Dương HướngLàng Đoài

By DƯƠNG HƯỚNG

  1. 01/30 2008 | 10:21

    Ông Dương Hướng từ "làng Đoài"
    Tòng quân đánh giặc miệt mài Quảng Nam
    Hòa bình ông được làm quan (hải quan)
    (Làm quan chẳng thấy ông ham)
    Ông ham đem chuyện làng mình kể chơi
    Từ "bến" sông đến "tầng trời"
    "Làng Đoài" giờ đã sang thời tê ô (WTO)
    Con dê(rể) lập giúp lốc bờ (blog)
    Làng ông chuyện kể bây giờ lan xa
    Long Tiên chùa ở cạnh nhà
    Chuyện làng chuyện nước mà ra nỗi niềm
    "Thế thời thời thế" liên miên
    Ông mong làng nước chữ YÊN cõi đời!

More...

Ông "Bến không chồng"

By DƯƠNG HƯỚNG

TẢN MẠN VỀ DƯƠNG HƯỚNG
VỚI "BẾN KHÔNG CHỒNG"
VÀ "DƯỚI CHÍN TẦNG TRỜI" 


Nguyễn Duy Liễm
 

        
Mở cuốn tiểu thuyết "Bến không chồng" của Dương Hướng ra đọc  được vài trang tôi đã bị cuối hút. Không chỉ tiếng tăm đồn đại về tác phẩm và tài dẫn chuyện lôi cuốn người đọc mà cái tính bỗ bã nói năng tâng tâng chẳng cần ý tứ lại đặc sệt nhà quê trong cách khắc hoạ sinh động của tác giả với chi tiết đầu tiên nhân vật Nguyễn Vạn ngực đầy huân chương tấp tểnh về làng đứng trên con đê lộng gió vén quần “đái cái đã...” Thế mới sướng thế mới là anh nông dân chính hiệu. Tôi hồi hộp đọc hăm hở ngờ ngợ thích thú theo một mạch cho đến trang 48 - 50 thì dừng lại rồi ồ lên: quê mình rồi! Cha nhà văn này đã lấy bối cảnh của miền quê mình để tạo cảm hứng cho tác phẩm.
       Tôi khẳng định cái Cống Linh trong truyện chính là Cống Trà Linh quê tôi. Một trong mười ba hệ thống thuỷ lợi quan trọng của miền Bắc là mục tiêu đánh phá của máy bay Mỹ trong cuộc chiến tranh vừa qua. Và con đê mà tác giả nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong tác phẩm chính là con đê ngăn mặn chạy dọc bờ sông Diêm Hộ. Còn cây cầu Đá Bạc nơi có "Bến không chồng" lại nằm kề bên hai cây quéo cổ thụ khổng lồ của làng Đoài. Đây chính là một khung cảnh độc nhất vô nhị của làng An Lệnh xã Thuỵ Liên huyện Thái Thuỵ của mình.Hai  cây quéo cổ thụ mà chúng tôi chẳng biết được trồng từ đời nảo đời nào. Chúng tôi lớn lên đã thấy tán lá của nó xanh thẫm rậm rì vượt lên trên tầng xanh của luỹ tre quê mình. Đứng xa hàng năm bảy cây số đã nhìn thấy hai lùm cây lừng lững như hai cây nấm khổng lồ trồi lên in vào bầu trời.
      Tôi không dám nghĩ ở cái làng An Lện - Làng Đoài ấy lại có một nhà văn “chân đất mắt toét" tự viết ra được những điều gan ruột của làng mình. Mà đồ rằng mấy tay bộ đội từng là lính phòng không tại trận địa pháo cao xạ 37 ly phía Bắc Trà Linh rành rẽ vùng đất này nên mới đưa được cả một miền quê vào tiểu thuyết! Khi hỏi ra thì lại không phải  Dương Hướng là cán bộ ngành hải quan vùng cửa khẩu Đông Bắc. Anh viết truyện này tại HVHNT tỉnh Quảng Ninh.
     Rồi tình cờ tôi được ngồi cùng mâm với Dương Hướng trong một bữa tiệc cưới tại Cẩm Phả. Lúc ấy tôi mới biết đích thị anh người làng An lệnh xã Thụy Liên huyện Thái Thuỵ quê tôi.
    Dương Hướng đi công nhân quốc phòng rồi chuyển qua bộ đội anh trực tiếp chiến đấu tại chiến trường miền Nam
từ năm 1971 cho đến ngày giải phóng. Từ bộ đội năm 1976 anh lại chuyển sang ngành Hải quan Quảng Ninh. Hiện nay gia đình anh đang cư trú tại Hạ Long. Vậy mà mọi sự kiện sảy ra suốt quãng thời gian năm mươi năm qua trên vùng đất quê hương không gì qua được đôi mắt tinh tường sắc sảo của anh. Mỗi sự kiện sảy ra đều làm anh phải tư duy trăn trở suy ngẫm cho thấu đáo tới ngọn nguồn để mà lí giải (!)
           Tôi bảo với Dương Hướng: Ông viết truyện mà thật đến nỗi đọc tiểu thuyết tôi nhận ra từng nhân vật ngoài đời được ông chọn làm nguyên mẫu. Đọc "Bến không chồng" của ông làm tôi tò mò phải tìm về cái cầu Đá Bạc. Hỏi đến bến không chồng là ai cũng nhắc đến ông. Hỏi đến ông người làng lại nhắc đến "Bến không chồng". Các bà các cô còn nhắn ra rằng: "Bến không chồng giờ không còn ai tắm truồng nữa vì nước sạch đã dẫn đến từng nhà rồi nhé!"
        Còn ông Biều người mười năm năm làm trưởng ban văn hoá xã thì bảo:"Hai cây quéo cổ thụ đã bị cơn bão số bẩy năm kia quật đổ mất rồi. Khi đạo diễn phim“ Bến không chồng” từ Hà Nội mò về để mục sở thị thì đâu còn cảnh cũ người xưa. Các nhân vật của Dương Hướng thì Lão Vạn đã chết. Còn lão Đột vị “chủ tịch đơm ràng" vẫn sống nhăn. Anh em nhà thợ ảnh Quang Duy nó bảo: Ông Hướng “ác quá" đã bê nguyên cả nó mà đưa vào tiểu thuyết" 1*
      Dương Hướng cười rõ tươi. Nụ cười thoải mái hết cỡ. Đôi mắt tinh anh lấp lánh loé lên những tia sáng tinh nghịch. Anh thanh minh: “Khổ quá đấy là sơ xuất. Vì khi viết tôi thích dùng tên nguyên mẫu nhân vật  để dễ hình dung ra từng lời ăn tiếng nói của họ để khắc hoạ tính cách cho sinh động hơn chân thực hơn. Ai dè khi hoàn thiện bản thảo lại quên béng cả việc đổi tên khác cho nhân vật. Nên mới có sự cố ấy...
Lần này đọc xong: "Dưới chín tần trời" Tiểu thuyết mới của  Dương Hướng tôi lại muốn tìm về cái làng An Lệnh xã Thuỵ Liên để tìm hiểu xem bối cảnh gì và những nhân vật nào của cái làng quê này lại có vinh dự được đưa vào cuốn tuyểu thuyết dày công khắc hoạ và suy ngẫm trong suốt mười lăm năm của anh. Quả thực tiểu thuyết mới “Dưới chín tầng trời” vừa ra mắt bạn đọc được dư luận xôn xao bàn tán đủ đường. Có người dãy nảy lên như phải bỏng có người lại “xì xầm” “vỉa hè” về những vẫn đề nhạy cảm. Nhưng tới nay thực sự chưa thấy một chính kiến cụ thể gì trên công luận theo nguồn chính thống. Có bình cũng còn hời hợt chỉ dám gọi là “điểm sách” gợi ra đôi chút. Cái vấn đề cốt lõi tầm tư tưởng của tác phẩm chưa được ai nói toạc móng heo cho nếp tẻ rõ ràng ?)
        Tiểu thuyết "Dưới chín tầng trời" nội dung của nó đi xuyên suốt cả quãng thời gian năm mươi năm qua. Đất nước Việt Nam
đã trải qua bao biến động. Từng số phận của mỗi con người làng Đoài cũng bị gắn liền với từng sự kiện từng biến cố của lịch sử dân tộc. Chuyện của người làng Đoài là chuyện của cả một thời đại. Nó níu kéo dằng buộc mắc mớ dan díu vào mấy thế hệ con người. 
   Giờ chúng ta đã có đủ kiên nhẫn đủ bản lĩnh và tĩnh tâm nhìn nhận cho thấu đáo về thời đại mà mình đã sống!
Dương Hướng không phán xét. Như nhà phê bình - giáo sư Hoàng Ngọc Hiến đã viết: Dương Hướng chỉ “phác thảo" lại thời đại chúng ta đã sống. Để cho mỗi người tự nhìn nhận mà phán xét lấy chính mình.
      Trong bối cảnh của giai đoạn lịch sử vừa qua thì yếu tố con người đã làm nên cuộc biến thiên. Giữa vòng quay thời cuộc thì dù anh là ai đứng ở phía bên này hay bên kia chiến tuyến. Dù ở hậu phương hay tiền phương đều bị hút tụt vào trong vòng xoay ấy. Xin được điểm qua một số nhân vật trong dưới chín tầng trời của Dương Hướng:
   
           Hãy bắt đầu từ Trần Tăng. Ông ta - kẻ cơ hội - kẻ tha hoá sa đoạ kẻ đầu cơ chính trị. Cả cuộc đời Trần Tăng đầy ham muốn sắc dục đầy tham vọng chức quyền. Trần Tăng dùng quyền lực thao túng và khống chế mọi hoạt động cuộc sống cộng đồng. Ngoi ngóp lên từ một môi trường ấu trĩ của "thiên hạ". Lạ thay cái nấm sau mưa ây không bị gió mưa làm cho rời rã và chưa thế lực nào gạt bỏ nổi. Ông ta cứ đương nhiên tồn tại rồi "Hạ cánh" rất an toàn và danh dự nữa chứ. Rồi chỉ những gì thuộc về hệ tư tưởng mà Trần Tăng để lại hẳn vẫn còn (?)
     Ta lại điểm đến Măng - một con điếm chính trị - sản phẩm cả về thể chất lẫn tinh thần của Trần Tăng. Đó chính là dòng máu là hồn cốt Trần Tăng. Măng từ một đứa con gái nhà quê trắng trong chân chất ngu ngơ ra thành phố. Được quyền lực ngang trời của Trần Tăng nâng đỡ chở che Măng lột xác vút lên thành kẻ đầy ma lực. Khi tiền đã tuôn vào túi mình như nước Măng thả sức đứng sau hậu trường mà thao túng xã hội dễ dàng như riêng của mình. Với dòng máu hừng hực những ham muốn và tham vọng của Trần Tăng chảy trong huyết quản Măng tỏ ra bản lĩnh hơn cả cha đẻ của mình. Trần Tăng chết chẳng ảnh hưởng gì đến Măng Măng sẽ có thế lực mới che chở. Bây giời Măng thừa sức đứng vững bằng ma lực của đồng tiền mà thao túng cả thương trường và chính trường.
       Tưởng Hoàng Kì Trung luôn cứng nhắc như một cỗ máy. Mà nghĩ cũng phải một guồng máy chiến tranh không thể thiếu những con người lạnh lùng đễn nhẫn tâm để thực thi công vụ đến thắng lợi. Hoàng Kì Trung là lớp người bảo thủ cứng nhắc và cũng đầy tham vọng ngấm ngầm theo đuổi đến kỳ cùng ước nguyện. Một khuôn mẫu cho một lý tưởng. Chính những điều ấy đã giúp ông vinh quang hiển hách?! Nhưng rốt cuộc thì gia đình ông là nạn nhân hay nguyên nhân của cái "tai nạn" thời cuộc(?). Đến cuối đời ngoài danh hiệu của một vị tướng về vườn ông chả có gì để lại! (...)
     
