng phần rất điệu nghệ rất bài bản bằng những cảm xúc tuôn trào lên những trang văn óng ánh sắc màu huyền ảo hư hư thực thực Đọc tác phẩm “Hư thực” tôi có cảm nhận tác giả đã dũng cảm từ bỏ đời sống thường nhật “lặn sâu” vào cõi thiêng cõi riêng để cùng sống cùng mơ cùng đồng cảm với các nhân vật của minh và tác giả rất khéo léo dụ họ thôi miên họ thêu dệt lên những giấc mơ thần tiên những cơn ác mộng về những tội ác những nỗi khát khao dục vọng những niềm đam mê cuồng nộ những quằn quại xác thịt và cả nuối tiếc ghen tuông ích kỷ hận thù và chết chóc đau thương...     Bắt đầu vào câu chuyện tác giả đã lấy bối cảnh cho hai nhân vật Y và họ Đào bắt đầu cuộc hành trình đi trên “con tầu định mênh”- đi vào cõi hư thực đi vào cõi mê. Nó giống như thể nhà văn muốn lý gải được chiều sâu của đời sống thực tại anh ta phải rũ bỏ mọi vướng bận đời thường để đi đến tận cùng của niềm đam mê nghệ thuật- anh ta phải trải qua một hành trình gian khó trải qua những cơn đau những vật vã của đời sống thực và những khát khao cháy bỏng của những giấc mơ. Ngay những trang mở đầu tác giả đã tả con tầu số phận: “...Con tầu đơn độc vẫn lao mình trong đêm đen về nơi vô định. Bóng tối trập trùng lạnh lẽo bủa vây...” Và khi phác họa nhân vật Phung văn Khai chỉ lướt qua mấy dòng đã thể hiện lên thân phận nhân vật và tính cách cá biệt của nhân vật họ Đào. Người cầm bút nó phải khác ở người bình thường là ở đó- Nhân vật họ Đào dám quên mình dám chấp nhận dám đối mặt với số phận. “... Họ Đào thân cô thế cô bấp bênh nghề ngỗng lang bạt kỳ hồ gia đình xa thẳm vợ con không màng tiền tài im lặng trú ngụ thất thường...lại cầm bút viết văn- viết không xu thời nịnh thế...Con tầu còn có ga dừng trạm đỗ còn hú mừng một ban mai chào đón một cung đường... Còn họ Đào thì toàn ưa thích những chuyện gió trăng: ...Lạ là cái văn chương họ Đào âm thầm nhân hậu. Văn phong lạ lùng kỳ ảo da diết vang sâu và rất thiện tâm thiện chí ở đời. Oái oăm ở chỗ dường như rơi đúng vào thời buổi người ta không cần những đặc tính trên họ còn đang mải bè cánh thù tạc phĩnh phờ ỡm ờ xúi giục bợ đỡ lẫn nhau những thứ có chặt đầu gã cũng không làm được...” Đọc tiểu thuyết “Hư thực” không ai kể lại được diễn biến của câu chuyện. “Hư thực” là một chuỗi hình ảnh đời thực được mã hóa bằng những giấc mơ đan xen giữa hiện tại quá khứ giữa nhân vật này lẫn nhân vật kia lúc sáng lúc tối ẩn hiện chập chờn những cảnh sắc những ảo ảnh. Với lối viết hư hư thực thực lôi cuốn ta vào chốn hồng hoang không biết là hư hay thực:“...Ơ! như là trăng lên. Trăng thật. Trăng muộn mằn yếu ớt run rẩy và cô độc trên nền trời xám ngoét... Họ Đào không nói không rằng lặng lẽ rời đống lửa gần như không gây ra tiếng động đi hút ra phía lòng suối cạn. Chắc họ đến với nhau. Thêm một đêm một khắc bên nhau. Biết đâu ngày mai vĩnh viễn không gặp lại...Những hình ảnh cử động theo hơi gió hơi sương lả lướt hiện về. Những tà áo mỏng manh chập chờn biến hiện. Một điều gì lưỡng lự chưa rõ rệt đang buông vào cõi bất định. Tiếng gí u u ngoài con suối cạn. Những luồng sáng chập chờn gieo rắc chợt chìm đi rồi lại bùng lên...Lòng suối cạn như cái huyệt đen thăm thẳm trải dài bất tận...bỗng lúc ấy... Giữa khung tròi xám từ từ hiện lên một khuôn mặt lặng lẽ mờ ảo nhưng rõ dần và rất trắng. Một khuôn mặt đẹp đến lạnh lùng nhưng chỉ thoáng thôi lại từ từ biến mất như chưa từng hiện ra. Cái khuôn mặt thoáng hiện ấy có phải người con gái đêm qua...” Đọc đoạn văn trên ta nhận ra tác giả phải có những cảm xúc thăng hoa những quan sát tinh tường trong trạng thái nửa mê nửa tỉnh nên mới có những ngôn từ vừa như mê mụ vừa như tinh anh ma quái. Phùng Văn Khai đã có những tìm tòi đổi mới cách viết cứ ngỡ vớ đâu viết nấy thấy gi tả nấy cứ tưởng là viết lung tung giống như người lạc rừng vào chốn hoang vu đi không phương hướng nhưng thực chất tác giả đã bày đặt   một trận đồ bát quái rất tài tình. Đọc “Hư thực cứ phải đọc đi đọc lại nhiều lần mới sáng tỏ. Đọc “Hư thực” tôi cứ liên tưởng Phùng Văn Khai giống như người “nghệ sỹ” ngồi chợ quê với đôi tay tài hoa nặn nhoay nhoáy những cục bột thành những con tò he với đủ sắc màu với đủ kiểu dáng hình hài vạn vật cả giai nhân tuyệt sắc cả ma quỷ thánh thần. Tình tiết diễn biến của tác phẩm không thể hiện bằng chương hồi mà nó được tác giả cài cắm bằng những giấc mơ hoặc chỉ những câu chuyện trao đổi hoặc những cảm nhận của nhân vật Y về nhân vật họ Đào liên quan móc nối với cô gái trong rừng với người đàn bà điên với người đàn ông và con chó... Tất cả các nhân vật cứ nhào quyện vào nhau lúc là hình lúc lại là bóng khi là hiện tại khi là quá khứ khi mê khi tỉnh liên tục hiển hiện trên trang viét với những câu văn những ngôn từ đầy ắp cảm xúc khiến ta cứ thấy vấn vương dăng mắc mãi vào câu chuyện của hết nhân vật này đến nhân vật kia. Đôi lúc ta lại thấy lẫn lộn mê hoặc và hư ảo không biết đâu là thực đâu là hư.    “Hư thực” là một tác phẩm văn học đày tính nhân văn phản ánh một cách sâu sắc và tinh tế đời sống hiện thực xã hội mà con người đang phải trải qua đang phải đấu tranh để tồn tại để được làm người được khao khát sống khao khát yêu và được viết lên những gì mà nhân vật họ Đào đã dám viết dám dấn thân.   


