CHUC MỪNG NĂM MỚI

By DƯƠNG HƯỚNG


Năm mới Dương Hướng chúc tất cả bạn bè
quý khách gần xa lời chúc an lành hạnh phúc

More...

Bệnh giả dối đang thành nỗi nhục lớn

By DƯƠNG HƯỚNG

GS Hoàng Tuỵ:

Bệnh giả dối đang thành nỗi nhục lớn

GS Hoàng Tuỵ một nhà khoa học nổi tiếng về sự chính trực.

(Dân trí) - "Bản chất của giáo dục là trung thực và sáng tạo. Nhưng sáng tạo thế nào khi mà mọi thứ đều phải theo một lề lối khuôn phép định sẵn. Rồi trung thực thế nào được khi mà chẳng công chức nào sống nổi bằng lương nhưng rồi ai cũng sống đàng hoàng dư giả".


Ở tuổi bát tuần sức khoẻ của GS Hoàng Tụy không còn dồi dào nhưng trí tuệ của ông vẫn sáng láng và trái tim ông vẫn ngùn ngụt cháy như thời trai trẻ đặc biệt là thái độ của một trí thức yêu nước với các vấn đề về quốc kế dân sinh và giáo dục.

Dưới đây là cuộc trò chuyện của GS Hoàng Tuỵ - nhà toán học số một của Việt Nam với PV Dân trí:

Lương không đủ sống làm nảy sinh các căn bệnh của giáo dục


Thưa GS trong bức thư gửi thầy cô giáo nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam vừa qua Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng GD-ĐT Nguyễn Thiện Nhân đã rất lo lắng trước sự giả dối tồn tại trong ngành và toàn xã hội. Là nhà khoa học nổi tiếng bởi sự chính trực ông nghĩ gì về nhận xét này?

Sự giả dối hiện nay đang có nguy cơ trở thành nỗi nhục trong khi truyền thống dân tộc Việt Nam không phải là dân tộc giả dối. Ngành giáo dục càng không thể là ngành giả dối. Thế nhưng đã có hơn một nhà khoa học nước ngoài nói thẳng với tôi rằng điều thất vọng lớn nhất mà ông ta cảm thấy là sự giả dối đang bao trùm lên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội ở các tầng nấc.

Còn trong lĩnh vực giáo dục một môi trường cần sự trong sáng?

Sinh ra trong một gia đình có đến 4 người là các giáo sư nổi tiếng (Hoàng Phê Hoàng Chúng Hoàng Quý) GS Hoàng Tụy là cháu gọi Tổng đốc Hà Nội người anh hùng Hoàng Diệu là bác ruột.

27 tuổi ông làm Trưởng ban Tu thư (biên soạn chương trình và sách giáo khoa). Ông là cha đẻ của thuyết Tối ưu toàn cục lừng danh trong toán học đồng thời là tác giả của hơn 150 công trình công bố trên quốc tế...

Ông được trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I năm 1996.

Tôi không nói ở đây sự giả dối nhiều hơn ở lĩnh vực khác nhưng cũng không nói là ít hơn. Bản chất của giáo dục là trung thực và sáng tạo. Nhưng sáng tạo thế nào khi mà mọi thứ đều phải theo một lề lối khuôn phép đã quy định sẵn gần như bất di bất dịch từ mấy chục năm - giữa một thế giới thường xuyên biến động.

Rồi trung thực thế nào được khi mà người ta hàng ngày phải sống trong một môi trường giả dối mà minh chứng rõ nhất là tiền lương công chức. Chẳng ai sống nổi bằng lương nhưng rồi ai cũng sống đàng hoàng dư giả.

Ngay khi mới nhận cương vị đứng đầu ngành Giáo dục ông Nhân đã đặt ra hai vấn đề mấu chốt này và điều đó khiến chúng tôi rất mừng. Rồi đến hôm nay ông lại phải nhắc lại điều đó một cách buồn bã.

Thưa ông có lẽ cũng cần một sự cảm thông bởi dù là Phó Thủ tướng nhưng Bộ trưởng Nhân nhiều khi cũng "lực bất tòng tâm" bí bách như người "múa gậy trong bị" bởi chỉ một việc tăng lương cho giáo viên Bộ trưởng Nhân đã nhiều lần đề xuất nhưng đến nay vẫn chưa được chấp thuận?