Đào Vương là thế hệ ăn theo. Kẻ bị hào quang của lớp cha anh chiếu đến được bão hoà. Vương đã xả thân vào cuộc chiến. Sống hết mình và có chết cũng hết mình. Anh ta ngỡ ngàng nhìn lại mình? Nhìn lại cái thành quả mà mình mang lại đang bị những kẻ sử dụng ngang nhiên phí phạm chuyển hoá lạm dụng. Vậy cái lý do để Đào Vương công thần phẫn uất đâu phải là vô cớ!
      Còn Thu Cúc. Không thể không nhắc đến chị ta. Dù không phải người làng Đoài nhưng những tác động của Thu Cúc không nhỏ đến số phận của những con người làng Đoài !.Thu Cúc đại diện cho ai nhỉ? Phải hiểu rằng vai trò của Thu Cúc và đội quân của chị đã góp phần làm nên chiến thắng lẫy lừng ngày 30/4/1975
đấy! Song lẽ nào một người đã tự nguyện nằm gai nếm mật hy sinh cả tuổi thanh xuân đẹp đẽ nhất của đời mình cho một lý tưởng - một mục đích rất rõ ràng. Nhưng rồi quyền lực về tay Thu Cúc lại gạt bỏ sự công bằng cho một cuộc cào bằng?! Giá chỉ cào bằng rồi lại cùng nhau làm lại thì cũng đành lòng chịu(.) Nhưng chị ta không làm vậy. Điều này trong thực tế đã cho ta thấy không ít những vị anh hùng không “chết” nơi hòn tên mũi đạn mà “chết" trong phòng lạnh  "chét" trên đệm êm chăn ấm đó thôi !(....)
        Mọi cuộc chiến sảy ra đều do con người. Và nằm giữa sự trà sát của nó lại cũng chính là con người. Cuộc chiến lại biến con người thành tàn ác - "Bất độc bất anh hùng". Tự vạch định ra lý tưởng và để  bảo thủ cho lý tưởng mà đến nỗi huynh đệ thương tàn như anh em nhà tướng Trung với Đỗ Hiền. Và giữa những người lính của hai phía- cùng chung dòng giống con lạc cháu rồng. Cùng đương độ tuổi thanh xuân chất chứa đầy khát khao mơ ước. Và chẳng có tội gì... Mà tàn sát nhau một cách lạnh lùng vô cảm vô nhân như Đào Vương xử sự với năm tù binh nguỵ. Cái đau của chiến tranh là thế. Nếu ta không giết my thì my giết ta. Và quan trọng nhất của đạo làm người phải tỉnh ra điều ấy để mà nhìn nhận cho đúng bản chất vấn đề. (.)
        Nhân vật đỗ Hiền. Liệu có nên gọi ông ta là nhân vật phản diện?! Lý tưởng mà Đỗ Hiền theo đuổi bị đổ vỡ. Nhưng với người làng Đoài ông ta vẫn không mất hết chỗ đứng. Đỗ Hiền đã làm lại những gì bị phá bỏ dưới thời Trần Tăng. Ông ta dự định làm tiếp những cái mà Trần Tăng chưa làm được......Tiếng chuông chùa ngân nga vang vọng vào miền thanh thản. Con đường bê tông mới mở dẫn về nơi an nghỉ vĩnh hằng mà Đỗ Hiền bỏ tiền ra xây dựng cho người làng Đoài để trút bỏ mọi ưu tư mà đến với cái tâm cái thiện của miền cực lạc...
Trần Tăng kẻ vinh dự được khai trương đưa tiễn về cánh mả Rốt trên con đường ấy (.) 
       Đọc dưới chín tầng trời của Dương Hướng không làm ta mất hi vọng. Làng Đoài còn có Tuyết - Kẻ đã tự nguyện hiến thân cho Trần Tăng để mưu cầu công danh. Lẽ ra cô phải là cái bóng suốt đời của Trần Tăng. Nhưng không. Cô đã tách được ra khỏi cái bóng to lớn để bước ngoặt sang con đường của mình. Cô thẳng thắn vạch ra cái sai lầm một thủa của chính ông thầy từng là thần tượng của mình. Cô dám chịu trách nhiệm đương đầu với dư luận đương đầu vời cả tình yêu hạnh phúc gia đình dám tự nguyện ly hôn với Hoàng Kỳ Nam
. Tuyết những mong làm sự đổi thay đem đến cho người làng Đoài cái mà họ cần. Mừng thay "Hậu sinh khả uý". Nhân vật này làm ta bất ngờ. Phải chăng cái hay để tạo nên sự thành công cho "Dưới chín tầng trời" chính là ở chỗ này đây.
      Còn nhân vật mà Dương Hướng dày công xây dựng thành biểu tượng - một tấm gương sáng về tinh thần vượt khó để nhắn gửi đến người làng Đoài hôm nay và lớp cháu con ngày mai có lẽ lại là nhà tỉ phú Đào Kinh. Từ một cùng đinh mạt hạng của làng Đoài. Không mảnh đất cắm dùi. Cuộc đời ba đào. Vừa ló mặt ra chính trường hăm hở định tiến thân bằng con đường công danh thì bị Trần Tăng loại bỏ khống chế. Mấy lần trắng tay rồi làm lại Đào Kinh đã vươn lên thành biểu tượng của thời đại. Anh ta đã góp phần không nhỏ để làm cuộc đổi thay cho làng Đoài. Con người ấy cũng đáng trọng đáng nể lắm chứ!
     Nhưng điều mà tác giả Dương Hướng muốn gửi gắm vào nhân vật Đào Kinh còn ở điểm khác nữa. Đó là những nỗi đau sâu kín nỗi nhục dài lâu về những lỗi lầm những mông muội một thời của Đào Kinh. Vì đâu lại nên nông nỗi này? Bắt được quả tang cái thằng nó ngủ với vợ mình cuối cùng lại phải chịu ơn nó. Rõ ngược đời. Cũng bởi tại Trần Tăng mưu mô xảo quyệt quá! Hay Đào Kinh lúc ấy nhu nhược? Hay còn một nguyên nhân khác nữa: một nỗi sợ vô hình của những ông đội cải cách cứ như sấm như sét nó làm cho mọi người khiếp sợ đến kinh hoàng đến mụ mị đi. Đào Kinh cũng không thể thoát khỏi nhửng ám ảnh ấy. Suốt cuộc đời Đào Kinh muốn giũ bỏ nó mà không được. Hình bóng cái thằng nó ngủ với vợ mình thật cao sang lồng lộng nó cứ đeo đẳng bám riết suốt cả cuộc đời Đào Kinh. Thế mới ác. Và cuối cùng tôi muốn nói tới thân phận các nhân vật trong gia đình nhà thương gia Đức Cường – Có lẽ tiểu thuyết Việt
Nam
lâu nay ít đề cập đến vấn đề nhạy cảm này. Đây vẫn lại là một bi kịch- bi kịch của chiến tranh- bi kịch của hoà bình. Cái đau muôn thủa của chiến tranh là người có công trong chiến thắng thường bị thiệt thòi mất mát nhiều hơn cả: Đổ xương máu đổ tiền của mong tới ngày hoà bình...như nhà thương gia Đức Cường: Ông đã đào hầm nuôi giấu cán bộ cách mạng vô tư hiến cho cách mạng những hai nhà máy những mong được cách mạng chiếu cố đến hoàn cảnh gia đình ông có con trai đi lính nguỵ đứa con gái Thương Huyền dây dưa có con với lính Mỹ. (Thực chất con gái ông cô Thương Huyền đã phải chấp nhận ngủ với kẻ thù để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng giao phó). Nhưng cuối cùng Thương Huyền vẫn phải chịu “đày đoạ” dưới cái nhìn soi mói áp đặt của một cán bộ cách mạng “ kiên định lập trường” như Thu Cúc. Thu Cúc đã biến Thương Huyền từ một sinh viên hoa khôi tốt nghiệp văn khoa Sài Gòn phải chịu “dưới hai làn đạn của cả hai phía”
     Và cái đau đớn nhất kinh hoàng nhất dữ dằn nhất: nhà thương gia Đức Cường- giàu có bao nhiêu đức độ bao nhiêu kiêu hãnh bao nhiêu cuối cùng đã trắng tay phải tự tử trong chính căn hầm mình nuôi giấu bảo vệ cán bộ để giải thoát cho mình nỗi đau trần thế để ngày ngày khỏi phải chứng kiến cảnh trái ngang của thời cuộc trái ngang của nhân tình thế thái. Tôi cứ ngỡ Dương Hướng chỉ giỏi viết về cái làng Đoài quê hương anh ai ngờ khi anh nhảy phốc một phát viết về bối cảnh trong chiến trường về gia đình Thương gia Đức Cường và nhân vật Thu Cúc thật sắc và nhuần nhuyễn đạt tới tầm cao và độ sâu tư tưởng tác phẩm. Song. Như trên đã nói: Tác giả không phán xét. Dương Hướng chỉ "phác thảo" chân dung thời đại. Rồi Dương Hướng biện luận bào chữa thay cho mọi hiện tượng đã sảy ra trong thời đại của chúng ta là "tai nạn".
Cái "tai  nạn" ấy không đương nhiên mà có !Vậy có ai đứng ra chịu trách nhiệm?Có lẽ không chỉ riêng ai mà tất cả đều là nạn nhân của tai nạn ấy!Sự họp mặt của người làng Đoài để mừng thắng lợi. Mừng vì cái "tai nạn" ấy đã được khắc phục?! và tất cả cũng cào bằng?!
Tiểu thuyết “Dưới chín tầng trời” đúng như những gì báo chí đã nhắc đến đã gợi mở trong các bài giới thiệu sách: Dương Hướng muốn gói gọn hiện thực xã hội gói gọn cả số phận dân tộc trong suốt nửa thế kỷ vào tác phẩm“Dưới chín tầng trời”
     Đến đây thì tôi xin lý giải đôi điều ta muốn đạt đến hoàn thiện cuộc sống phải luôn tiến hoá. Trong quá trình tiến hoá sự đào thải là đương nhiên. Còn trong xã hội loài người thì mỗi cuộc cách mạng đều nhằm đến sự đổi thay để đi đến hoàn thiện. Thời kỳ quá độ là sự lần tìm. Có sai thì phải sửa. Cái nhìn của Hoàng Kỳ Nam cấp tiến hơn Hoàng Kỳ Trung. Cái nhìn Của Tuyết cũng cấp tiến hơn Trần Tăng. Đây cũng là cách nhìn rất thực tế rất nhân bản rất nhân sinh quan của Dương Hướng. Và dường như cũng là điều tất yếu của lịch sử.“Dưới chín tầng trời” làm cho người đọc không ác cảm mãi với nhân vật xấu. Dù khai thác tới tận cùng để lột tả khắc hoạ khía cạnh xấu- tiêu cực nhưng rốt cục Dương Hướng vẫn đưa nhân vật “Ác Quỷ” trở về với phần “người” trong con người xấu xa tội lỗi đó. Điều đó đủ nói lên tính trung thực không nhằm miệt thị bôi đen nhân vật- Những lỗi lầm tội lỗi của họ cũng là do hoàn cảnh do hạn chề của thời đại tạo nên. Đó chính là điểm sáng của “Dưới chín tầng trời”
Dương Hướng thật cặn kẽ. Anh đã phân tích đã lý giải hoá giải mọi hiện tượng mọi sự kiện qua cách nghĩ suy của từng nhân vật rất sắc sảo đến đạt lý thấu tình. Khiến người đọc dễ cảm thông với mọi hoàn cảnh của từng nhân vật trong từng sự kiện. “Dưới chín tầng trời ám ảnh người đọc qua từng chi tiết khắc hoạ một cách chân thực sinh động nhưng lại không hề kích động mà ngược lại nó làm cho lòng ta dịu lại: Muốn gạt bỏ mọi cái ác sống ân tình nhân ái hơn tốt đẹp hơn.
 
 
          Từ làng Đoài Dương Hướng ra đi.  Bước chân anh đã rải dọc theo chiều dài đất nước. Từ một thanh niên nông dân thành chiến sĩ thanh niên sung phong rồi thành anh bộ đội giải phóng và chuyển ngành sang làm người cán bộ hải quan của miền Đông Bắc tổ quốc. Những miền đất nước anh qua. Những sự việc sảy ra quanh mình. Những công việc đã đã từng trải trong đời đều được khắc hoạ lại dưới ngòi bút tài hoa diệu nghệ. Câu chữ chẳng cầu kì nên rất chân thật. Tính triết lý lại sâu sắc khiến người đọc phải luôn suy ngẫm. Tình tiết  ly kì mà quá sống động - Truyện mà thật như chính cuộc đời. còn M.Sôlô khốp thì nói: "Sự thật viết rất khó. Mà khó hơn cả là viết lên chân lý". Bây giơ tôi mới xin nhắc đến Hoàng Kì Nam - Nhân vât chủ đạo đi xuyên suốt chiều dài cuốn tiểu thuyết dài 500 trang chữ nhỏ khổ sách lại to của "Dưới chín tầng trời" Nam là một con người tài hoa. Từ cầm súng chuyển qua cầm bút. Nghề văn nghề báo có thể giúp anh kiếm được nhiều tiền. Nam không vụ lợi. Anh chỉ viết theo lương tâm và trách nhiệm với nghề nghiệp - Thà gác bút chứ không bồi bút. Con người này thân phận cũng đầy trắc trở éo le. Anh sống có thuỷ có trung - Đành lòng làm kẻ "đổ vỏ" cho bạn mình tiến tới. Tôi dám chắc rằng cặp nhân vật Đào Vương và Hoàng Kì Nam
là tính cách là hồn vía   lấp ló một phần cuộc đời thật của chính tác giả. Còn những nhân vật khác của "Dưới chín tầng trời". Vì tò mò tôi sẽ lại tìm về làng Đoài - Cái làng An Lệnh cũ thuộc xã Thuỵ Liên huyện Thái Thuỵ tỉnh Thái Bình của Dương Hướng để nhìn tận mặt những nguyên mẫu. Nhưng lần này rút kinh nghiệm từ "Bến không chồng" chắc Dương Hướng đã tổi tên cho họ.
     (Ghi chú: “1” nhân vật trong tiểu thuyết Bến không chồng của DH).
 