More...

Người suốt đời đi tìm công lý

By DƯƠNG HƯỚNG

Tạ Kim Hùng người suốt đời đi tìm công lý

Dương Hướng

 

Nhà văn Tạ Kim Hùng quê Thái Bình ra công tác tại Quảng Ninh từ những năm.1959. Ông viết văn xuôi và ứng khẩu thơ "châm" rất nhanh. Trước bàn trà hay ngồi trên xe ông thường bất ngờ đọc lau làu những vần thơ vui làm mọi người cười sảng khoái: Ở đời sướng nhất phó thường dân / Quyền chức không mơ gái chẳng cần / cửa cao nhà rộng không màng tới / xuất ngoại buôn ba chẳng đến lần / Gặp bạn khề khà chung rượu nhạt / cuộc đời sướng nhất phó thường dân.. .

   Tôi là người gần gũi ông từ mấy chục năm nay tôi hiểu tính ông. Ông yêu- ghét rất rõ ràng không quỵ lụy nịnh bợ bất kỳ ai. Nhất là với quan chức ông càng tỏ rõ tính cương trực thẳng thắn nên không ít người ghét ông nhưng vẫn nể ông. Ông đã yêu ai thì yêu hết mình. Ông đã khinh ghét ai thì người đó coi chừng ông "thưởng" cho mấy vần thơ châm thì chỉ còn biết chui xuống đất. Người đời bảo ông cực đoan.Ông hay "châm" người người cũng lại "châm" ông với những vần thơ vui vui:

Quảng Ninh có Tạ Kim Hùng

Chuyên chống tiêu cực khắp vùng Hạ Long

Chưa chống thì nước còn trong

Chống rồi nước đục đau lòng cò con.

Mỗi lần nghe ai đó châm chọc ông chả giận ông chỉ cươì và lập tức ứng khẩu ‘châm" lại liền. Ông có nhiều những bài thơ châm biếm rất dễ thuộc xin được giới thiệu bài ‘Quay vòng"

Ban y tế thị Hồng Gai

Vừa phát kiến một mẹo hay lạ lùng

Tiền bồi dưỡng đặt vòng tránh đẻ

Liền bị đưa vào "kế hoạch ba"

Chị em thông cảm để ra

Dùng làm vốn mấy vị ta quay vòng

Tiền lãi lờ mấy ông lẻm tuốt

Chung quy là chỉ buốt chị em....