Muốn chống tiêu cực muốn người ta trung thực làm việc hết lòng thì điều mấu chốt là tiền lương phải đủ để người ta sống. Sinh thời có lần Tổng bí thư Lê Duẩn hỏi về việc chống tiêu cực tôi cũng đã trả lời thẳng thắn như vậy. Trong môi trường giáo dục khi tiền lương không đủ sống thì người ta sẽ tìm cách xoay xở để bù đắp lại. Còn xoay xở như thế nào đó chính là nguyên nhân các căn bệnh chủ yếu của giáo dục hiện nay.

Lấy việc lọt vào top 200 làm mục tiêu là một sai lệch

Cách đây ít ngày GS Simon Marginson (ĐH Melbourne - Australia) có nói mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam sẽ có trường đại học lọt vào top 200 trong số các trường đại học nổi tiếng thế giới là rất khó và khi đặt ra mà không đạt được thì sẽ là "thất bại" cho mục tiêu kế tiếp. Là người có hơn 30 năm "lang thang" khắp các trường đại học nổi tiếng thế giới ông có đồng tình với nhận xét này?

Ở đây có 2 phần. Thứ nhất tôi không đồng tình với GS Simon về phần đánh giá cao các bảng xếp hạng đại học đã được công bố mấy năm nay bởi nó không phù hợp với những gì tôi đã tận mắt chứng kiến và sự đánh giá chung của nhiều giới khoa học tôi được quen biết. Cách xếp hạng hiện nay thường thiên về các trường nằm trong khối Anh - Mỹ mà xem nhẹ các nước khác như Pháp Đức và đặc biệt là Nga. Mặt khác có một số đại học được xếp hạng rất cao mà theo cảm nhận của nhiều người hiểu biết thì không thể như vậy được.

Còn vế thứ hai?

Vế thứ hai tôi đồng tình với ý kiến đó là một mục tiêu không thực tế không thiết thực vừa có thể làm sai lệch hướng phấn đấu hội nhập của chúng ta. Không nên cân đo đong đếm mình bằng một cái cân một cái thước... không có độ tin cậy cao. Thật ngạc nhiên khi có vị lãnh đạo ngành còn đòi hỏi phải cố gắng đạt mục tiêu đó trước năm 2020.

Chiến lược giáo dục 2008-2020 chỉ là một bản kế hoạch dài hạn

Khi trả lời phỏng vấn chúng tôi Nguyên Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình đã đặt vấn đề cần có một cuộc cách mạng giáo dục triệt để. Theo ông điều này đã thật sự cần thiết?

Ngay từ năm 2004 chúng tôi gồm 24 nhà khoa học và giáo dục trong đó có 5 giáo sư Việt kiều đã có bản kiến nghị chính thức gửi lên Trung ương đề nghị cần phải "xây dựng lại giáo dục từ gốc" tức là phải thực hiện về một cuộc cách mạng giáo dục triệt để. Bản kiến nghị này đã được sự ủng hộ khá rộng rãi của xã hội các nhà khoa học và các nhà quản lý.

Trước đó ngay từ 1995 cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã triệu tập một cuộc họp quan trọng 3 ngày về giáo dục. Nhiều ý kiến xác đáng đã được phát triển trong cuộc họp đó về sau được nghi lại trong Nghị quyết T.W.II (khoá 8) về giáo dục và khoa học. Tiếc rằng Nghị quyết rất đúng đắn nhưng triển khai thực hiện bất cập nên sau gần 10 năm Thủ tướng Phan Văn Khải đã phải cay đắng thừa nhận chúng ta không thành công trong khoa học và giáo dục.

Theo ông không thành công hay thất bại?

Đó là sự thất bại thất bại lớn.

Ông có quá mạnh mẽ và vì bức xúc mà thiếu khách quan?

Không phải tôi nói mà thực tế cuộc sống đòi hỏi. Chúng ta đã tốn không biết bao nhiêu thời gian sức lực và tiền của. Ngay cả những người ở ngoài ví như ông Lý Quang Diệu chẳng hạn không phải vô cớ mà khi thăm Việt Nam ông đã thẳng thắn khuyên chúng ta rằng: Thắng trong giáo dục mới thắng trong kinh tế!

Liệu chúng ta đã cần ngay một cuộc cách mạng triệt để?

Rất cần. Trong khung cảnh chương trình và sách giáo khoa hiện nay nếu cải tiến thì cũng chỉ tạo sự thay đổi lẻ tẻ và không cơ bản. Trong khi đó thời gian không còn cho phép chần chừ. Chúng ta đã chờ đợi điều đó xảy ra hàng chục năm nay rồi.