                                                                                
N D
 
 

More...

Đầu xuân gặp gỡ Nhà văn Dương Hướng

By DƯƠNG HƯỚNG

ĐẦU XUÂN TRÒ CHUYỆN VỚI
NHÀ VĂN DƯƠNG HƯỚNG
  
    
                                                                                                    Quốc Huấn
       
Sau “Bến không chồng” cuốn tiểu thuyết đã đoạt Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1991 Dương Hướng gần như “im hơi lặng tiếng…Cho đến cuối năm 2007 mới lại cho ra mắt bạn đọc tác phẩm mới “Dưới chín tầng trời” một cuốn sách được dự đoán có thể là “sự kiện nóng” của Văn học Việt Nam năm qua…         
        - Xin chúc mừng anh vừa hoàn thành cuốn tiểu thuyết mới nhất: "Dưới chín tầng trời". Vậy là "đứa con" mà anh "thai nghén" bao năm ròng đã được sinh ra...Tết này chắc anh vui và thấy thoải mái nhẹ nhõm lắm phải không?      
        - Dân mình ngàn năm nay vẫn thế. Vất vả quanh năm ngày tết đến lòng thấy ấm lại. Ta cảm nhận rõ được sắc xuân tươi tốt non tơ của cỏ cây hoa lá sự huyền diệu của trời đất bao la sự huy hoàng của non sông đất nước. Và quan trọng hơn cả ngày tết ta được vui bởi tình đời tình người tình cha mẹ tình anh em bè bạn xa gần về quần tụ bên mâm cơm đượm khói hương trên bàn thở tổ tiên gia tộc nhà mình. Với tôi cũng thế thôi xuân về năm nay niềm vui được nhân lên bởi cuốn tiểu thuyết “Dưới chín tầng trời” vừa ra mắt bạn đọc sau nhiều năm trăn trở lo âu. Vậy là nỗi lòng mình gửi hết vào tác phẩm và đã đến được với công chúng. Biết nói thế nảo nhỉ: Văn là đời mà! Tôi đã trải nghiệm qua nhiều năm tháng nhìn nhận thấu đáo mọi biến cố thăng trầm của đất nước và đã hết sức cố gắng thành tâm khắc hoạ nên những biến cố đau thương hào hùng của dân tộc trong nửa thế kỷ qua. Tôi mong sao mang lại được cho bạn đọc một sự đồng cảm sẻ chia nào đó trong niềm vui cũng như nỗi buồn vào dịp đầu xuân này…       
          - Anh có nhớ tết năm ngoái khi đang viết "Dưới chín tầng trời" tâm trạng anh thế nào không? Hay nói cách khác khi đang viết hoặc đang ấp ủ viết một tác phẩm nào đó tâm trạng anh như thế nào? Nhất là vào thời điểm chuyển giao năm cũ và năm mới? (Lúc đó con người ta thường ý thức rõ nhất sự trôi đi của thời gian đối với công việc mình đang làm...)…      
       -Thú thật khi viết xong tiểu thuyết này nỗi lo duy nhất của tôi là làm sao để cuốn sách được bước ra cuộc đời của nó. Được đến với bạn đọc suôn sẻ. Đó là nỗi niềm mong muốn nhất của người cầm bút. Ngày này năm ngoái tôi đang viết những chương cuối cùng cuốn tiểu thuyết này. Tôi nhớ trước phút giao thừa mình vẫn còn mải mê cậm cạch trước máy tính đánh vật với từng con chữ…Khi tiếng chuông chùa Long Tiên đổ dồn từng hồi âm vang vách núi Bài Thơ tôi mới bừng tỉnh chạy ra sân thượng nhìn ngắm bầu trời thành phố rực rỡ sắc mầu pháo hoa và mùi hương thơm ngát từ chùa Long Tiên toả sang (nhà tôi cạnh Chùa mà!). Vậy là lại một năm nữa trôi đi mình thêm một tuổi. Theo lệ năm nào giao thừa tôi cũng cùng vợ con ra chùa thành tâm niệm Phật đón xuân hái lộc thấy lòng lâng lâng thanh thản. Và quan trọng hơn cả là cái nghiệp văn chương nó sẵn trong tâm trong máu mình hay quan sát thiên hạ vào những phút giây thiêng liêng này. Vào thời khắc quan trọng của sự chuyển giao giữa năm cũ năm mới con người ta cần gì? Cảm gì? Phải chăng mỗi khi con người ta còn thiếu cái gì đó thiếu cơm áo hay thiếu lòng tin vào luật pháp (luật pháp chưa nghiêm) họ lại tin vào thần pháp? Tôi nhìn kỹ vào từng gương mặt từng ánh mắt và nhận ra một điều rằng họ gửi đức tin vào Thần Phật một cách tự nguyện! Họ kiếm tìm điều gì?Tất cả chúng ta cả anh cả tôi đều biết: Đó là lòng khát khao cầu mong được khoẻ mạnh an bình no ấm và hạnh phúc…         
         - Có người đã dự đoán "Dưới chín tầng trời" rất có thể là sự kiện hot nhất  của Văn học Việt Nam năm 2007! Trên thực tế từ khi mới ra mắt nó đã có vẻ được bạn đọc rất quan tâm. Cảm xúc của anh thế nào? Có giống hay khác khi viết xong "Bến không chồng" và các tác phẩm khác trước đây? (Hỏi nhỏ thêm một chút: -Anh có lo nó bị “Bến không chồng” làm cho “chìm nghỉm” như một vài tác phẩm gần đây của anh không?)         
        - Hồi tôi viết tác phẩm “Bến không chồng” tôi chỉ nghĩ  viết thế nào cho thật hay chứ không nghĩ đến chuyện được giải thưởng. Lại càng không nghĩ nó lại có thể được dịch sang tiếng Pháp tiếng Ý... Ngày ấy tôi còn chưa được bạn đọc biết đến nhiều nên không bị sức ép nào. Mãi 15 năm sau tôi mới lại quyết định viết tác phẩm “Dưới chín tầng trời”. Tất nhiên lần này tôi đã rút kinh nghiệm qua tiểu thuyết “Trần gian đời người” (xuất bản chỉ sau “Bến không chồng” một năm năm 1991) chưa được bạn đọc nồng nhiệt đón nhận. Chính vì lẽ đó tôi càng phải quyết vượt lên chính mình. Cụ thể phải vượt qua được tác phẩm “Bến không chồng”. Nghiệp văn chương nó vô cùng khắc nghiệt. Những người trong nghề hiểu rõ chuyện này. Để vượt qua được cái “Bến Đỗ” của mình quả chẳng dễ chút nào. Muốn có một tác phẩm lớn phải có tư tưởng lớn. Muốn có tác phẩm hay phải có tài. Điều này qua đúng! Nhưng có được cả hai thứ tài năng lớn và tư tưởng lớn lại còn phải có bản lĩnh nữa để vượt qua được những rào cản vượt qua cả những hạn chế của xã hội hạn chế của thời đại. Thật khó lắm thay! Khi tác phẩm văn học đã ra mắt bạn đọc nhà văn chẳng thể nói được điều gì chẳng còn quyền hành gì bởi đứa con tinh thần của mình lúc này hoàn toàn phụ thuộc vào bạn đọc. Bạn đọc yêu mến hay gét bỏ là do cốt cách hình hài của nó. Nó là bóng đêm hay mặt trời là đốm lửa hay ánh sao nó toả sáng được tới đâu là do sức nóng của chính nó. Tác giả không thể “phù phép” để cho tác phẩm của mình sáng giá hơn được. Và ngược lại những tác phẩm hay và lớn tôi tin thời gian sẽ sàng lọc và độc giả là người thông minh sáng suốt hơn cả. Và sự khen chê khác nhau trong cùng một tác phẩm cũng là lẽ bình thường bởi nhận thức của mỗi người chẳng ai giống ai. Thật may mắn từ khi tiểu thuyết “Dưới chín tầng trời” tới tay bạn đọc tôi đã nhận được không ít lời khen từ khắp nơi người thì nhắn tin   gọi qua điện thoại người thì gặp gỡ rủ đi cà phê chè chát mừng ra mặt. Hạnh phúc của nhà văn là thế. Báo chí phỏng vấn nhiều quá sức tưởng tượng của mình. Và đúng như anh vừa nói có phóng viên còn dự đoán “Dưới chín tầng trời” có thể là “sự kiện hot nhất” của Văn học Việt Nam 2007; người lại bảo nó sẽ được giải cuộc thi tiểu thuyết năm tới…Tất cả thực hư ra sao còn phải đợi bạn đọc và các nhà phê bình sẽ là người đánh giá công tâm nhất…     
       - Nhưng lại cũng có người nhận xét: Trong "Dưới chín tầng trời" "cái ác" thao túng ghê quá (!). Anh nói gì về điều này? Thậm chí anh có e ngại không nếu cuốn sách "bị soi" (là nói giả dụ thế!) về mặt quan điểm tư tưởng v.v. chẳng hạn?     
     - Để hoàn thành cuốn tiểu thuyết “Dưới chín tầng trời” với hơn 500 trang gói trọn cả một giai đoạn lịch sử dân tộc nửa thế kỷ qua tôi đã dàn dựng các tuyến nhân vật theo một sơ đồ gắn kết ràng buộc có mối quan hệ chặt chẽ với nhau từ Bắc vào Nam từ chiến trường đến biên giới cửa khầu. Từ nông thôn đến phố phường... Bi kịch của Gia tộc Hoàng Kỳ và số phận long đong của người dân làng Đoài ở miền Bắc thời kỳ cải cách và hợp tác hoá. Sự suy vong của gia đình nhà thương nhân Đức Cường sau giải phóng. Gia tộc Hoàng Kỳ và gia đình thương nhân Đức Cường đại diện cho hai miền Nam-Bắc và trên họ là hai nhân vật có thế lực quyền uy: Thu Cúc và Trần Tăng. Nếu nhân vật Thu Cúc lạnh lùng say sưa chiến thắng ham mê quyền lực công danh thì Trần Tăng cũng đầy tham vọng và si mê cả về nhục dục ái tình. Tiếng tăm Trần Tăng lẫy lững thiên hạ bởi những mưu kế thâm sâu ma mãnh luôn tìm mọi cách để vươn tới quyền lực thống trị thiên hạ khiến dân tình khiếp sợ… Tất cả thông qua các nhân vật nêu trên nói lên số phận của dân tộc số phận nhân dân đất nước và đời sống long đong của những mảnh đời trôi dạt.       Câu chuyện là như vậy! Còn tất nhiên một tác phẩm văn học đã ra mắt công chúng thì tất cả mọi người đều có quyền phán xét. Có ai đó nhận xét rằng trong “Dưới chín tầng trời” cái ác thao túng quá đó cũng là quan điểm riêng của mỗi người. Với tôi trong hiện thực xã hội “cái ác” còn thao túng hoành hành hơn nhiều! Nhưng tầm tư tưởng của tác phẩm lại không phải ở chỗ ấy không phải một tác phẩm có giá trị hay không là bởi nó nói tới cái ác cái thiện nhiều hay ít. Quan trọng là nội dung tác phẩm có làm cho ta xúc động hay không. Đọc nó ta căm phẫn cái ác. Đọc nó ta muốn sống nhân ái hơn có tình hơn. Điều cốt tử của một tác phẩm tốt là phải trung thực nói lên được nỗi niềm khát khao cháy bỏng chính đáng của nhân dân của cả dân tộc…         Nói thì dễ nhưng làm được điều này nhọc nhằn cơ cực lắm thay. Tôi nhận thức rất rõ điều đó trước khi cầm bút viết “Dưới chín tầng trời”. Và sẵn sàng chấp nhận mọi sự “soi xét” của tất cả độc giả…       
           - Nghĩa là ngoài tài năng nhà văn còn phải có tấm lòng nhân ái và phải có một bản lĩnh vững vàng thì mới  nhìn được xa được cao mới có những tác phẩm lớn ? Với quan niệm ấy anh tự đánh giá mình như thế nào? Khi viết "Dưới chín tầng trời" anh thấy mình thành công nhất là gì? Và còn gì mà anh thấy chưa thoả mãn?    
       - Tôi tin vào cuộc đời tôi đang sống- sống trung thực chân thành và viết với tấm lòng nhân ái. Bản năng tôi luôn bênh vực điều thiện và người nghèo khó. Tôi đấu tranh đến cùng với cái ác và ghét cay ghét đắng sự giả dối. Quan điểm này tôi thể hiện rõ trong tất cả tác phẩm tôi đã viết từ trước đến nay. Nhưng riêng với tác phẩm “Dưới chín tầng trời” tôi thể hiện rõ hơn cả nói được nhiều điều hơn cả. Có nhiều người đã đọc “Dưới chín tầng trời”; họ đã khẳng định: “Dưới chín tầng trời” hơn hẳn “Bến không chồng” ở cả mọi phương diện- tầm cao tác phẩm có sức nặng và khái quát cao phản ánh đầy đủ suốt cả quá trình dài của lịch sử nước nhà…  Trong “Dưới Chín tầng trời” có những điều nhạy cảm mà lâu nay ta còn e ngại lăn tăn không thể nói ra và không thể tuyên ngôn bằng văn bản. Nhưng bằng hình tượng văn học lại có thể minh hoạ một cách dễ chấp nhận hơn cả. Tôi đã cố gắng bằng tấm lòng bằng cái tình chân thật của mình nói ra một cách thành tâm nhất giaỉ toả được mọi điều đau đáu nỗi niềm lâu nay của mọi người về những hạn chế của lịch sử. Thật may mắn “Dưới chín tầng trời” được ra mắt bạn đọc trong xu thế đổi mới xu thế mở cửa hội nhập với thế giới. Đảng và Nhà nước ta hiện nay đã có cái nhìn khách quan hơn. Các nhà xuất bản cũng vừa mạnh dạn phát hành một loạt các tác phẩm lâu nay được coi là “có vấn đề” như Phan Khôi Phạm Quỳnh... “Dưới chín tầng trời” ra mắt vào dịp này phản ánh đúng xu thế thời đại mình đang sống xoá bỏ mọi hận thù bắt tay làm ăn với toàn thế giới tôi tin sẽ được đông đảo bạn đọc đón nhận…      
       - Sau "Dưới chín tầng trời" anh đã có dự định gì mới cho sáng tác của mình chưa?         
        - Tôi đang có một hợp đồng đã ký với Ban quản lý sáng tác về đề tài chiến tranh cách mạng. Cụ thể tôi đã làm xong đề cương và đã được Ban quản lý sáng tác thông qua đã tạm ứng 5 triệu đồng; hơn một tháng rồi tôi đi gặp gỡ các nhân vật vào các quân khu và đã thu thập mang về được một bịch tới 10kg tài liệu mà chưa kịp đọc dòng nào. Tôi đang mong tới ngày được… về hưu sớm đề hoàn thành công việc này! (cười).      
        - Xin cảm ơn anh! Và nhân dịp năm mới chúc anh dồi dào sức khỏe và luôn trẻ trung cả ngoài đời cũng như trong sáng tác cho dù có …về hưu sớm hay không!  