Những người ưu ái ông thì lại ca ngợi ông cũng bằng những vần thơ "châm" đáng yêu: Ông Hùng có một tạ kim / "Chọc" quân tham nhũng "châm" phường gian manh /Ông thề chỉ trọng cái danh / Tiền ông không hám chức ông chẳng thèm / Quan trên quan dưới lèm nhèm / Ông phang tuốt tuột chẳng tha quan nào /Cho dù đất thấp trời cao / Tạ Kim Hùng vẫn "chọc vào" "châm ra" 
Tạ Kim Hùng năm nay đã qua tuổi thất thập xưa nay hiếm nhưng nhiệt huyết với đời với nghề văn bút vẫn nóng rẫy từng ngày. Ông lặn lội ngược xuôi lên rừng xuống biển vào tận xứ Thanh viết phóng sự điều tra. Có lần ông về Hà nội bị cơn đau tim nằm cong queo bên hồ Hoàn Kiếm. Có người trách ông sao lại tự mình làm khổ cái thân. Ai bắt mà phải tội thế? Chẳng ai bắt cả. Ông thích thế. Có thế mới là Tạ Kim Hùng. Ông là nhà văn mà không cầu kỳ về câu chữ mầu mè văn hoa. Ông viết toàn những chuyện thật trăm phần trăm. Người ta trân trọng yêu quý ông ở sự trải nghiệm và tấm lòng trung thực. Sự trung thực đôi khi thái quá khiến có người bảo ông là kẻ gàn. Có lần ông mang tới cho tôi bài viết "phê phán" về một đơn vị kinh tế. Tôi đang ngần ngại đọc thì ông nổi xung bảo một giám đốc lâm trường cho triệt phá trái  phép hàng trăm ha rừng để trục lợi Hành động này còn tàn bạo hơn cả bọn lâm tặc thì đem chém đầu  cũng không oan. Lần khác ông đưa một phóng sự đọc xong tôi bảo: Tay chi cục trưởng này vừa đượcchính phủ tặng bằng khen tỉnh biểu dương là chiến sỹ thi đua của mười năm đổi mới ông không biết sao?. Ông lại nổi xung bảo: Cứ có cái danh chiến sỹ thi đua thì không được phê phán để rồi nó muốn làm gì thì làm sao. Bất ngờ ông hạ giọng: Cái kỳ lạ của đất nước này là vậy có quá nhiều cái danh cái sỹ rởm nào là chiến sỹ thi đua nào là tiến sỹ thạc sỹ...toàn những sỹ là sỹ mà không ít sỹ hão thành ra loạn sỹ. Tin sao được những loại quan tham thời nay rõ khéo chống chế...Ông nói và bằng giọng châm biếm sâu sắc ông đọc làu làu bài thơ về chuyện ‘Kê khai tài sản" của cán bộ nghe ngồ ngộ: Cha cha đứa bảo ông giàu / Ô tô ông mượn nhà lầu ông thuê / Bạt ngàn trang trại sum xuê / Của con dâu nó mang về hồi môn / Chúng bay độc miệng độc mồm / Rủa nhà ông có mấy hòm đô la / Rõ là nhìn cuốc hóa gà / Đô la âm phủ thế mà cũng tin / Mấy thửa đất cạnh công viên / Con trai ông nó đứng tên rõ ràng / Chút ngoại tệ gửi ngân hàng / Tít bên Mỹ cũng có thằng ‘xía" vô / Đấy đâu phải của tham ô / Mà là của cố nội cho dưỡng già / Rõ ràng trong ngọc trắng ngà / Kiểm kê tài sản ông là cố nông / Loại quan nghèo khổ như ông / Thời nay xe chở đấu đong thiếu gì.
Ông có lối tư duy trào lộng sâu sắc đến thế ai dám bảo ông gàn. Ông có những nguyên tắc bất di bất dịch cho cách sống và viết của mình: không vụ lợi. không cầu danh. Những sáng tác của ông thiên về bút ký phóng sự. Những bài phóng sự nổi tiếng với những cái tít rất ngộ như "Vật giá hay giá vật" " Thủ tục...hành là chính". Đặc biệt bài "Thủ tục...Hành là chính" gây chấn động cả bộ Công an bộ Lao động thương binh xã hội bộ Tư pháp. Ông đến với độc giả cả nước bằng sự trải nghiệm tìm tòi xông xáo viết về những thân phận người khổ đau khốn cùng ngoài đời. Ông làm cho độc giả biết đến ông  bẵng những câu chuyện rất độc đáo với những chi tiết lạ lùng ám ảnh mãi người đọc. Ông mê mải tìm tòi những câu chuyện liên quan đến nhiều lĩnh vực gai góc nguy hiểm như mại dâm nghiện hút buôn bán ma túy. Những vụ trọng án cướp của giết người. Ông trường kỳ mai phục theo đuổi đến cùng những vụ án kinh tế án hình sự phức tạp. Ông không ngại xông vào trại cai nghiện trại cải tạo trực tiếp gặp gỡ con nghiện gặp gỡ phạm nhân. Cánh văn sỹ Quảng Ninh nói vui bảo Tạ Kim Hùng có những "hai nhà" Văn- Báo và có cả Tạ Kim thì còn sợ ma quỷ nào. Bọn gian tà nhìn thấy ông là ngại. Quả thực cái uy của của ông được khối việc. Ông tới chốn công đường được các sếp nể bạn bè anh em quý trọng. Không ít cán bộ ban ngành trong tỉnh gần gũi thân tình tin cậy lắng nghe ý kiến của ông. Nhiều lần ông chia sẻ với tôi về quan điểm của mình: Ông bảo "Đã là nhà văn mình phải có trách nhiệm "cố vấn" cho lãnh đạo chính quyền họ hiểu cánh văn nghệ  chúng mình để  tạo ra mối qun hệ gần gũi hiểu biết lẫn nhau. Cứ như cái anh Cà Mau thì buồn lắm. Ai đời cả tỉnh Cà Mâu bao năm mới nổi lên được một văn sỹ gọi là có tiếng tăm mà chả biết nuôi dưỡng lại định trục xuất người ta ra khỏi "lãnh thổ" tỉnh nhà thì quả là một chuyên khôi hài. Cả nước bôi bác thật xấu hổ. Vài năm gần đay ta có số ít nhà văn cho ra đời vài ba tác phẩm có nội dung đổi mới tương đối mạnh mẽ nhưng chưa quen với nếp đọc của một số độc giả nên có ý kiến trái ngược nhau. Mỗi lần gặp gỡ được các đồng chí lãnh đạo tỉnh gợi hỏi về quan điểm của mình nhà văn Tạ Kim Hùng rất thẳng thắn khẳng định rằng: Việc cho ra đời những tác phẩm có nội dung đổi mới như thế nước láng giềng Trung Quốc đã làm từ lâu rồi. Các nhà văn phản ánh những sai phạm những hạn chế của quá khứ cũng là những bài học để các thế hệ đi sau khỏi dẵm lên bước chân sai phạm của người đi trước tránh cho đất nước lặp lại những thảm họa to lớn như cách mạng văn hóa hay cuộc đại nhảy vọt...là quan điểm quang minh của đảng cộng sản Trung Quốc. Chính nhờ quan điểm sáng suốt ấy mà vài chục năm qua Trung Quốc xuất hiện tới trăm nhà văn lớn với hàng trăm tác phẩm văn học mang tầm cỡ thế giới. Có người nói: Các nhà văn Trung Quốc rất có tài nhưng ban văn hóa tư tưởng Trung Quốc còn tài hơn vì chinh họ đã giải phóng tư tưởng để tạo ra các nhà văn. Các nhà văn mới lại cho ra đời những tác phẩm tầm cỡ thời đại.
Chính những lời chí tình chí lý của nhà văn Tạ Kim Hùng đã giúp không ít các lãnh đạo và bạn bè của ông hiểu ra nhiều điều. Ông thường đến dự các phiên tòa  xử phạm nhân xem cán cân công lý ra sao. Một lần đồn biên phòng số 7 Móng Cái bắt quả tang hai cửu vạn tuổi đời mới mười chìn đôi mươi vác thuê hai thùng hàng từ bờ sông vào chợ Móng Cái với giá 500 ngàn đồng.một thùng. Hai thùng hàng đóng kín nên hai cửu vạn không biết bên trong có 10.000 ống thuốc gây nghiện. Chủ các thùng hàng đến đồn biên phòng xin hàng bị bắt giam rồi trốn thoát. Hai cửu vạn buộc bị lập hồ sơ phạm pháp quả tang vận chuyển trái phép chất ma túy qua biên giới với số lượng lớn.( tương đương mức án tử hình) Khi trao đổi với chánh án tòa án nhân dân tỉnh xong  Tạ Kim Hùng đã  phóng xe về tận quê hương hai phạm nhân đến đồn biên phòng số 7 Móng Cái để điều tra. Từ Móng Cái về ông xin phép công an tỉnh vào trại giam lán 14 gặp hai phạm nhân. Một tuần sau ông có phóng sự với cái tít: "vì 500 ngàn đồng mang án tử hình" đăng báo Tiền Phong và baì "pháp luật phải nghiêm minh" đăng báo Quảng Ninh. Khi bài báo của ông được đăng tòa án nhân dân tối cao đã quyết định cho thay đổi tội danh từ vận chuyển trái phép chất ma túyqua biên giới với số lượng lượng lớn sang tội danh: vận chuyển hàng hóa trái phép qua biên giới.Tòa án tỉnh Quảng Ninh đã xử hai cửu vạn mức án 3 năm và 4 năm tù giam với tội danh trên.Còn thủ phạm chính của vụ án đến nay vẫn ung dung ngoài vòng pháp luật. Bởi thế nên Tạ Kim Hùng mới có thơ rằng: Hùm beo thì cứ nhởn nhơ / Cái tôm cái tép đi tù cả xâu / Hỏi rằng công lý ở đâu / Hỏi ngựa ngựa hý hỏi trâu trâu cười...
Ở đất Quảng Ninh này nhà văn nhà báo Tạ Kim Hùng được mệnh danh là người của công lý. Ông luôn bênh vực người dân nghèo lương thiện ông đau đớn cùng nỗi đau oan khuất của nhân dân. Ông luôn biểu lộ sự căm ghét kẻ nhân danh pháp luật hành dân. Những bài phóng sự sắc sảo của ông vạch mặt chỉ tên những vị quan tham những kẻ lừa đảo xảo trá những chuyện vô lý những thói quan liêu tư tưởng bảo thủ lạc hậu của bộ máy công quyền. Ông đích thực là nhà văn nhà báo chân chính. Và ông cũng đích thực là một nông dân chính hiệu cần mẫn am tường bách nghệ với đôi bàn tay vàng chăn nuôi lợn gà ngan vịt và cả hái dâu chăn tằm xây cả hồ trên núi thả cá. Vậy mà từ ngày tôi biết ông đã mấy chục năm ông vẫn sống một cuộc sống giản dị đạm bạc và dẻo dai. Ông dẻo dai sống dẻo dai chống tiêu cực dẻo dai viết trong ngôi nhà tường vôi mái ngói cao chót vót trên đỉnh đồi "Cơ Khí" mà ông thường tự trào: Nhà tôi ở đỉnh đồi cao/ đường đi noắt ngốe biết đâu mà tìm/ nhà tôi như cái chuồng chim/ giữa trưa đốt đuốc đi tìm không ra. Ngôi nhà trên cao đêm đêm từ cửa nhà ông nhìn thấy cả ánh đèn tầu lung linh trên vịnh Hạ Long  lẫn với cả sao trời. Có lẽ ông trời thấu hiểu và định đoạt mọi chuyện đã se duyên cho ông có được người bạn đời cũng tuyệt vời. Tôi từng được nghe trong giới văn nghệ vùng mỏ lớp tuổi ông như Trần Chiểu Triệu Nguyễn Sỹ Hồng... kể về mối tình của chàng trai bộ đội Tạ Kim Hùng với nàng văn công xinh đẹp Thúy An. Cặp uyên ương này đã trải qua bao thăng trầm của cuộc sống dắt díu nhau về dựng lên ngôi nhà trên đồi Cơ Khí cao chót vót lưng chừng trời này. Hình ảnh Tạ Kim Hùng thời bao cấp cứ  khắc mãi trong tâm trí tôi không bao giờ quên. Chiều chiều vào giờ tan chợ tôi thường nhìn thấy cái dáng ông lòng khòng mải mê đạp cái xe đạp cà tàng không phanh không chuông không gác đờ bu phía sau bữa thì ông chất đầy dây khoai lang rọc mùng bữa lại lủng lẳng bị xơ mít hay những bao cám bao rau muống héo úa về nuôi lợn. Đức tính đảm đang của bác Tạ khiến bà vợ tôi lấy làm kính nể hay nhắc khéo tôi rằng thì là hãy nhìn bác Tạ Kim Hùng đấy mà làm gương. Hết thời bao cấp kinh tế khá hơn Tạ Kim Hùng thay thế cái xe đap cà tàng bằng chiếc xe máy Nhật nhãn hiệu DREM lùn. Có xe máy nhưng ngày ngày ông vẫn kiên nhẫn cưỡi xe đi về trên con dốc ngoằn ngèo khúc khuỷu leo lên lao xuống làm cái nghề văn báo kiêm nghề chăn nuôi gia súc tổng hợp. Tết năm nào vợ chồng tôi cũng lên thăm nhà Tạ Kim Hùng. Vợ chồng ông niềm nở ân tình rót món rượu tằm truyền thống vàng rộm sánh như mật ong mời khách quý gần xa. Ông quảng bá món rươu tắm uống vào tươi da thắm thịt sức khỏe dẻo dai. Ông bảo trong muôn loài chỉ có con tắm là loài duy nhất dám quyết tử cho sự duy trì nòi giống chúng chỉ một lần giao phối rồi con đực phải chết để cho con cái sinh sản. Sự lạ lùng đến kỳ quặc ở Tạ Kim Hùng là ông dám nuôi tằm ở giữa trung tâm đô thị lấy đâu ra đủ lá dâu cho tằm ăn hàng ngày. Vừa rồi nâng cấp nhà xong ông lại xây "hồ" trên núi để nuôi cá. Chuyện nuôi tằm của Tạ Kim Hùng cũng đã đi vào huyền thoại của giới văn sỹ Quảng Ninh.Vào những ngày đông tháng giá cây cối trụi lủi thương con tằm trên nong ông vác bị đi khắp nơi lần mò tìm kiếm lá dâu có những lần ông đang ngồi chồm hỗm hái dâu chủ nhà tưởng trộm vác gậy đuổi ông vội vàng xưng danh là Tạ Kim Hùng đây. Chủ nhà và ‘tên trộm" ôm nhau cười ngất.Tết rồi lên nhà ông tôi ngạc nhiên khi ông dẫn đi xem cái "hồ" nuôi cá. Nói là hồ cho oai thực chất nó chỉ là cái bể được ông xây kiên cố cho các loại cá khác nhau. Nhìn vào trong bể chẳng thấy con cá nào toàn những chai lọ bình tích hũ sành ngâm trong nước với vài ba cánh bèo tây nổi lều bều. Mỗi chiếc lọ đều có sợi dây cột vào thành bể. Khi ông cầm sợi dây lần lượt nhấc từng cái lọ lên khỏi mặt nước. Tôi ngỡ ngàng thấy những chú cá trê  lúc nhúc trong lọ bóng nhẫy đến là ngộ. Ông bảo hôm nay trời lạnh chúng chui rúc hết vào "ổ".