Nhưng được biết vừa qua Bộ GD-ĐT đã xây dựng Chiến lược phát triển giáo dục 2008-2020?

Chúng tôi đã nghiên cứu bản dự thảo này và nhận thấy bản Dự thảo chưa thể hiện tư duy giáo dục cần thiết. Nó không phải là bản "Chiến lược" mà chỉ là một bản kế hoạch dài hạn được soạn thảo theo lối làm kế hoạch hoá tập trung bao cấp mọi cái đều áp đặt từ trên xuống trong khi đáng lý ra chúng ta phải làm ngược lại.

Thi tốt nghiệp là lạc hậu và kém nhân bản

Trong khi chờ đợi kế hoạch cải cách giáo dục thì theo ông có những vấn đề cấp bách gì cần giải quyết?

Khâu đột phá là giáo dục trung học phổ thông và thi cử. Cần thay đổi tổ chức và chương trình cách dạy ở THPT để mở ra hai hướng chính cho học sinh đã xong THCS: một hướng đào tạo nghề và một hướng chuẩn bị tổng quát.

Có nghĩa phải cải cách thi THPT?

Thi tốt nghiệp các cấp là việc làm lạc hậu nhất kém hiệu quả nhất một tàn tích còn sót của lối học cũ. Nó hoàn thiện một chu trình: "Học để thi - Thi để lấy bằng - Lấy bằng để làm quan". Trong khi đó đáng lý học phần nào thi ngay phần đó thi để học cho tốt chứ không phải thi vì mảnh bằng.

Nhưng bỏ thi thì lấy gì để kiểm tra kiến thức của người học?

Tôi không nói bỏ thi mà là bỏ kỳ thi tốt nghiệp. Hiện nay các nước có nền giáo dục tiên tiến không có kiểu thi tốt nghiệp như ta. Giống như việc sản xuất một cỗ máy họ kiểm tra thật kỹ chất lượng từng chi tiết và khi hoàn thiện chỉ kiểm tra việc lắp ráp. Trong khi đó ở ta thì gần như bỏ qua khâu kiểm tra chi tiết mà chờ lắp hoàn thiện một cái máy rồi mới kiểm tra tổng thể. Cách làm này đã bộc lộ rất rõ những hạn chế mà nền giáo dục của chúng ta đang phải gánh chịu. Một số nước việc thi cử còn nhẹ hơn ta nhiều như Hàn Quốc Trung Quốc mà người ta còn gọi là "địa ngục thi cử" không biết ở ta nên gọi như thế nào?

Kinh doanh giáo dục là sự phá hoại ghê gớm

Ông là người phản đối thương mại hoá giáo dục một cách quyết liệt. Tại sao vậy?

Tôi không phản đối thương mại giáo dục mà chỉ phản đối cách thương mại hoá như hiện nay. Trường tư vì lợi nhuận phải được đối xử như các doanh nghiệp tư nhân trong các ngành khác. Nó phải hoạt động như mọi doanh nghiệp khác theo Luật Doanh nghiệp. Còn đối với trường tư phi lợi nhuận thì Nhà nước có thể và nên hỗ trợ về vốn đất và không thu thuế.

Nhưng có thông tin rằng hầu hết các trường nổi tiếng trên thế giới đều hoạt động theo mục đích kinh doanh?

Đó là thông tin sai sự thật do thiếu thông tin hoặc vụ lợi. Theo tôi được biết tất cả các trường tư nổi tiếng thế giới đều hoạt động phi lợi nhuận. Làm giáo dục chạy theo mục đích kiếm tiền sẽ phá hoại ghê gớm nền giáo dục.

Xin cám ơn Giáo sư!

Bùi Hoàng Tám
thực hiện 

More...

29 Bài Thơ Lục Bát

By DƯƠNG HƯỚNG

29 bài thơ lục bát trong số 99 bài thơ báo toquoc.vn đã chọn. PDF. In Email
Nhiều tác giả   
Thứ bảy 08 Tháng 11 2008 17:41

Nghệ sỹ Thanh Ngoan hát thơ lục bát

(vanvn.net) Lục bát sáu tám thật thắt ngặt vần điệu nhưng biên độ của nó trải rộng từ triết học nhân sinh ( Sông lấp Thề non nước...) đến nỗi đau nhân thế (Uống rượu với Tản Đà Hư vô;) từ tình cảm mẹ con (Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa Bờ sông vẫn gió) tình yêu tình người ngang trái  (Chồng chị chồng em Mưa) với những nhời nhẽ và giai điệu mềm mại mượt mà. Cuộc bình chọn cũng cho thấy biên độ thẩm mỹ của BTC và bạn đọc gặp gỡ ở chỗ thật thoáng rộng có bài cổ kính như kinh thi lại có bài như lăn lóc ngoài đường trong quán chợ cùng những người hát xẩm hay trong the phòng với người hát karaoke. Thật hiếm thấy thể thơ nào vừa chặt chẽ niêm luật vừa rất co giãn để có thể chấp nhận nhiều thi pháp đến thế nhiều cách tân đến thế.