More...

Người dám "Đùa với áo cơm"

By DƯƠNG HƯỚNG

Nhà văn Dương Hướng – tác giả “Bến không chồng”:
Người dám “đùa với áo cơm”
 
 
     
   
    Dương Hướng gây cảm giác ông rất khoái...điếu cày nhưng hoá ra lại biết dùng laptop - thứ “đạo cụ” ít khi thấy xuất hiện trong các bức chân dung “nhà văn tỉnh lẻ”. Dương Hướng dễ bị hiểu là người chuyên bị “áo cơm đùa” ai dè lại là kẻ (không ít bận) dám “đùa với áo cơm”.

 
 Người 15 năm bị “bóng đè”  
Sau bao lâu cái tên Dương Hướng lại mới được nhắc trở lại không còn vì “Bến không chồng” –  cột mốc mà mười lăm năm trước từng giúp đánh dấu cái tên Dương Hướng lên văn đàn nhưng đồng thời cũng ít nhiều đổ bóng lên ông như một thứ “bóng đè”. Mười lăm năm ông vẫn tiếp tục viết mà dễ thường người ta cứ tưởng ông im lặng và ngủ yên trong sự bằng lòng: nào là Bến không chồng được giải thưởng Hội nhà văn vào cái thời mà giải thưởng Hội vẫn hãy còn “có uy” lắm với dân trong làng cũng là cái năm mà tiểu thuyết được mùa hơn bao giờ hết (cùng Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường và Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh...); nào là Bến không chồng được lên phim được dịch ra tiếng Ý và tiếng Pháp... Ai mà ngờ được cái “bến không chồng” từng giúp ông cập bến văn chương ấy lại có lúc làm khó ông cập bờ bạn đọc: một tiểu thuyết khác “Trần gian đời người” (khi tái bản đổi tên là “Bóng đêm mặt trời”) cùng hai tập truyện ngắn và truyện vừa viết sau đấy nhanh chóng bị rơi tõm vào im lặng cũng là vì bị “cái bóng của Bến không chồng che lấp” – theo như ông “tố giác” – “Cái tội này là tội của “Bến không chồng”!”. 
         Sự im lặng có chăng cũng là im lặng trong trăn trở để nuôi ngày trở lại. Lần này là một sự trở lại quyết liệt hơn bằng một tiểu thuyết bề thế có cái tên đầy “vĩ mô”: “Dưới chín tầng trời” (hiện đã nằm ở nhà in). Dương Hướng coi DCTT là một “Bến không chồng” phần hai hay đúng hơn là sự tiếp nối về hiện thực xã hội trong “Bến không chồng” khi để điểm xuất phát của các nhân vật vẫn là từ cái làng quê quen thuộc của ông trong “Bến không chồng”. Cố gắng ôm vào lòng tác phẩm một loạt bước ngoặt sự kiện quan trọng của đất nước trong suốt nửa thế kỷ từ chiến tranh hòa bình đến thời kỳ mở cửa cơ chế thị trường… DCTT đã được nhà phê bình Hoàng Ngọc Hiến cho điểm: “Nếu như tiểu thuyết trước hết là cốt truyện thì tác phẩm này thừa sức hấp dẫn. Vì cốt truyện rất ly kỳ nhiều tuyến nhân vật quan hệ éo le số phận ba chìm bày nổi; nhiều tuyến hành động diễn ra khắp các miền Trung Nam Bắc có xóm làng và thành phố có chiến trường ác liệt ở miền Nam và sinh hoạt nhộn nhạo rối ren vùng biên giới phía Bắc...”
 
   “Atlas của làng văn” Trong cái cách Dương Hướng lần hồi đến với nghề văn vừa như chậm mà chắc lại vừa nôn nóng và quyết liệt cứ như một “nghiệp chướng” người ta dễ liên tưởng đến “kẻ cõng trời” trong thần thoại Hy Lạp: Atlas. Khác chăng gánh nặng ấy với Atlas là một hình phạt của thần Jeus thì với “nhà văn  nghiệp dư và tỉnh lẻ” của chúng ta lại là một sự tự nguyện; Atlas luôn chỉ rình thừa cơ là cất gánh nặng sang vai người khác thì đây ông lại cứ tự vơ vào mình cái gánh nặng mà thiếu ông thì chợ vẫn đông vẫn đầy người gánh giúp.
         “Tôi từng bị cho là người hâm khi viết đơn xin nghỉ việc không lương để viết “Bến không chồng” vào thời điểm những năm 1980 nhà nhà khốn khó. Vợ tôi lại rơi vào diện “nhà văn nhà báo nhà giáo nhà nghèo” nhà lúc đó lại có đến bốn cái “tàu há mồm” chỉ biết trông vào đồng lương còm của vợ…- Dương Hướng nhớ lại – Cũng áy náy với vợ con lắm nhưng say nghề thì đúng là cứ như bị “ma làm”. May sao rồi khó khăn cũng qua và những đánh đổi cũng đã được đền đáp”.
       Rõ là trời “làm hư” ông công chức vốn có máu ưa “trữ tình ngoại đề” này khi cho ông gặp may như thế. Vậy nên lịch sử mới đây lại  tái diễn khi ông lại tiếp tục xin nghỉ việc không lương một năm để ngồi viết “Dưới chín tầng trời”. Dễ để “nịnh” … Trời? “Chín tầng trời”ở đây không phải là trời mà chính là chúng ta là trần gian là cuộc sống con người là niềm vui nỗi buồn là hạnh phúc khổ đau. “Chín tầng trời” chính là cửu trùng đài...”.
 
      “Xởi lởi trời cho” Dương Hướng quả đúng là một minh chứng cho kiểu người “xởi lởi trời cho”. Khi một người viết cầm bút chỉ bởi yêu nghề và những thôi thúc nội tâm thì ít hay nhiều những trang viết cũng có lúc mang lại niềm vui trả họ. Đã đành ai khởi đầu cầm bút mà chả với một chút ngộ nhận trong lòng thậm chí đôi khi cũng là cần thiết một chút “tham vọng” nữa để giúp tự tin. Nhưng vào cái thời điểm liều lĩnh xin nghỉ không lương và chấp nhận bị cho là “ấm đầu” để ngồi viết “Bến không chồng” giữa thời buổi “gạo châu củi quế” ông công chức của ngành hải quan Dương Hướng chắc chắn không thể nào tiên lượng được có ngày những trang viết từ tỉnh lẻ của ông lại có ngày được giải thưởng Hội nhà văn được lên phim dịch ra tiếng Pháp và tiếng Ý được trả nhuận bút bằng euro (tương đương 80 triệu VN đồng)…Đằng sằng ra mà nói trong cái sự “phó mặc sự đời” và dám “đùa với áo cơm” để yêu nghề của ông không phải là không có một phần ích kỷ nếu xét ở góc độ một người trụ cột trong gia đình. Nhưng may cho ông và vợ con ông là khi người không tính được thì lại được trời tính hộ cho cứ như thể “trời sinh thì trời dưỡng” vậy. “Đúng là tôi có một cái “tệ” là đã ngồi ôm lấy bàn viết thì chả muốn làm việc gì khác chả nhớ gì. Nhưng cũng có lúc trước những cơ sự “cơm áo không đùa” mình vẫn có lúc phải rời bàn viết. Mười lăm năm im lặng nhưng vẫn phải lo cho cả thảy bốn đứa con ăn học hết đại học. Nhờ giời đến nay các cháu đều đã trưởng thành có công ăn việc làm và xây dựng gia đình riêng cả rồi…” – Ông nói.
 
           Dương Hướng vốn dân quê lúa (Thái Bình) dạt về vùng biển (Hạ Long) rồi nhiều năm mặc áo lính tại chiến trường khu 5 xuất ngũ thì thành thợ máy tàu khi luống tuổi thì được “vời” lên bờ làm cái anh “cạo bàn giấy” của ngành hải quan Quảng Ninh. Những chặng đời chẳng nghề ấy ít nhiều lưu lại ở ông cùng lúc cái vẻ chân chỉ bộc toạc của con nhà nông lại có cái nghiêm ngắn phong trần của một người từng tại ngũ; có cái xuê xoa tếu táo của cánh làm thợ lại cái mẫn cán cặm cụi của dân công chức bàn giấy. Ngồi “bám đất” ở Quảng Ninh ông không có điều kiện để giao lưu nhiều với bạn nghề và bạn đọc càng không dễ nổi tiếng vì ít có cơ hội tiếp xúc với báo chí. Nhưng những bạn nghề nào biết ông thì thường nói về ông một cách hết sức trìu mến bằng một loạt truyện “giai thoại” “tiếu lâm” mà trong đó ông là nhân vật chính. Rằng thì là chuyện ông lớ ngớ định bắt taxi cho một chặng đường dài hàng trăm cây số mà không hề biết giá trên hành trình đánh đường vào Tây Nguyên dự trại viết. Chuyện những ngày đầu ông “đánh vật” với cái laptop – được con mua giúp cho để làm nghề rồi “đánh vật” với cả cái thẻ ATM… Cái ông quê đến là quê mà cũng lại là kẻ “cập nhật công nghệ” thông tỏ chuyện đời dễ mấy ai bằng. Luôn luôn có thể tìm thấy ở ông những bất ngờ nho nhỏ thú vị cũng là vì thế. Chẳng biết trong những chặng hành trình đi tìm nhân vật của mình Dương Hướng  cũng như các bạn nghề của ông đã bao giờ nhận thấy: ông cũng chính là một nguyên mẫu khá là độc đáo có thể giúp cho văn học VN hôm nay một mẫu “nhân vật điển hình”. Điển hình cho một kiểu làm nghề tay ngang mà “chí chết” yêu văn chương đến độ lăn xả hồn nhiên. Điển hình cho một cách sống quyết liệt mà không ganh đua không tự cao nhưng cũng không hề mặc cảm. Điển hình cho một mẫu nhà văn vừa “âm lịch” vừa tân tiến vừa biết “bám làng” lại vừa biết mở cửa đi ra thế giới. Vừa khao khát giao lưu nhưng đồng thời cũng tránh được cái “hệ lụy” của “văn hóa tụ tập” từng làm bao người viết nhà mình phải nhạt bút hư nghề: chỉ chê (người khác) là giỏi chỉ hứa chứ không viết và suốt ngày ngồi giữa chốn lao xao ấy mà lại như không nghe không thấy không đọc…Điển hình cho một kiểu cập bến văn chương nồng nhiệt đến nỗi chỉ biết giương buồm thẳng tiến mà không buồn lựa sóng lựa gió!