    Trước hôm hội thảo về nâng cao tính chuyên nghiệp trong văn học tại Ninh Bình ông đã phải làm một thám tử tư đi mãi Thanh Hóa điều tra cho bài báo của ông với cái tên "thần dược" giúp cai nghiện ma túy?. Khi ông về tới Hà Nội thì bị ngất xỉu bên bờ hồ Hoàn Kiếm. Cứ Ngỡ Tạ Kim Hùng chuyến này không thể đi dự hội thảo Ninh Bình được. Ai ngờ sau bài tham luận của một nhà phê bình có một ý  "Nhà văn mà cứ viết theo lối kể chuyện và nhăm nhăm lên giọng chửi bới thì sẽ không bao giờ có tác phẩm lớn"  Đầu giờ chiều Tạ Kim hùng bất ngờ lên tham luận "vo" với lập luận rất chặt chẽ dẫn dụ  ý tứ rất cụ thể rằng tác phẩm "ngàn một đêm lẻ" tác giả hoàn toàn viết theo lối kể chuyện mà cả thế giới đều thuộc nó hay đến nhà vua còn mê mẩn. Theo ông văn học không có thể loại "chưởi bới" đừng vơ đũa cả nắm mà quy cho thể loại văn học hiện thực phê phán là thứ văn"chửi bới"vì lên án thói hư tật xấu lên án cái ác để hướng thiện cũng là chức năng quan trọng của văn học đấy chứ. Sức mạnh văn chương phê phán làm thay đổi bộ mặt cả thế giới. Tôi cho rằng Tạ Kim Hùng nói đúng. Văn kể chuyện văn ca ngợi hay phê phán chỉ là hình thức thể hiện.Quan trọng là tầm tư tưởng của nó đến đâu. Khi tôi đang ngồi mải mê viết những dòng này thì nghe vợ gọi có bác Tạ Kim Hùng đến nhà chơi. Tôi rời bàn viết ra tiếp ông. Tôi hỏi ngôi nhà của ông định nâng cấp xong chưa. Ông bảo cái số ông quả là vất vả vừa đào xong móng toan xây lại mấy bức tường thì giá vật liệu lên vù vù. Xuất phát từ thực tế chuyện nâng cấp nhà mà ông có đươc bài in trong mục "tiếng nói nhà văn" báo văn nghệ có tít rõ khéo"Vật giá hay giá vật" Có lẽ cũng tại cái giá nó "vật" ông trong cái vụ nâng cấp ngôi nhà trên đồi cao nên cái bệnh tim của ông ngày càng nặng. Mấy năm nay bất kể đi đâu xa gần ông luôn phải trữ thuốc trong người. Tôi rót nước mời nhà văn ông đưa cho tôi tập báo Tiền Phong cuối tuần vừa phát hành có in bài của ông với cái tên "Thần dược" giúp cai nghiện ma túy?. Tôi lướt qua đã thấy rõ tính "chiến đấu" quyết liệt ở ông với những dòng tít nhỏ "Thần dược" hay "chiêu lừa" và trách nhiệm của cơ quan cai nghiên" và lại một cái tít nhỏ giữa bài "hành trình hơn ngàn cây số đi tìm những người cai nghiện" Nhìn tôi lướt qua trang báo ông bảo muốn làm việc thiện đâu có dễ.. Tớ viết thành công được bài này đã phải bỏ ra mấy tháng trời lặn lội khắp nơi lần mò gặp những người nghiện hút tới các cơ quan ban ngành kiến nghị cầu khẩn vã bọt mép mới có đựơc những tư liệu những chứng cứ quan trọng này để viết bài với hy vọng những người cai nghiện ma túy có được nơi cai nghiện tại cộng đồng có hiệu quả để họ tự cứu mình chứ không bị cơ quan nhà nước ra lệnh cấm những người nghiện đến cai như hiện nay (chuyện lạ ở Quảng Ninh) mà đã được đâu. Làm văn làm báo phải kiên trì dám xông pha vào hang cọp mới bắt được cọp mới thấu cái tình đạt cái lý có thế viết mới thuyết phục được mọi người...