Chân quê
 
Nguyễn Bính
 
Hôm qua em đi tỉnh về
Đợi em ở mãi con đê đầu làng
Khăn nhung quần lĩnh rộn ràng
Áo cài khuy bấm em làm khổ tôi
Nào đâu cái yếm lụa sồi?
Cái dây lưng đũi nhuộm hồi sang xuân?
Nào đâu cái áo tứ thân?
Cái khăn mỏ quạ cái quần nái đen?
Nói ra sợ mất lòng em
Van em em hãy giữ nguyên quê mùa
Như hôm em đi lễ chùa
Cứ ăn mặc thế cho vừa lòng anh.
Hoa chanh nở giữa vườn chanh
Thầy u mình với chúng mình chân quê
Hôm qua em đi tỉnh về
Hương đồng gió nội bay đi ít nhiều
(1936)
 
* * *
 
Vào chùa

Đồng Đức Bốn
 
 Đang trưa ăn mày vào chùa
Sư ra cho một lá bùa rồi đi
Lá bùa chẳng biết làm gì
Ăn mày nhét túi lại đi ăn mày.
 
* * *
 
Một mai
 
Hoàng Nhuận Cầm
 
Một mai chết thật âm thầm
Mấy cành cỏ dại khẽ trầm ngâm ru
Một mai chết hết hận thù
Mắt chầm chậm khép tay từ từ xuôi
Một mai chết thật buồn cười
Tóc tôi buông xuống như người ngủ mơ
Một mai chết thật tình cờ
Thuốc trên tay khói vẫn dờ dật bay...
Một mai chết thật hao gầy
Xanh xao quần áo tháng ngày thủy tinh
Một mai chết hết tội tình
Một mình mình hát một mình mình nghe
Một mai đi chẳng trở về
Rượu buồn đổ đắng vỉa hè buồn thiu

Một mai chết thật đìu hiu 
Má lằng lặng tái môi dìu dịu say
Một mai ngủ lá phủ đầy
Miền tâm tư vỡ tháng ngày thật xa
Một mai nằm xuống bao la
Buồn ơi chào nhé! Khóc òa vầng trăng.

Một mai chết thật ăn năn
Tôi nằm xuống đất không cần thở than!
 
* * *
 
Buồn đêm mưa
 
Huy Cận
 
Đêm mưa làm nhớ không gian
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la...

Tai nương nước giọt mái nhà
Nghe trời nằng nặng nghe ta buồn buồn

Nghe đi rời rạc trong hồn
Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi...

Rơi rơi... dìu dịu rơi rơi
Trăm muôn giọt nhẹ nối lời vu vơ...

Tương tư hướng lạc phương mờ...
Trở nghiêng gối nặng hững hờ nằm nghe

Gió về lòng rộng không che
Hơi may hiu hắt bốn bề tâm tư
 
* * *
 
Chồng chị chồng em
 
Đoàn Thị Lam Luyến
 
Xưa thì chị. Nay thì em
Phải duyên chồng vợ nối thêm cho dài...
Ngỡ ngàng nặng cả đôi vai
Những cao như núi những dài như sông
Được lúa lúa đã gặt bông
Được cải cải đã chặt ngồng muối dưa
Mặn mà cũng khác ngày xưa
Bâng khuâng... như chửa bao giờ bén duyên
 
Gần được ấm xa được êm
Dẫm vào ruộng hoá vụt nên mùa màng
Cái giần vục phải cái sàng
Xui cho hai đứa nhỡ nhàng gặp nhau .
Lá bùa từ thuở Mỵ Châu
Lá bài Trọng Thuỷ còn đau đến giờ!
Tình yêu một mất nghìn ngờ
Khiến cho biển cứ khuất bờ trong nhau.
 