                                                                      Thiên An
     
    

More...

Bi kịch lạc quan

By DƯƠNG HƯỚNG

BI KỊCH LẠC QUAN

 
TRONG "DƯỚI CHÍN TẦNG TRỜI"
  
Bùi Việt Thắng

ơ        
    Tôi cứ hình dung khi viết tiểu thuyết Bến không chồng (xuất bản 1990 Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 1991) Dương hướng giống như một ông chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp cấp cao thời bao cấp - ngày đêm lặn lộn với cơ sở và lúc nào cũng trăn trở với vấn đề "tam nông" (nông thôn - nông nghiệp - nông dân). Từ đấy đến nay đã ngót hai mươi năm vẫn viết nhưng dường như "ông chủ nhiệm" này cứ luôn ấp ủ một cuộc bứt phá ngoạn mục hơn nghĩa là viết một tác phẩm quan trọng hay nhất của đời cầm bút. Tôi thấy Dương Hướng có cái tâm thế sảng khoái và cái tư thế tự tin khi Dưới chín tầng trời ra mắt bạn đọc (cuốn sách còn rất nóng hổi vì in và nộp lưu chiểu quý IV năm 20007). Dương hướng bây giờ không còn "bùi xùi" như độ viết Bến không chồng mà đã trở nên đĩnh đạc sang trọng như một vị Tổng Giám đốc một tổng công ty ăn nên làm ra và có thương hiệu. Có thể đoán rằng cái cấu tứ của Bến không chồngTrần gian người đời (Hai cuốn tiểu thuyết in liền trong hai năm 1990 và 1991) là cái "xương sống" cái "cốt tuỷ" để Dương Hướng tiếp tục triển khai mở rộng đào sâu và nâng tầm lên với một bút lực mới trong Dưới chín tầng trời. Ai đó nói chí lý rằng: "Không phải là nhà chép sử mà chính nhà văn là người chép lại lịch sử cuộc đời".

     Dưới chín tầng trời là một cuốn tiểu thuyết "ròng ròng sự sống" và xây cất được những tư tưởng thời đại thể hiện sinh động trong những số phận bi kịch - nhưng là những bi kịch lạc quan - Từ Trần Tăng Đào Kinh Măng Hoàng Kỳ Trung Yến Quyên Tuyết đến Hoàng Kỳ Nam Thương Huyền Thu Cúc Đào Vương...Sở dĩ tôi nói đến những bi kịch lạc quan trong Dưới chín tầng trời là vì đồng thuận với ý kiến của Hoàng Ngọc Hiến trong bài viết in cuối tiểu thuyết của Dương Hướng: "Đây là cách nhìn truyền thống của Phương Đông: Thấy Dương trong Âm cái Sống trong cái Chết cái Dũng trong cái Hèn Phúc trong Hoa Thiện trong Ác Tích cực trong Tiêu cực. Dưới chín tầng trời là một tiểu thuyết toàn bích về những góc khuất của lịch sử - những góc khuất này thể hiện qua nhiều nhân vật có tính cách số phận và hơn thế tạo ra được những ám ảnh nghệ thuật. Vì thế có thể nói rằng Dưới chín tầng trời không có nhân vật chính mà lịch sử mới là nhân vật chính và nó được hoá thân vào những cá nhân cụ thể những thân phận hay kiếp người từ Trần Tăng ở "ngôi cao" đến Hall - một cựu binh Mỹ từng tham chiến ở chiến trường Việt Nam đã xuất hiện ngay chương 1 của tiểu thuyết. Lịch sử từ trước đến nay vẫn được xem như là một cái gì sáng rõ lojic và trung thực. Nhưng nếu nhìn lịch sử qua thân phận cá nhân thì sẽ thấy nó cũng có khía cạnh: "mù mờ" phi lý và không chính xác. Chẳng hạn nếu nhìn lịch sử hiện đại qua nhân vật Trần Tăng ta sẽ thấy rõ và sâu hơn tính phi lý tính ngẫu nhiên và thậm chín cả cái "hư vô" của nó. Ở chương kết (chương 33) nhân vật đi suốt tác phẩm và chi phối hoạt động của nhiều nhân vật khác - Trần Tăng - chết đột quỵ. Trước lúc chết ông ta đã "lần đầu tiên trong đời Trần Tăng mới thực sự cảm thấy tin vào điều gì đó trong cõi hư vô". Con người này đã "ngộ" ra chân lý ở giờ phút cận kề cái chết - như vậy đó là một bi kịch lạc quan.

    Mỗi nhân vật của Dưới chín tầng trời là một thân phận trĩu nặng một vấn đề của nhân tình thê thái. Hoàng Kỳ Nam nếu có thể nói là nhân vật được tác giả thổi vào cái nhiệt hứng của mình khi viết Dưới chín tầng trời  cũng bởi anh ta là một nhà báo nhà văn. Những kinh nghiệm sống và kinh nghiệm ngề nghiệp của nhà tiểu thuyết được gửi gắm vào nhân vật này. Hoàng Kỳ Nam là một nhân cách - một cá tính tự do đã đi tới những quyết định vừa táo bạo vừa đau đớn: bỏ vợ (Tuyết) và bỏ nghề (nghề báo) để sống bên Thương Huyền: "Nam âm thầm sống bên Thương Huyền trong tâm trạng mơ hồ nửa hưa nửa thực. Trong tâm trí Hoàng Kỳ Nam nảy nở bao nhiêu chiêm nghiệm lớn lao về một cuốn tiểu thuyết mà Nam nung nấu. Nam muốn nói tiếng nói của mình muốn có quan điểm riêng của mình". Xét ở một phương diện nào đó thì cuộc đời của Hoàng Kỳ Nam cũng là một bi kịch lạc quan của một con người một đời phấn đấu và dám sống vì mình.

    Những bi kịch lạc quan người đọc có thể nhìn thấy rõ qua số phận các nhân vật khác trong tiểu thuyết như Hoàng Kỳ Trung Yến Quyên Tuyết Đào Vương Măng....Đúng là mỗi người một vẻ mà mười phân chưa vẹn được mười.

    Bi kịch lạc quan trong tiểu thuyết của Dương Hướng rõ ràng là có tác dụng “tẩy rửa tâm hồn” con người.

     Dưới chín tầng trời  của Dương Hướng là một cuốn tiểu thuyết đậm chất  sử thi và tâm lý. Lâu nay là một số người cho rằng thười đại của sử thi trong văn chường đã “hết thời” nhường chỗ cho văn chương đời thường. Những thực tế thì sử thi vẫn còn đất sống và đôi khi còn có sức tung hoành công phá. Nói tiểu thuyết mới của Dương Hướng đậm chất sử thi và tâm lý hoàn toàn có cơ sở. Tác phảm được mở ra với một thời gian dài (ngót nửa thế kỷ) và một không gian rộng (khắp mọi miền đất nước chưa kể nhân vật Hall như là một địa diện của một không gian sống khác ngoài lãnh thổ) và tâng tầng lớp lớp nhân vật (từ Hoàn Kỳ Bắc Hoàng Kỳ Trung đến Hoàng Kỳ Nam...). Một hình ảnh đời sống trọn vẹn đa chiều và phức tạp từ “thượng đỉnh” tới “hạ giới”...Như vậy có thể tiểu thuyết của Dương Hướng có tính sử thi. Cái khéo của người viết tiểu thuyết là đan cài  lịch sử - sự kiện và lịch sử tâm hồn điều đó tạo nên một cấu trúc đặc biệt phức tạp đòi hỏi nhà văn phải có tay nghề cao để xử lý chất liệu điều khiển nhân vật và tổ chức  các lớp lang của tác phẩm. Hãy lấy một nhân vật của tác phẩm – Trần Tăng – làm ví dụ. Nhân vật này đại diện cho kiểu người quyền lực (và tha hoá về quyền lực). Bước đường công danh (hay là quan lộ )của ông ta gắn với những biến cố lịch sử ghê gớm của đất nước: Cái cách ruộng đất – chiến tranh – hoà bình và đổi mới xã hội. Chưa hết ông ta còn dính dáng đến Đào Kinh và Măng .. Trần Tăng là một góc khuất lớn nhất của nhân vật lịch sử (nếu như ta coi lịch sử là một nhân vật chính của tác phẩm). Có thể coi Trần Tăng cũng là một đại  biểu của “thời xa vắng” như nhân vật Giàng Minh Sài của Lê Lựu trong tuyể thuyết Thời xa vắng . Những nhân vật này cúng nổi hình nổi khối về tâm lý nói cách khác là nhà tiểu thuyết đã chỉ ra được cái “biện chứng tâm lý” trong tính cách và số phận của nó. Con người quyền uy ngang trời ấy đến lúc cũng cạn kiệt sức sống và không thoát khỏi quy luật :sinh –lệnh – lão – tử” của thế gian này. Nó là định mệnh nó là quả báo cuối vùng nó là hư vô “Anh Câm chỉ cho Trần Tăng tìm tới ngôi mộ của Hoàng Kỳ Bắc rồi cúi xuống đẩy xe khoai lang lên mặt đường. Trần Tăng ngồi thụp bên ngôi mộ Hoàng Kỳ Bác. Tay ông run run với nắm cỏ khô đốt cho ngọn lửa cháy bùng lên để châm hương. Mắt ông hoa lên nhìn khói bay lên không trung. Bất chợt một luồng gió lộng lên tạt cả khói và tàn hương vào mắt vào miệng làm ông ho sặc sụa (...). Trần Tăng kinh hoàng nhìn lên bầu trời(...) . Trần Tăng run rẩy nghĩ rằng ông trời đang trừng phạt mình”. Đó cũng là lúc “Lần đầu tiên trong đời Trần Tăng mới thực sự cảm thấy tin vào điều gì đó trong cõi hư vô” (trang 499 và 500). Trần Tăng quả thực là một “ca tâm lý” phức tạp ở con người này vừa có ác quỷ vừa có  thánh thần vừa có phần đời sống bẻ gãy tan tành. Quá trình tâm lí của nhân vật Trần Tăng (cũng như các nhân vật khác) đã làm cho chất sử thi của tiểu thuyết  Dưới chín tầng trời thêm vững vằng bề thế.

    Đọc dưới chín tầng trời tôi thấy vui mừng về cách viết của Dương Hướng: chuyển từ bản năng chân phương (trong Bến không chồng) Tới sự hoà quyện giữa bản năng và trí tuệ trong tiểu thuyết mới này. Đó là một quá trình rèn luyện phấn đấu không ngừng để tích luỹ vốn sống vốn nghề nghiệp. Ở vào độ tuổi “lục tuần” Dương Hướng quả thật đẫ bình tĩnh tự tin khi trình bày những tư tưởng lớn về đời sống bằng văn chương. Tôi đoán sẽ có một số ít người “xì xầm” về Dưới chín tầng trời ở điểm này hoặc điểm kia (vấn đề quyền lực và bi kịch vấn đề định mệnh – quản báo vấn đề hư vô - cái vô nghĩa lý của cuộc đời... ) Nhưng tôi vẫn nghĩ rằng bao trùm lên từng câu chữ hình ảnh sự kiện nhân vật là niềm tin vào con người. ở chương cuối (chương33 với tựa đề Con đường mới) có người cho đó là một kết thúc”có hậu” không cần thiết và nếu trở thành một biểu tượng văn chương thì đó là “một biểu tượng vặt không hơn không kém” (Hoàng Ngọc Hiến). Tôi nghĩ khác Dương Hướng là con người có hậu nên đã tìm đến một cách kết thúc tiểu thuyết của mình theo cách này. Kết thúc này cũng gần với Bến không chồng khi Vạn chết thì Hạnh và con mình (của Vạn) mới bắt đầu sống cuộc đời mới. Tinh thần nhân vật của tác giả đã kiến tạo nên bằng nghệ thuật những bi kịch lạc quan trong tiểu thuyết Dưới chín tầng trời./.

 
Hà Nội tháng1 năm 2008

 
B.V.T                  

  

More...

Nội dung tiểu thuyết"Dưới chín tầng trời"

By DƯƠNG HƯỚNG

Tác giả Bến không chồng trở lại.

Nhà văn Dương Hướng

 15 năm đã qua kể từ khi cái tên Dương Hướng và Bến không chồng được biết đến (cùng thời điểm với Nguyễn Khắc Trường của Mảnh đất lắm người nhiều ma và Bảo Ninh của Nỗi buồn chiến tranh) vào cái thời giải thưởng của Hội Nhà văn VN còn "có uy" lắm.