   Nhà văn Tạ Kim Hùng là người như thế ông đã quên mình suốt cả cuộc đời đi tìm công lý. Đời  văn của ông đã cho chúng ta những đầu sách với những cái tên cũng rất chi ấn tượng "Thảm rượu mất"- "Kẻ phản bội ân nhân"- "Người đánh trổng ước"- "Chuyện đời của phin"- "Phiên tòa xử lại". Và giờ đây cánh văn sỹ mỗi lần nhắc đến ông lại bắt đầu bằng câu vui vui; Bác Hùng có một tạ Kim...

More...

Tràn Chiểu đời báo đời văn

By DƯƠNG HƯỚNG

   Trần Chiểu một đời báo đời văn       
                                 
Dương Hướng
  
         
    
     Đã qua mấy chục năm ngôi nhà của Trần Ông vẫn kiêu hãnh chênh vênh trên sườn đồi dựng đứng thuộc phường Cao Xanh từ cái thời còn “bao cầp” toàn dân  khốn khó đủ đường. Tôi nhìn cái dáng ông cao to lừng lững như Tây tay dắt xe đạp vai đeo túi dết ông lóc cóc leo lên cái lối ngõ dốc đứng lưng chừng giời để đi về ngôi nhà của mình khuya sớm...Thoắt cái đã mấy chục mùa xuân. Đời ông cũng năm chìm bảy nổi chín cái lênh đênh ba mươi sáu cái gập ghềnh Trần Ông bây giờ đã vào tuổi “thất thập cổ lai hy xưa nay hiếm” nhưng ông vẫn tân kỳ hơn cả cánh trai trẻ. vai đeo Laptop cưỡi xe máy xông xáo khắp nơi xem chừng ông vẫn đang hồi xuân...  
        
Là một trong những nhà báo kì cựu của Vùng Mò từ thời còn tem phiếu ông xông xáo “Oanh tạc” trên địa bàn tỉnh nhà từ miền Đông: Đầm Hà Bình Liêu Móng Cái đến Miền Tây: Hoành Bồ Uông Bí Đông Triều. Không một cơ quan đoàn thể công ty xí nghiệp nào không biết tên ông. Đến tuổi hưu ngỡ ông an nhàn nghỉ ngơi cho sướng cái thân già ai ngờ ông lại bắt đầu “chiến đấu” cho cuộc phưu lưu mới trên con đường văn bút. Lúc đầu tôi nghĩ ông chỉ viết chơi chơi vậy. Bất ngờ trong vòng năm trời ông ra mắt độc giả tập truyện ngắn  với cái tên rất chi là ngộ: “Lễ Rước Cụ Thượng”. Lúc ấy ai cũng bảo sao lão lại cứ tự làm khổ mình? Hưu rồi nghỉ khỏe! Nửa ngày về sáng chả ăn ai chiều tà còn làm nên trò trống gì. Có người còn cay độc bảo cái lối viết ào ào của ông văn chả ra văn báo chả ra báo? Thú thật khi đọc những truyện ông viết ban đầu tôi cũng hơi phũ góp ý thẳng tưng với ông rằng ông viết nó cứ rậm rạp như cây trong rừng mọc không hàng không lối ngôn ngữ thì xô bồ nửa văn nửa báo nhưng lại rất chi là độc đáo dữ dằn ở những chi tiết. Có lẽ chính vì những lời thẳng tưng đó đã khiến ông nổi cơn tam bành quyết chí minh chứng cho thiên hạ biết thế nào là sức lao động phi thường của tuổi đã hưu của mình. Rồi nhoằng một cái chỉ trong vài ba năm những “đứa con tinh thần” của ông cứ sòn sòn mau mắn nối nhau ra đời dày di dít như con cái vợ chồng thuyền chài mắn đẻ “Cái giá phải trả” tập truyện ngắn; “Con Trời” tập truyện ngắn: “Ngã ba chia tay” tiểu thuyết “Người đi thầu đất” tiểu thuyết; “Phố lắm người nghèo” tiểu thuyết; “chủ tịch tỉnh tôi” tiểu thuyết; “Người đàn bà đuổi gió” tiểu thuyết; “Ma ở đất” tiểu thuyết. Và mới hôm qua ông đi trại sáng tác Sầm Sơn của nhá xuất bản Công An về tức tốc lên hội văn nghệ xông thẳng vào phòng tôi hừng hực tinh thần chiến đấu. Giọng ông oang oang tay cầm USB bảo tôi cóp vào Laptop để đọc giúp ông bản thảo tiểu thuyết mới ông vừa viết xong với cái tên “Chín chín và một trăm”. Ai đã đọc hết những sáng tác kể trên sẽ thấy cái nội lực sự trải nghiệm cuộc đời làm báo của Trần Chiểu đã giúp ông có được những chi tiết những câu chuyện sống động gần gũi với vùng đất ông đang sống. Những số phận những cuộc đời thăng trầm của các nhân vật trong các tác phẩm của ông lấp ló bóng hình ông nọ bà kia khiến cho dư luận không ít xôn xao: kẻ khen người chê và khối kẻ giật mình. Dư luận bắt đầu xôn xao về tính chiến đấu không khoan nhượng ở ông trong một số tác phẩm gần đây ám chỉ ông này bà nọ. Một lần tôi hỏi ông một câu cũng thẳng tưng khi tôi vừa đọc xong cuốn “Ma ở đất” ông tặng tôi. “Có phải ông là kẻ thích “Gây sự” với cả thiên hạ?” Ông cười rõ to: “Có thế mới là tớ. Tớ viết theo kiểu của tớ không giống ai. Văn Trần Chiểu không thể lại giống văn Dương Hướng.” Ông nói đúng! Trời sinh ra mỗi người một tạng riêng văn chương là muôn vẻ. Tôi cho rằng cuộc đời làm báo đã ngấm vào máu nên trong sáng tác của Trần Ông cứ tuôn trào những chi tiết những tình huống giống như ông đã từng trải qua ông đã từng là người trong cuộc. Văn ông cũng giống như con người ông lăn lộn trên thương trường xông xáo trong làm ăn ào ào trong giao tiếp và hay nổi khùng khi bức bách. Ông cũng đau đời chua chát khi thất bại. Và ông cũng lại rất đam mê cuồng nhiệt biết chăm lo chu đào cuộc sống cuộc sông gia đình. Ai hiểu rõ tâm tính ông mới thông cảm cho cái tính xô bồ đến sống sượng trung thực đến tận cùng của ông khiến không ít người ghét ông. Ông chả chấp những điều tiếng ong ve. Ông đau đời ở những bất công của xã hội. Gần đây tôi nhận ra ông cũng rất tâm đắc và quan tâm tới thời cuộc chính trị xã hội chống tham nhũng trong chốn quan trường. Tôi bái phục ông ở sự thâu lượm tin tức từ những sự vụ nhỏ nhặt vỉa hè cho đến những thâm cung bí sử triều chính. Văn ông cũng bày biện sống động hết thảy mọi chuyện của đời sống thường nhật của mọi tầng lớp từ thượng lưu đến hạ đẳng. Tôi đọc các tiểu thuyết của ông và hình dung nó giống như một cái chợ quê xô bồ bán mua ồn ào của những người nông dân chân thật đáng yêu nhưng cũng ngoa ngoắt  điêu toa như ả Thị Mầu...
             
           Văn Trần Chiểu không giống ai ông quyết chí tuyên bố hùng hồn rằng còn sống ông còn viết. Ông viết theo kiểu của riêng ông. Ai khen cứ khen ai chê cứ chê ông đều “dui dẻ” cảm ơn. Ông cười bảo rằng: Tên lửa thì bắn mục tiêu trên trời qua màn hình ra đa còn ông nguyện chỉ là khẩu AK bóp cò bắn pằng pằng trực diện vào mục tiêu bằng con mắt từng trải của mình.
 

More...

Chân dung Nguyễn Bản

By DƯƠNG HƯỚNG

                                                                       
"ÔNG MỘT MÌNH"
      
Dương Hướng


    




   
Có ai hỏi về ông tôi rất đỗi tự hào thưa rằng: Ông một kẻ đa tình và “đẹp như ánh trăng”(1). Ông khát vọng tự do đến tuyệt đối- bản lĩnh trung thực đến tận cùng. Ông rất giàu sang về kiến thức- Yêu đắm đuối đến cuồng si sống giản dị đến tềnh toàng. Và cũng cô đơn đến cùng cực... 
 



NGuyen Ban



         Sinh ra và lớn lên trong một gia đình phong lưu tại làng Đình Bảng Kinh Bắc. Cuối đời tuổi thất thập cổ lai hy Nguyễn Bản trở về Hà Thành sống gần với các con ông ở phường Ngọc Hà (gần chùa Bát Tháp) Ông sống lặng lẽ trong gian nhà chỉ hai mươi mét vuông. Với hai mươi mét vuông trị giá được tính bằng vàng bằng USD ông đã tích cóp bằng nhuận bút cả đời sáng tác và dịch thuật cực nhọc mới mua nổi. Ngày ngày ông âm thầm chiêm nghiệm nhâm nhi uống từng giọt đắng giọt cay cuộc đời bởi cái tâm cái tính trời sinh ra ông thế. Ông được học hành tử tế khoá đầu tiên- tiền thân trường Đại học Sư phạm I ngày nay. Ông là một nhà giáo có tài được làm thầy số học sinh nay họ đã thành ông bộ trưởng nọ ông giáo sư kia. Là người thầy có tài ông gặp phải cái “tai” trong vụ “nhân văn giai phẩm” tuy bị nhẹ nhưng với sự nhạy cảm mong manh của “người kỹ sư tâm hồn” đã khiến ông hiểu thấu đáo về mọi lẽ và “chột” dạ. Có lẽ cũng từ đấy ông thu mình trong nỗi cô đơn. Ông chất chứa nỗi niềm về nhân tình thế thái. Ông kiếm tìm tình yêu kiếm tìm cái đẹp trong văn. Ông quyết liệt chọn cho mình cuộc sống tự do tuyệt đối: Tự do trong sáng tác lao động nghệ thuật tự do trong quan hệ xã hội tự do trong đời sống gia đình riêng tư- tự do một cách nghiêm ngặt nhất khắc nghiệt nhất. Chính vì sự nghiêm ngặt đến gàn dở khiến ông cứ phải đau đáu vật vã và thao thức mất ngủ. Cách nay hơn chục năm ông về Hạ Long tôi cảm động đón ông cùng bè bạn leo lên dốc Bồ Hòn ghé thăm gia đình tôi. (ngày ấy gia đình tôi còn ở cao tít mít sát chân núi Bài Thơ). Tôi nhìn bóng ông chấp chới vầng trán ông hằn rõ nếp nhăn cuộc đời. Những nốt tàn nhang lốm đốm trên mặt ánh mắt tro bạc nhuốm màu thời gian. Đêm ấy tôi nằm bên ông nghe ông kể đủ chuyện văn chuyện đời và cuối cùng chuyện gia đình: “Đã bao năm vợ chồng tớ ly thân giọng ông buồn. Mỗi cây mỗi hoa mỗi nhà một cảnh. Đó là số phận trời sinh ra mỗi người một tính một nết chẳng ai giống ai. May mắn cho những cặp vợ chồng nào hợp duyên hợp số được êm ấm thuận hoà. Ngược lại có nhà cả vợ và chồng đều tốt thậm chí cực tốt nhưng vẫn không hợp nhau họ luôn phải sống trong dằn vặt chịu đựng và cứ tự làm khổ nhau mãi mà không sao dứt ra được. Và cuối cùng vẫn cứ phải chia tay tớ có lẽ cũng rơi vào tình cảnh tương tự. Vợ chồng mình cũng thế đã bao lần quyềt định dứt khoát sẽ phải ra toà nhưng rồi cứ nghĩ lại thấy đau xót quá. Có lần tớ ốm nằm cô đơn một mình giận bà ấy nghĩ chuyến này dứt khoát phải ra toà. Nhưng rồi ý nghĩ ấy lại bay biến khi nhìn thấy bà ấy lặng lẽ ra vườn hái cho tớ mấy quả na quả táo mang vào đặt bên giường tớ đang nằm. Mới chỉ thế thôi tớ đã thấy nao nao trong lòng. Thế đấy! cậu thấy có buồn cười không? Tôi bảo ông: Không buồn cười tý nào. Thế mới là Nguyễn Bản.