Dương Hướng gọi 15 năm đó là "15 năm im lặng trong trăn trở" để nuôi ngày trở lại bằng một cuốn tiểu thuyết còn bề thế hơn: Dưới chín tầng trời(*).

Nhà văn Dương Hướng trò chuyện với Tuổi Trẻ nhân dịp trở lại văn đàn và về cuốn tiểu thuyết mới của mình:

- Thật ra cũng không hẳn là 15 năm qua tôi "buông bút" hoàn toàn. Sau Bến không chồng tôi còn viết thêm một cuốn nữa đấy chứ: Trần gian đời người (khi tái bản đổi tên là Bóng đêm mặt trời) cùng hai tập truyện ngắn và truyện vừa nữa. Nhưng rồi bị cái bóng của Bến không chồng che lấp (Bến không chồng sau khi được giải đã được đạo diễn Lưu Trọng Ninh dựng thành phim được dịch sang tiếng Pháp và tiếng Ý). Nói tới Dương Hướng là người ta chỉ nghĩ tới Bến không chồng. Chính vì sức ép đó mà tôi đã phải trăn trở và im lặng suốt 15 năm qua.

15 năm đối với người cầm bút quả không ngắn chút nào. Nhưng ngẫm cho cùng nếu không có 15 năm ấy thì dễ gì hôm nay tôi có được Dưới chín tầng trời (DCTT).

* Nhưng lần này mảng hiện thực ông đưa ra là gì sẽ kể chuyện "làng" hay "phố"?

- DCTT là sự tiếp nối về hiện thực xã hội trong Bến không chồng. Điểm xuất phát của các nhân vật trong DCTT cũng vẫn từ cái làng quê quen thuộc của tôi trong Bến không chồng. Từ đó họ ra đi; người đi chiến trường kẻ ra thành phố kẻ ra cửa khẩu biên giới làm ăn buôn bán. Họ thành đạt hay thất bại hạnh phúc hay khổ đau được và mất là còn phụ thuộc vào thời vận... Giúp các nhân vật tỏa đi muôn nơi như thế DCTT cố gắng trải rộng trên nhiều không gian và đi sâu vào các bước ngoặt sự kiện quan trọng của đất nước trong suốt nửa thế kỷ qua.

Chiến tranh hòa bình thời kỳ mở cửa... - những bước ngoặt đó tác động rất mạnh đến từng làng quê vùng miền từng gia đình từng số phận các nhân vật trong tác phẩm. Thông qua họ ta nhận ra vóc dáng làng quê đất nước mình.

* Cách nào để ông có thể "ôm" vào tác phẩm của mình cả một bề dày nửa thế kỷ của đất nước khi ngồi "zoom" hiện thực từ một tỉnh lẻ (nhà văn Dương Hướng hiện sống và làm việc tại Quảng Ninh - CTV)?

- Nói thật ngồi viết văn ở tỉnh lẻ đôi khi cũng thấy "chồn chân" lắm vì khát khao được giao lưu mà mình thì không đủ xông xênh để đi đây đi đó được nhiều. Nhưng cứ nhìn Nguyễn Ngọc Tư xem những gì cô ấy viết từ tít tận Cà Mau mà vẫn "bắt" bên Hàn Quốc phải dịch Cánh đồng bất tận được đấy thôi! Sức thuyết phục của một cây bút rõ ràng là phụ thuộc vào tác phẩm họ viết chứ đâu phải nơi tác phẩm ấy ra đời. Cố nhiên ở tỉnh lẻ cũng phải có cách tiếp cận "thế giới văn minh" theo kiểu tỉnh lẻ. Chịu khó đọc và nghe chẳng hạn. Thêm nữa là thái độ viết.

Cũng như khi viết Bến không chồng tôi luôn cố đặt vấn đề một cách thẳng thắn trực diện không né tránh hiện thực cho dù là một hiện thực nghiệt ngã nhất. Chẳng phải văn học thế giới văn học Trung Quốc họ đã "thành thật lâu rồi" đấy sao? Quan trọng là tấm lòng người cầm bút gửi vào đâu. Tôi yêu thương những người nông dân quê tôi. Có thể nói DCTT hoàn thành được chính là nhờ vào sự kiện trọng đại khi làng xã quê tôi đón danh hiệu anh hùng và nhân đó tôi đã nhận ra rõ ràng nhất sáng tỏ nhất từng gương mặt nhân vật của tôi. Việc còn lại sau đó giản đơn là bày tỏ tình thương yêu với họ trên trang viết.

* Anh mất bao lâu để hoàn thiện DCTT?

- Viết Bến không chồng chỉ mất nửa năm DCTT mất những ba năm. Trong đó một năm cuối phải xin nghỉ việc không lương và chấp nhận bị cho là "hâm" để gấp rút "đóng máy" tác phẩm. 15 năm im lặng nhưng vẫn phải lo cho cả thảy bốn đứa con học hết đại học. Nhờ giời đến nay các cháu đều đã trưởng thành có công ăn việc làm và xây dựng gia đình riêng cả rồi.

* Cảm ơn anh.

THƯ QUỲNH thực hiện

(*) Sách do Nhã Nam và NXB Hội Nhà Văn ấn hành.

Tựa như một Ai xuôi vạn lý trên giấy DCTT trải rộng trên nhiều không gian: từ Bắc chí Nam từ làng ra phố và lên cả vùng biên... Hơn thế còn là "tham vọng" ôm vào lòng hầu hết biến cố lớn của dân tộc trong hơn 50 năm qua: cải cách ruộng đất phong trào hợp tác hóa miền Bắc cuộc kháng chiến chống Mỹ hòa bình lập lại chiến tranh biên giới và thời mở cửa... Tất cả được thể hiện qua số phận của hai tuyến nhân vật: gia tộc Hoàng Kỳ và những người dân làng Đoài.

Nghe đọc nội dung toàn bài:

Vừa nhẫn nại vừa náo động DCTT đã kể một câu chuyện xúc động về sự trôi dạt của đời người: kẻ đi chiến trường lên tới cấp tướng người thất cơ lỡ vận bỏ làng ra đi gặp thời mở cửa làm ăn giàu có thành tỉ phú... nhà văn không chỉ cố gắng gói gọn số phận thăng trầm của dân tộc qua hơn nửa thế kỷ mà còn thẳng thắn bóc trần hiện thực vạch ra cốt lõi của những trò đầu cơ quyền lực sự phản bội và những bi hài của mỗi đời người trong dòng xoáy của lịch sử.

Một bức tranh hiện thực được vẽ bằng những nét vẽ cương trực mạnh mẽ - thứ "của hiếm" lâu nay trong tiểu thuyết Việt giờ được hiển thị một cách đáng trân trọng. Trông nghiêng cuốn sách có những trang viết đẹp ở vẻ mạnh và gắt đủ sức giục người đọc bức xúc; lại có những trang viết rưng rưng ở một "nhà văn của người nghèo". Song nhìn chính diện DCTT dường như còn thiếu một bố cục đẹp một hơi văn có duyên cách kể chuyện nhiều chỗ còn hơi "quê” hơi "mộc" mà tiếc lại không phải là cái "mộc" cái "quê” như vốn dễ được yêu trong thơ Nguyễn Bính...

Theo TTO 30/11/2007

More...

Tiểu Thuyết "Dưới chín tầng trời"

By DƯƠNG HƯỚNG

Dưới Chín Tầng Trời - Tiểu Thuyết

Nơi Xuất Bản: Nxb Hội Nhà Văn
Tác Giả: Dương Hướng
Ngày xuất bản: 2007
Số trang: 514
Kích thước: 14 5x22 cm
Trọng lượng : 618(gr)
Hình thức bìa: Bìa mềm
Số lần xem: 424

Giá bìa :  75 000  VNĐ
Giá bán:  75 000  VNĐ


Giới thiệu về nội dung:

More...

Giới thiệu tiểu thuyết mới"Dưới Chín tầng trời"

By DƯƠNG HƯỚNG

Dưới Chín Tầng Trời - Tiểu Thuyết

Nơi Xuất Bản: Nxb Hội Nhà Văn
Tác Giả: Dương Hướng
Ngày xuất bản: 2007
Số trang: 514
Kích thước: 14 5x22 cm
Trọng lượng : 618(gr)
Hình thức bìa: Bìa mềm
Số lần xem: 421

Giá bìa :  75 000  VNĐ
Giá bán:  75 000  VNĐ


Giới thiệu về nội dung:

Trở về   Đầu trang   In trang   Gửi e-mail cho người thân
Không Hay (2 người )  40%
Bình Thường (0 người )  0%
Hay (1 người )  20%
Rất hay (2 người )  40%
Không HayBình Thường HayRất Hay

More...

Chân dung Dương HƯớng

By DƯƠNG HƯỚNG

CÓ MỘT NHÀ VĂN KHÔNG BIẾT TIÊU TIỀN: DƯƠNG HƯỚNG



Nhà văn Dương Hướng
Nhà văn Dương Hướng
Những năm cuối thập kỷ 80 thế kỷ trước đất nước đang ở đỉnh điểm của sự khủng hoảng kinh tế nhà nhà thiếu đói chạy miếng ăn đến bở hơi tai. Giáo viên sau giờ dạy trùm khăn kín mặt ra chợ bán rau. Sỹ quan quân đội nghỉ hưu mang bơm ra đứng đầu đường. Nông dân tất tưởi khoai sắn đắp đổi qua ngày… Cả nước nhuốm màu suy dinh dưỡng xanh xao vàng vọt.

Chính lúc đó có một công chức đang ăn lương ổn định bỗng dở chứng lên gặp lãnh đạo xin nghỉ không lương 6 tháng để… viết văn! Ông sếp của ngành hải quan Quảng Ninh trợn tròn mắt kinh ngạc nhìn người nhân viên như nhìn một người ngoài hành tinh. Này ông ơi nếu ông muốn viết văn thì làm đơn xin chuyển sang Hội văn nghệ ở đó người ta vẫn trả lương để ông có cái mà ăn mà viết. Ông nhân viên lắc đầu: Không mình thích thì viết sao lại bắt Nhà nước trả lương?

Người có hành động “kỳ quặc” ấy chính là nhà văn Dương Hướng. Ông nghỉ nhà 6 miệng ăn chỉ trông vào một suất lương của vợ là cô giáo dạy văn cấp ba chẳng cần nói cũng hiểu hoàn cảnh nheo nhóc thế nào. Đến bây giờ cái mà ông nhớ nhất về những tháng ngày đói kém ấy là tiếng ca sắt vét gạo quèn quẹt vào đáy khạp những bát cơm gạo đỏ độn bo bo ăn với những con cá ót nhạt thếch mà người dân Hạ Long vẫn gọi là “cá giáo viên”. Nhìn vợ con xanh xao ông đau quặn ruột nhưng đành nén lòng ngồi viết. Ông viết chỉ vì ông “máu viết” chứ chẳng nghĩ tác phẩm của mình có thể được in lại càng không nghĩ mình có thể trở thành nhà văn. Thế nên khi viết xong cuốn tiểu thuyết “Bến không chồng” ông đóng gói gửi đi và cảm thấy nhẹ lòng tiếp tục đến cơ quan làm việc. Rồi một ngày kia ông nhận được thư của nhà văn Nguyễn Phan Hách biên tập viên của Nhà xuất bản Hội Nhà văn thông báo tiểu thuyết của ông đã được in và cuối năm 1991 thì nó đoạt giải thưởng Hội Nhà văn cùng với “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường và “Thân phận tình yêu” của Bảo Ninh “Bến không chồng” là một trong những cuốn sách đoạt giải được nhắc đến nhiều nhất ở Việt Nam. Nó được Dương Hướng viết một cách “vô tư” và tác giả đã trở thành nhà văn một cách “vô tình” như thế.

Tôi gặp nhà văn Dương Hướng lần đầu khi ông lên tòa soạn Văn nghệ Quân đội chơi. Ông thân với nhà văn Nguyễn Bảo nên khi nghe tin Văn nghệ Quân đội mở trại viết ở Tây Nguyên ông ngập ngừng đề nghị tham gia. “Các ông không phải lo gì tôi sẽ chịu hết chi phí!” ông nói như thế để tránh khó xử cho bạn bởi đối tượng trại viên lần này chỉ dành cho các tác giả đang sinh sống ở miền Trung và Tây Nguyên. Ông nói và ông làm thật. Ông lại lên gặp lãnh đạo hải quan Quảng Ninh xin nghỉ không lương một tháng.