   
  Câu chuyện ông kể cứ ám ảnh tôi mãi nó lộ rõ nỗi cô đơn khát khao hạnh phúc khát khao được chăm sóc khát khao được yêu của ông. Ông nhân ái và cũng yếu đuối vô cùng. Ông sống hết mình yêu ghét cũng hết mình. Ông quyết không để mình phụ thuộc vào bất kỳ ai bất kỳ điều gì. Ông không thể và cũng không muốn sinh hoạt trong bất kỳ tổ chức hội đoàn nào. Ông Hữu Thỉnh chủ tịch hội nhà văn Việt
Nam đích danh mời ông làm đơn vào hội ông chỉ cười ậm ừ rồi thôi. Nhiều người cứ ngỡ ông đã là hội viên hội nhà văn từ lâu rồi mới phải. Tôi mê đọc văn ông từ ngày truyện ngắn “Ánh trăng” của ông đoạt giải thưởng báo văn nghệ và sau này càng mê hơn khi được nghe ông thủ thỉ thù thì kể chuyện văn chuyện đời. Về Hà Nội lần nào tôi cũng ghé thăm ông và ăn cơm do chính ông nấu trong chiếc nồi bé tý và ngủ với ông trong gian nhà hai mươi mét vuông khép kín vời những đồ vật được lưu giữ từ thời bao cấp. Từ đó lần nào đến nhà ông tôi đều thấy ông một mình ngồi trước bàn viết với đống sách và bản thảo. Từ lâu lắm tôi thầm gọi Nguyến Bản là “ông một mình”. Trong gian nhà hai mươi mét vuông của ông thứ gì cũng chỉ có một: giường môt chiếc bàn một chiếc tủ một chiếc...và lúc nào cũng thấy cái ông “ông một mình” này ngồi viết một mình ăn cũng một mình ngủ cũng một mình. Và sáng ra ông dậy rất sớm vào cái giờ thiên hạ vẫn còn say giấc nồng. Ông khẽ khàng không gây ra tiếng động sợ thiên hạ mất ngủ nhẹ nhàng ngồi vào bàn loay hoay trước những con chữ nhỏ li ti. Ông cần mẫn miệt mài viết và dịch. Những người không hiểu bảo ông lập dị. Mà ông lập dị khác người thật. Tiếng Nguyễn Bản cả cái ty giáo dục Bắc Ninh biết rất rõ lối sống khác thường của ông. Có lần ông phó trưởng ty giáo dục Bắc Ninh nghe tiếng Nguyễn Bản nhưng chưa biết người nên hỏi cô trưởng phòng chính trị: Cái ông Nguyễn Bản là ông nào? Cô trưởng phòng chính trị thản nhiên trả lời: Anh cứ nhìn thấy ông nào đến ty mặc quần soóc vá đít đấy chính là Nguyễn Bản. Lại một lần trong lớp tập huấn của giáo viên nghe có thứ trưởng bộ giáo dục về thăm tất cả học viên ngồi im phắc chờ đợi ông thứ trưởng. Nguyễn Bản ngồi cạnh một ông hiệu trưởng cấp1 cứ thấy ông ta nhấp nha nhấp nhổm mỗi lần có bóng người lướt qua cửa sổ. Ai ông ta cũng ngỡ là ông thứ trưởng đến. Khổ thế ông ta chỉ sợ ông thứ trưởng bước vào mà mình lại đứng lên đáp lễ chậm hơn người khác. Nguyễn Bản tức cái ông hiệu trưởng quá khi ông thứ trưởng đến tất cả mọi người răm rắp đứng dậy (tất nhiên cái ông ngồi cạnh Nguyễn Bản đứng lên trước tiên) Riêng có mỗi mình Nguyễn Bản vẫn ngồi thản nhiên không nhúc nhích khiến cả hội trường kinh ngạc. Nghe được câu chuyện này có lần tôi bảo Nguyễn Bản: ông cư xử thế là không phải với ông thứ trưởng. Nguyển Bản nổi xung: Ông thứ trưởng có liên can gì trong chuyện này. Mình làm thế để khẳng định mình không cùng loài với thắng cha ngồi cạnh.Thế thôi! Không thể chịu nổi khi phải sống với những kẻ đớn hèn như thế...