Khi đoàn nhà văn của Văn nghệ Quân đội đi bằng máy bay vào Tây Nguyên thì ông một mình lặng lẽ lên tàu từ Hà Nội. Đến ga Diêu Trì ông hồn nhiên ngoắc một chiếc taxi. Anh tài xế giật bắn mình khi nghe địa điểm ông khách này vừa nói. Từ ga Diêu Trì lên đến Binh đoàn 15 ngót nghét 300 cây số ông này chắc chắn là… tỉ phú! Vốn người tốt bụng anh hỏi dặt dè: “Bố ơi đây lên đó tiền cước hơn một triệu đồng bố nên suy nghĩ cho kỹ…”. Đến lượt ông khách giật mình toát mồ hôi hột. Nhìn sắc mặt tái mét của ông anh tài xế thương tình hỏi chuyện. Khi biết ông khách là nhà văn tác giả của tiểu thuyết “Bến không chồng” nổi tiếng anh tài xế đã chở miễn phí một cuốc đưa Dương Hướng ra ngã ba cầu Bà Ri để ông bắt xe đò ngược trại.

Sau lễ khai mạc chúng tôi tỏa đi các hướng thâm nhập thực tế trên địa bàn Tây Nguyên. Mũi tôi phụ trách có nhà văn Lê Hoài Lương của Bình Định và nhà văn Dương Hướng. Nơi chúng tôi tới là một nông trường có cái tên Công ty 74 sát biên giới Campuchia. Nhà văn Dương Hướng tham vọng sẽ viết tiếp một cuốn Bến không chồng 2 nên rất háo hức. Ông thẽ thọt: “Cậu cho mình xuống chỗ nào có nhiều nhiều… chị em một tí!”. Tôi hào phóng quyết luôn. Thế là chỉ trong hai ngày nhà văn Dương Hướng đã toại nguyện: Tiếp xúc với rất nhiều nữ công nhân. Một buổi tối ông rủ tôi đi gặp một cô gái 32 tuổi là tổ trưởng sản xuất đã đạt danh hiệu “Đôi bàn tay vàng” cuộc thi cạo mủ cao su Binh đoàn năm ngoái. Cô quê Nam Đàn Nghệ An có một cá tính lạ lùng là không chịu tiết lộ về mình mặc dù theo lời của lãnh đạo nông trường thì hoàn cảnh cô có nhiều uẩn khúc. Nhà văn Dương Hướng vận dụng hết kinh nghiệm moi thông tin nhưng vô hiệu. Trước sau cô gái chỉ nói một câu: “Em sẽ kể về công việc cho các anh viết với một điều kiện là không được nêu tên và chụp ảnh em; còn chuyện cá nhân xin hẹn đến lúc em lấy chồng xong sẽ kể.”. Đây coi như một dấu chấm hết cho cơ hội của nhà văn bởi giữa núi rừng sâu hút thế này biết bao giờ cô mới lấy được chồng? Mà nếu có ngày đó thì chúng tôi cũng không thể quay lại nơi này. Chúng tôi dõi cái nhìn ra trời đêm. Những ngôi nhà nhỏ nhoi của le lói ánh đèn. Gió thốc một vệt qua những cánh rừng cao su đen thẫm như một tiếng thở dài khủng khiếp. Không biết sau này những nguyên mẫu này sẽ được nhà văn Dương Hướng xây dựng như thế nào trong tác phẩm còn bây giờ tôi đã thấy ông trăn trở.

Những ngày đi thực tế cùng Dương Hướng tôi mới biết là ông “lội” khỏe. Đường rừng như thế mà tối ngày ông đi. May mà sóng Viettel đã phủ ở vùng này. Ông đi quên ăn quên ngủ nên tôi luôn phải gọi ông về. Một lần tôi gọi thấy ông reo rất to: “Thấy rồi! Thấy rồi!”. Cái mà ông “thấy rồi” ấy là một bác sỹ quân y có mặt ở nông trường 32 năm nay trưởng thành từ một y tá y sỹ rồi bác sỹ. Cái độc đáo là ông bác sỹ này đã tự tay… đỡ đẻ cho gần 400 sản phụ. Nhiều gia đình công nhân ở đây được ông đỡ đẻ cho cả mẹ cả con. Biết bao nhiêu câu chuyện buồn vui xung quanh vị bác sỹ này nên nhà văn Dương Hướng cương quyết “đeo bám”. Ông ghi chép kín cuốn sổ tay mà chưa xuể bèn gọi điện bảo tôi mang sổ tới cho ông mượn. Vớ được nhân vật đầy hứa hẹn nhà văn Dương Hướng vui như địa chủ được mùa. Ông cười nói suốt chặng đường hơn trăm cây số từ biên giới về thành phố.

Vừa về đến Pleiku con gái ông điện thoại véo von: “Con gửi bố 10 triệu để bố tiêu vặt trong những ngày đi trại. Bố mang thẻ ra máy ATM rút tiền nhé!”. “Ơ…cái con này…”. Nhà văn Dương Hướng lắp bắp mắng yêu con gái. Ông thần người ra một lúc rồi rút máy gọi taixi. Khổ Tây Nguyên đâu phải thành phố Hạ Long nên chiếc taxi đưa ông đi hút vào phố núi sương mờ. Mãi đến tối ông mới trở về. Ông hào phóng rút tiền ra thanh toán cước xe. 181.000 đồng quyết thoáng luôn tờ 200.000 đồng mới khựa. Ông đặt trước mặt tôi tờ… biên lai vấn tin tài khoản của Ngân hàng Công thương: “Nó gửi… mà tôi chả biết tiêu gì nên chả rút”. “Ơ không rút thì bác thuê taxi làm gì?”. “Ờ ờ…Thì con nó gửi mình không tiêu nhưng nhìn thấy tài khoản của con nó biếu cũng thích…”. Ông gãi đầu nói thế và lại cười hiền hậu. Ban đầu tôi cứ tưởng ông đùa sau mới biết là ông nói thật bởi trong suốt thời gian Trại sáng tác văn học Tây Nguyên 2007 đóng tại Gia Lai ngày nào nhà văn Dương Hướng cũng bắt taxi đi thành phố Pleiku. Khi trại hành quân về đến Qui Nhơn thì số tiền 10 triệu kia đã ngót mất 1 triệu bốn trăm ngàn đồng. Không phải nhà văn Dương Hướng tiêu gì mà chỉ là tiền thuê taxi đi… kiểm tra tài khoản!

Nói chuyện mới biết rằng nhà văn Dương Hướng là người chưa bao giờ biết đến đồng nhuận bút. Tất cả đều do vợ con ông quản lý. Mười một lần “Bến không chồng” tái bản trong nước nhuận bút là bao nhiêu ông không quan tâm. Khi nó được chuyển thể sang kịch bản phim truyện nhựa ông cũng chỉ nghe đạo diễn Lưu Trọng Ninh gọi điện thông báo “được bốn triệu rưỡi cái đứa con gái đang học ở Phân viện Báo chí tuyên truyền nó nhận thay ông rồi”. Hai lần “Bến không chồng” được dịch sang tiếng Italia và Pháp ông cũng ủy quyền cho con gái ông đi ký hợp đồng. Nghe con thông báo lại là “được 4.000 euro bố ạ!” nhà văn cũng chỉ ậm ờ không biết 4.000 euro qui ra tiền Việt là bao nhiêu. Khi tôi nói tương đương 80 triệu đấy bác ạ nhà văn Dương Hướng ngẩn người lẩm bẩm: “Thế cơ à?”.

Là nhà văn nổi tiếng nhưng Dương Hướng không mắc thói kẻ cả hợm mình. Những ngày cùng ông rong ruổi trên Tây Nguyên tôi quan sát thấy rằng mỗi khi có độc giả nào nhận ra tác giả của “Bến không chồng” và có lời trầm trồ là mặt Dương Hướng cứ đỏ lựng cả lên. Ông ngượng nghịu đến tội nghiệp và lắp bắp mỗi một câu “Có gì đâu mà! Có gì đâu mà!”.

Ở trại viết mọi người rất thèm thuồng nhìn cái laptop đời mới của nhà văn Dương Hướng. Nó là món quà của đứa con gái được hưởng nhiều “lộc văn” kính bố. Mặc dù trình độ vi tính như Dương Hướng tự nhận là “chưa thể nào bước vào thời kỳ hội nhập” nhưng ngày nào ông cũng mang nó ra gõ. Ông gõ bằng… một ngón như kiểu đồng bào Tây Nguyên dùng dùi chọc trỉa gieo hạt trên nương. Ấy thế mà những “hạt chữ” ấy đã “nảy mầm”. Thông thường thì các nhà văn sẽ cỗi đi theo tuổi tác nhưng với Dương Hướng thì ngược lại. Mọi người cứ tưởng ông chỉ sở trường về tiểu thuyết và chỉ viết tiểu thuyết mà thôi. Nhưng không. Ông viết truyện ngắn rất “nghề” và đã in hai tập thể loại này. Bế mạc trại ông nộp cái truyện ngắn tươi rói với cái tên “Thuyền neo bến khách”. Đây là một truyện ngắn hay được in trên VNQĐ ở số 672 - tháng 6-2007 và nó đã để lại những dư ba đẹp. Khi tôi điện thoại hỏi: “Bác ơi nhuận bút gửi về đâu?” thì nghe tiếng Dương Hướng trả lời: “Không phải gửi có đứa nó đến lấy!”. “Thế bác đang ở đâu?”. “Tớ đang đi trại viết tiểu thuyết của Hội Nhà văn trên Đại Lải”. “Thế là bác lại… xin nghỉ à?”. “Ừ tớ lại xin nghỉ không lương một tháng…”.

Hà Nội 1-7-2007

 


ĐỖ TIẾN THỤY (Theo dotienthuy.vnweblogs.com)

More...

Chân dung nhà văn Dương Hướng

By DƯƠNG HƯỚNG

GẶP ÔNG “BẾN KHÔNG CHỒNG” Ở TÂY NGUYÊN

Văn Công Hùng

           Phải đến khi được Tạp chí Văn Nghệ Quân đội mời đi dự trại sáng tác vào hồi tháng 4 vừa rồi tổ chức tại Binh đoàn 15 (thành phố Pleiku và Quy Nhơn) tôi mới được gặp nhà văn Dương Hướng. Biết là ông cũng sẽ dự trại này tôi háo hức chờ. Trong ba cuốn tiểu thuyết được giải thưởng của hội nhà văn năm 1991 ấy thì tôi đọc “Bến không chồng” của ông cuối cùng phải sau khi công bố giải mới có mà đọc còn “Nỗi buồn chiến tranh” của Bảo Ninh và “Mảnh đất lắm người nhiều ma” của Nguyễn Khắc Trường thì được đọc ngay khi nó vừa xuất bản. Đến bây giờ tôi vẫn cho rằng năm ấy là năm mà tiểu thuyết Việt Nam bội thu nhất. Ba tiểu thuyết bề thế hoành tráng khốc liệt đầy đặn và tài hoa. Khi ấy tiểu thuyết của Bảo Ninh còn phải “núp” dưới một cái tên rất cải lương rất... sến là “Thân phận của tình yêu”...

          ...Té ra là ông cũng dễ gần. Thấy ông ngồi ở ghế salon bên ngoài hội trường chờ khai mạc trại tôi lại chào và xưng tên ông à lên rồi bảo cũng có nghe tên tôi có đọc... văn tôi. Sau này quen và được ông quý ông bảo: Thú thật tớ có đọc thơ bao giờ nhưng biết tên cậu thì tức thị cậu phải là... nhà văn... Đêm hôm trước tôi đang ngồi với Phùng Văn Khai và Nguyễn Bình Phương trong thành phố thì thấy ông gọi điện cho Khai nói là đã đến ga Khai nghe xong hỏi tôi từ bến xe về đây đi bằng cách gì? tôi bảo đi tắc xi và hẹn về thẳng chỗ chúng tôi ngồi rồi tôi sẽ đưa ông ra trại. Về sau ông kể: Nghe lời Phùng Văn Khai ông kêu tắc xi rồi nói địa chỉ tắc xi đòi... tám trăm ngàn. Tôi bảo thực ra tắc xi nó nói thế là còn rẻ vì từ đấy lên binh đoàn 15 còn 200 cây nữa mà lại đêm hôm. Nghe Khai nói em tưởng anh đã đến bến xe Đức Long mới nói thế chứ mới đến Diêu Trì thì con phải một cuốc xe 180 km nữa mới đến thành phố Pleiku. Từ Pleiku mới đi tắc xi vào binh đoàn. Hôm ấy phải nửa đêm ông mới tới trại. Tắc xi chở ông ra ngã ba cầu Bà Gi rồi ông đón xe đò lên Pleiku rồi lại đi tắc xi vào Binh đoàn. Được cái bây giờ đón xe cực dễ chứ như ngày xưa thì ông cũng còn mệt mới lên đến nơi trong đêm.

          Ở trại ông hay bị cánh trẻ trêu và phần lớn là ông thật thà mắc lỡm. Vào đến Pleiku con trai ông nạp biếu bố ba triệu vào thẻ ATM gã con này cũng lơ mơ điện thoại cho bố bảo: con không nhớ rõ mã tài khoản của bố bố kiểm tra xem có tiền chưa hay con lại gửi cho ai rồi. Nhà khách binh đoàn 15 cách trung tâm thành phố gần hai chục cây ông cưỡi tắc xi chỉ để kiểm tra số dư tài khoản hết một trăm năm chục ngàn. Đỗ Tiến Thuỵ cứ nhất quyết con ông gửi 10 triệu và ông đi tắc xi hết hai triệu ông cứ... gân cổ lên thanh minh. Đi trại lần này con trai thì biếu tiền con rể thì biếu ông cái máy tinh xách tay mới coóng. Ông bảo nhớ lại cái hồi viết tiểu thuyết “Bến không chồng” mà kinh. Bây giờ mà phải ngồi kẽo kẹt viết tay như thế thì... chắc chết. Hồi ấy ông xin nghỉ không lương 6 tháng ngồi cày liên tục 4 tháng thì xong. Hỏi ông viết mấy lần ông bảo phải viết tay có hai lần rồi đánh máy. Ngay bây giờ ông mới chỉ sử dụng laptop như một... cái máy đánh chữ tất cả các Folde Ducoment ông bày hết ra Desktop “cho dễ tìm” ông hồn nhiên cười bảo. Có bốn năm Folde chi đó ông rải trên khắp Desktop theo hình sin giống những con sóng đồng màu với hình nền nên tìm cũng chả dễ gì. Đỗ Tiến Thuỵ ở cùng phòng ông khoe: Nhiệm vụ cao cả của em trong trại này là giúp bác Dương Hướng về kỹ thuật vi tính. Hôm tôi mở máy của ông để “đổ” ảnh tôi chụp ông ở trại vào tôi có nhắc ông phải lưu vào ổ D cho bảo đảm không có rồi là công cốc đấy. Ông bảo từ từ rồi tính. Thế là tôi cũng phải lưu folde ảnh ở Desktop cho ông chứ lỡ lưu trong máy ông tìm không ra cũng... công cốc. Ông nói với nhà thơ Vương Trọng cũng mới sắm laptop từ tiền giải thưởng nhà nước thay cho cái máy sê- cần- hend ông dùng đã lâu: Tuổi chúng ta mà dùng laptop là... hoành tráng rồi. Phải kiên định lập trường chậm mà chắc đừng nghe cánh trẻ nói nhiều mà rối... Ông là người cao tuổi thứ 2 trong trại sau nhà thơ Vương Trọng nhưng rất thích đánh đu với bọn trẻ. Đêm hôm hứng lên gọi nhau tụ bạ rủ là ông có mặt liền dù là chỉ để ngồi... nhìn. Không những thế những cuộc ấy ông toàn giành... trả tiền từ tắc xi đến cà phê nhậu... Cuộc đi trại lần này ông cũng phải xin nghỉ một tháng không lương. Tôi hỏi ông rằng như thế là có 2 nhà văn Việt Nam làm ở ngành Hải Quan ông bảo Mai Văn Phấn đích thực hải quan còn ông đi bộ đội về rồi vào làm máy tàu. Hải quan Quảng Ninh ở vùng biển phải sử dụng tàu ông là thợ máy. Thời gian gần đây lớn tuổi nên ông được phân lên bờ làm ở văn phòng...

             Có một cuộc giao lưu giữa trại và một hội văn nghệ địa phương. Một nhà văn nữ đã giới thiệu: Đến dự với chúng ta có nhà... thơ Dương Hướng đến từ Quảng Ninh. Ông là tác giả tập thơ nổi tiếng “Bến không chồng”. Nhà văn Dương Hướng tái mặt chỉ sợ bị giới thiệu lên đọc thơ. MC kia còn “tán”: Bến không chồng là một tập thơ lục bát với nghệ thuật thơ cao cường tuyệt vời có thể nói ông đã được Nguyễn Bính trao y bát. Sau Nguyễn Bính sau Dương Hướng nền lục bát của chúng ta đang khủng hoảng... Nhưng trừ cuộc ấy ra còn lại phần lớn ông xứng danh là... nhà văn nổi tiếng. Đến đâu giới thiệu: Đây là tác giả tiểu thuyết “Bến không chồng” thì thế nào cũng có những người mắt sáng quắc bước đến bắt tay biểu hiện sự thán phục. Hôm giao lưu với Câu lạc bộ thơ Xuân Diệu và trường chuyên Lê Quý Đôn Bình Định nhiều em học sinh còn đứng lên hỏi tác giả Dương Hướng về số phận các nhân vật của ông. Ngồi dự mà thấy... mừng vì vẫn còn những bạn đọc trung thành với văn chương đến thế. Thực ra thì bạn đọc vẫn đọc văn chương vẫn yêu quý nhà văn có điều đấy phải là những tác phẩm văn chương đích thực nó phải hay và cần cho người đọc. Cuốn “Bến không chồng” đã tái bản 11 lần còn “Nỗi buồn chiến tranh” và “Mảnh đất lắm người nhiều ma” thì còn nhiều hơn thế. Trong nhà Dương Hướng giờ bày 11 cuốn “Bến không chồng” với 11 cái bìa khác nhau. Đấy chính là hạnh phúc vô bờ của người cầm bút. Cuốn “Bến không chồng” của ông đã được dựng thành phim nhựa và tuyệt đại bộ phận người xem đều... thất vọng về bộ phim này dù nó được báo chí nhắc đến nhiều. Hỏi ông nghĩ gì về những nhận xét ấy ông chỉ cười cười. Nhà văn Sương nguyệt Minh huỵch toẹt: Quá dở không bằng một góc tiểu thuyết. Nhưng nghĩ cho kỹ thì cũng phải thông cảm cho nền điện ảnh Việt Nam ốm yếu mà cứ thích phải “hoành tráng” ngay tắp lự như cái cách họ tổ chức lễ trao giải cánh diều hoành tráng như Osca mà nó lại chẳng Osca chút nào để cả tháng sau báo chí và dư luận vẫn còn râm ran?...

           Kế hoạch của trại sáng tác là sẽ có 4 ngày thực tế tại Tây Nguyên toàn vào vùng biên giới sau đó tập kết về Pleiku một đêm rồi di chuyển xuống Quy Nhơn ở 10 ngày để viết. Ngay buổi trưa khi đoàn nhà văn vừa từ Pleiku đặt chân đến khách sạn Bình Dương thì đã có một nhà văn xứ Bình Định chờ sẵn ở sảnh khách sạn với... 21 lít rượu Bàu Đá thứ thiệt mà Đỗ Tiến Thuỵ tả rằng giống như... 21 quả đại bác. Món đặc sản này của Bình Định đã danh bất hư truyền khắp trong nam ngoài bắc. Thì ra nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng chủ tịch hội VHNT Bình Định dù đang dẫn một đoàn hơn hai chục VNS đi “về nguồn” Phong Nha Kẻ Bàng nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn bệnh xá Đặng Thuỳ Trâm... nhưng biết kế hoạch của trại nên đã đặt trước số rượu này và dặn anh em ở nhà phải mang rượu đến để anh em trại viên “súc miệng” ngay bữa trưa mới đến. Vốn dĩ nhà văn Dương Hướng không uống được rượu. Trước đấy mỗi bữa nài lắm ông cũng chỉ làm cốc bia là mặt đỏ tưng bừng như mặt trời trên đỉnh sóng Hạ Long quê ông (thực ra thì ông quê Thái Bình nhưng ở Hạ Long đã lâu nên nơi này trở thành quê thứ 2 của ông). Thế mà chỉ qua... ba ngày từ chỗ chỉ nhấp một ngụm rồi... nhăn mặt (vì rượu Bàu Đá rất nặng) đến ngày thứ 4 thì ông đã... nhớ rượu mỗi bữa ông... ực năm ực mỗi ực một ly mà chưa xi nhê gì. Có bữa do hôm trước... giao lưu nhiều hơi mệt nên lúc ăn sáng tôi tuyên bố trưa nay... nghỉ rượu. Ai nhắc đến nó sẽ bị phạt. Đến trưa người được giao làm “thủ kho rượu” Đỗ Tiến Thuỵ không mang rượu xuống phòng ăn. Tự nhiên thấy không khí dịu dàng thanh bình hẳn. Ông ngồi cặm cụi gắp vài miếng rồi buột miệng: Nhạt miệng. Thế là trưởng trại Sương Nguyệt Minh lệnh cho Đỗ Tiến Thuỵ về phòng xách can rượu xuống. Tôi rùng mình nhìn dòng rượu trong vắt như nước mắt chảy phơ phất bồng vào các ly cũng trong veo. Thế mà Dương Hướng nâng ly lên làm một nhát gọn ghẽ. Năm “nhát” như thế thì có vẻ ông hết... nhạt miệng bắt đầu ăn cơm. Xin nói thêm là giữa Miền Bắc Miền Trung và Miền Nam có cách uống rượu khác nhau. Miền Bắc uống rượu là uống rượu phải có món nhắm như xào luộc... nhưng không có cơm canh và món kho. Uống rượu xong mới dọn cơm ra ăn. Kiểu uống rượu này ngon nhưng dễ... đói vì khi say thì phần lớn là không ăn được nữa. Và đã say là say tới bến. Miền Trung thì dọn tuốt ra vừa ăn vừa uống có thể nhắm với cả cơm nước mắm canh cá kho... Miền Nam thì... ăn rồi mới uống. Bạn đừng ngạc nhiên khi thấy được mời đi nhậu mà khi đến nơi lại thấy chủ nhà kêu cơm canh cá thịt tôm kho... ra ngồi chén ngon lành. Ăn xong dọn mâm cơm đi mới bày mâm nhậu gồm rượu trà đá và khô (cá khô tôm khô lươn trạch khô... gọi tắt là khô). Ở trại này chỉ có hai phong cách là Bắc và Trung nhưng nhiều khi cũng đã... vênh nhau. Các nhà văn Miền Trung vừa ăn vừa nhậu và thích húp canh kèm rượu (như một cách “chữa lửa”) còn các nhà văn Miền Bắc uống rượu xong mới ăn cơm với canh thì... canh đã hết. Thường thì ăn cơm chiều xong lại tất tả lên phòng ai nấy cắm cúi viết chả ai dám gõ cửa ai. Nhưng khoảng 10 giờ đếm thì bắt đầu điện thoại rồi xách can rượu cùng con mực xuống bãi cỏ bên bờ biển ngồi. Mời thì phần lớn là ông nhận lời. Và thường thì ông đi được... nửa đường rồi ngồi nhìn. Nhưng thấy vài chú yếu quá nói nhiều hơn uống ông lại lẳng lặng cầm ly lên và... ực. Sau khoảng năm ngày ở trại ai cũng công nhận ông... lên đô thấy rõ.

             Một hôm tôi thấy ông kể với nhà văn Sương Nguyệt Minh một cái cốt truyện. Nó là một câu chuyện có thật ông đã gặp nhân vật chính và cứ ám ảnh ông mãi mà chưa viết được vì trước đó ông kể cho một ông đạo diễn phim để định viết kịch bản thì bị ông này phán: Bôi nhọ phụ nữ Việt Nam không được. Chuyện rằng có một cô gái Việt Nam lấy chồng Trung quốc. Ông này giàu và đã có vợ nhưng vợ không đẻ được. Ngay hôm cưới mới chỉ sang khỏi biên giới ông ta đã thuê khách sạn để “hợp cẩn”. Điều kinh hoàng là trong phòng trên giường có cả bà vợ cả. Cứ thế tất cả các cuộc sinh hoạt vợ chồng giữa ông với cô đều có bà vợ cả vì ba người... ngủ chung giường. Tất nhiên là bà vợ cả căm thù cô và tìm mọi cách trả thù. Cô sinh cho ông này một đứa con trai bà vợ cả càng căm ghét hành hạ. Cho đến lúc không chịu nổi cô đòi bỏ ông này về lại Việt Nam thì chính bà vợ cả lại quỳ xuống lạy và xin cô ở lại... Nhà văn Sương Nguyệt Minh hớn hở nâng rượu: Viết ngay anh phải viết ngay. Trời ơi một câu chuyện nhân bản thế mà suýt nữa bỏ phí không thì bác “nhượng” cho em để em viết. Sương Nguyệt Minh uống hết ly rồi phán: Thế là trại có thêm một truyện hay rồi. Tối tôi thấy ông mở máy và mở File truyện ngắn viết ngay. Trước đấy ông đã nộp trại một cái ký mà nói theo cái cách mấy nhà văn trẻ tếu táo: Định viết dở mà nó lại cứ hay mới... chết chứ lị. Hôm tổng kết trại thì cái truyện ngắn đã được... hai trang ông hể hả bảo: được cái mở đầu là xong rồi ổn hẳn về nhà viết tiếp...

          Ngày “rã” trại mọi người về nhà mình ông lên xe đò ra Đà Nẵng. Ông chưa bao giờ lên Bà Nà tranh thủ đợt này phải lên cho biết. “Cô ta” còn bốn ngày ông tận dụng bằng hết...


More...