    
Thực ra Nguyễn Bản rất hiền nhưng ông cũng lại rất“ngông” tự hào về cách sống “Sạch” của mình. Nhà hẹp nhưng tấm lòng rộng mở ông thường xuyên đón khách văn thơ báo chí cảm quý đến chơi các cháu sinh viên ríu rít đến nhờ thầy Bản cố vấn tiếng Anh tiến Pháp. Nhiều người nghe tiếng đọc truyện “Ánh trăng” ngưỡng mộ mê mẩn tài văn ông. Có người đến nhà ngỡ ngàng thấy ông sống quá đơn giản. Mười mét vuông khép kín với tất cả đồ vật thời bao cấp: Một giường một bàn một ghế một tủ một bếp điện thời Liên Xô cũ một phích nước Rạng Đông và một phòng vệ sinh. Trong phòng vệ sinh toàn đồ nhựa: cũng lại một chậu nhựa rửa măt một chậu nhựa rửa bát một cốc nhựa đánh răng và một cái gáo có cán cũng bằng nhựa để đứng “tè” cho êm mỗi khi có khách ghé thăm khỏi nghe cái âm thanh “rộn ràng” vọng ra qua khe cửa. Tôi có cảm giác ông luôn bằng lòng không mảy may phiền muội tơ hào nhòm ngó trước nhịp sồng sôi động nơi phồn hoa tráng lệ của đất Hà Thành thời hiện đại. Mỗi ngày lượn ra chợ cóc bên vỉa hè sắm bữa tếu táo bông phèng mở lòng với mấy cô hàng rau hàng hành. ông mặc cho thiên hạ cứ việc hưởng giàu sang phú quý mặc cho ai đua chen chức quyền nghênh ngang xe pháo. Ông cứ sống thế xem kẻ nào coi thường ông. Ông sỗng lặng lẽ giữa những toà nhà cao chất ngất tầng trời những biệt thự sang trọng kín cổng cao tường với những ông bà chủ lóng lánh vàng ngọc kim cương trên người. Ông thản nhiên trước những cô chiêu cậu ấm ngồi xe máy luồn lách quệt cả vào ông mà chúng vẫn cười hô hố chẳng thèm có lời xin lỗi. Ông lắc đầu lặng lẽ nhìn chúng chui vào trong các nhà vườn quán ba đèn mờ đầy bí ẩn. Từ chùa Bát Tháp vào nhà ông qua những lối ngõ ngoằn ngoèo rẽ ngang rẽ dọc như trận đồ bát quái ai mới đi lần đầu không thể nhớ lối ra. Bạn hữu lần đầu đến nhà ông đều tận tình đi bộ ra tận cửa chùa Bát Tháp đón khách. Suốt bao năm qua có lẽ chỉ thần phật trong chùa Bát tháp mới biết ông đã có bao nhiêu cuộc đón tiễn khách văn hoặc hò hẹn bạn tình. Ông đứng giữa căn nhà mười mét vuông khép kín tự hào nói vui: Đây là căn nhà “sạch” nhất Việt
Nam. Nó được mua hoàn toàn bằng những đồng tiền “sạch” của những tác phẩm “sạch” ông viết ra. (ông thà chết đói chứ không bao giờ chịu uốn cong ngòi bút làm ra những sản phẩm “bẩn” để lấy những đồng nhuận bút “bẩn” mà khối kẻ tên tuổi thường làm. Kể cả những tác phẩm dịch ông cũng chọn lựa kỹ lưỡng. Thích thì ông dịch ông không thích nhà xuất bản có đặt hàng ông cũng không dịch. Ông dịch vì tư tưởng của tác phẩm chứ không phải vì tiền. Ông dịch văn học nước ngoài cũng là để văn học trong nước được mở mang khai phóng hơn. Chứng minh cho lời ông vừa nói ở vào tuổi 77 mà trong năm qua (2007) ông cho ra mắt bạn đọc những 6 đầu sách cả dịch tái bản và sáng tác mới: Hai tập truyện ngắn “Đường phố lòng tôi” và “Mặt trời đồng xu”  Ông tặng tôi liền một lúc hai tập tiểu thuyết “Đỗ quyên đỏ” của nữ nhà văn gốc Trung Quốc ANCHEEMIN sống ở Mĩ và “Người đua diều” dày 477 trang của KHALED HOSSEINI còn thơm mùi mực.

      Từ những năm thập niên 90 tôi được đọc một loạt truyện ngắn của ông in khắp nơi từ “Ánh trăng” đến “Bức tranh màu huyết thạch” “chuyến ly hương cuối đời” và gần đây nhất là truyện ngắn “Thời chuồn chuồn cắn rốn”. Truyện nào cũng đấy ằp nỗi lòng đau đáu yêu thương khát khao hạnh phúc. Văn ông tinh tế ý tứ sâu xa mang tầm tư tưởng lớn thời đại. Ông yêu đắm đuối cái đẹp của ánh trăng cái đẹp của “làn da chị” cứ ám ảnh đeo đuổi làm khổ ông suốt đời (truyện ánh trăng). Bi kịch dữ dội và đau đớn với nhân vật ông Tư một cán bộ chống Pháp luôm mơ tưởng một cuộc sống tốt đẹp ông thành thật vụng dại khờ khạo vô cùng. Ông là Tư đặt tên các con là Tưởng Đạo Đức những ước mong chúng  có được một tương lai tươi sáng nhưng cuối cùng ông phải đi làm “Đĩ đực” (Chuyến ly hương cuối đời). Chí và Thân lẽ ra phải là một tình bạn chí cốt- họ đã từng chơi với nhau từ cái thời còn tắm truồng họ đã từng cứu nhau thoát chết đuối trong thùng đấu- cái thời “Chuồn chuồn cắn rốn” ấy...Nhưng rồi điều gì đã khiến họ khác xa nhau đến vậy? Khác xa nhau cả về tư tưởng lối sống và nhân cách khác nhau về mọi phương diện cho dù họ sinh ra cùng một làng quê cho dù đã từng chết hụt trong thùng đấu từ cái thời chuồn chuồn cắn rốn. Gặp lại nhau sau bao năm xa cách ngỡ phải ôm chầm lấy nhau đấm thùm thụp vào lưng nhau nhắc lại những kỷ niệm cái lần chết hụt trong thùng đấu thời chuồn chuồn cắn rốn. Ai ngờ vừa gặp nhau Thân đã hỏi: Cậu đã người của đoàn thể chưa? (Thời chuồn chuồn rốn) Thật bẽ bàng nhạt nhẽo cho cái tình đời. Nguyễn Bản quả sâu sắc. Ông viết cứ như không như chơi mà cuốn hút lạ kỳ. Tất cả những tư tưởng ông gửi vào các tác phẩm đều toát lên tấm lòng nhân hậu bao dung và nỗi day dứt và sự phẫn nộ về những trái ngang giả dối và đớn hèn. Với ông quan trọng nhất khó khăn nhất của con người là giữ được nhân cách. Sống nhân cách viết nhân cách. Thà chết chứ không uốn cong ngòi bút. Tự do đến tuyệt đối bản lĩnh và trung thực đến tận cùng yêu và đam mê đến cuồng si chân chất giản dị đến tuềnh toàng. Khát khao và cô đơn đến cùng cực- Tất cả- tất cả mọi cảm xúc cứ lặng lẽ âm thầm sáng lên trong căn nhà bé nhỏ hai mươi mét vuông của “ông một mình”. Ngôi nhà nẵm giữa đất Hà Thành sôi động ngổn ngang trăm bề của thời hiện đại.

More...