Cái phận trước cái duyên sau
Nào ai tính được dài lâu với trời ?
Khi vui muốn có một người
Khi buồn muốn cả đất trời sẻ chung.
Đã từ hai mảnh tay không
Kể chi mẹ ghẻ con chung chồng người?
Dở dang suốt nửa cuộc đời
Bỗng dưng mọc một mặt trời trong nhau!
 
Chị thản nhiên mối tình đầu
Thản nhiên em nhận bã trầu về têm.
 
Hà Nội 10-13.01.1990
 
* * *
 
Mẹ ra Hà Nội
 
Lê Đình Cánh
 
Mẹ ra Hà Nội thăm con
Vừa trên tàu xuống chân còn run run
Áo nâu còn thẫm mưa phùn
Còn hoai vị cỏ sực bùn lúa non...
Sang đường tay níu áo con
Ngã tư hối hả xe bon ngược chiều
 
Khoác vai mẹ chiếc đẫy nghèo
Năm xưa thắt lại bao điều đắng cay:
Đưa em trốn ngục những ngày
Vài lưng gạo hẩm thăm thầy trong lao
Đã từng mở giữa trời sao
Nắm cơm tiếp vận tay trao giữa đèo
Củ khoai bẻ nửa nắng chiều
Bờ mương thoai thoải dài theo công trường
Đưa con đánh Mĩ lên đường
Nắm cơm mẹ gói tình thương quê nhà.
 
Bà ra bế cháu của bà
Những mong cùng ước lòng già hôm mai
Lên thang chẳng dám bước dài
Vào khu tập thể gặp ai cũng chào!
 
Lời ru bà thuộc thủa nào
Qua bom đạn vẫn ngọt ngào nắng trưa
Để hồn cháu có núi Nưa
Tiếng cồng Bà Triệu năm xưa vọng về
Lam Sơn rừng núi ba bề
Lũng Nhai vang mãi lời thề nước non
Trải bao sông cạn đá mòn
Còn con còn cháu thì còn cha ông
Để hồn cháu có dòng sông
Câu hò trên ngã Ba Bông sum vầy
Sào tre đêm gõ nhịp gầy
Ba khoang đò dọc chở đầy ước mong...
 
Mới xa đã nhớ ruộng đồng
Thương con mà chẳng đành lòng ở lâu
Run run mẹ bước lên tàu
Vị bùn vẫn thoảng áo nâu quê nhà.
 
* * *
 
Cát đợi
 
Nguyễn Việt Chiến

 
Cát chiều bay sẫm bến sông
Thương con đò ngược mùa đông chưa về
Lối mòn bạc cỏ may đê
Chiều mòn rỗng tiếng chim gì kêu đau
Sóng đêm tự bến sông nào
Theo trăng về thức dưới màu mây xưa
 
Tôi hoang vu cát hoang vu
Trăng là người khách qua đò đêm nay
Cô đơn xuống một đò đầy
Tôi chờ em phía bên này mùa đông
Cát còn bay trắng bến sông
Người còn đi trắng mùa mong ước này
 
Tôi cầm hạt cát trên tay
Đêm không còn ấm như ngày có em
Tôi cầm cả chính tôi lên
Câu thơ nhặt được phía miền quạnh hiu
Câu thơ như cát mỗi chiều
Đem theo chút ấm nắng nghèo vào đêm
 
* * *
 

 

Nhà thơ Nguyễn Duy cùng nghệ Thanh Ngoan hát sẩm bài lục bát "xúc phạm" nổi tiếng của ông

Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
 
Nguyễn Duy
 
Bần thần hương huệ thơm đêm
Khói nhang vẽ nẻo đường lên niết bàn
Chân nhang lấm láp tro tàn
Xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào
 
Mẹ ta không có yếm đào
Nón mê thay nón quai thao đội đầu
Rối ren tay bí tay bầu
Váy nhuộm bùn áo nhuộm nâu bốn mùa
 
Cái cò... sung chát đào chua
Câu ca mẹ hát gió đưa về trời
Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết mấy lời mẹ ru
 
Bao giờ cho tới mùa thu
Trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm
Bao giờ cho tới tháng năm
Mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao
 
Ngân hà chảy ngược lên cao
Quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm...
Bờ ao đom đóm chập chờn
Trong leo lẻo những vui buồn xa xôi
 
Mẹ ru cái lẽ ở đời
Sữa nuôi phần xác hát nuôi phần hồn
Bà ru mẹ... Mẹ ru con
Liệu mai sau các con còn nhớ chăng
 
Nhìn về quê mẹ xa xăm
Lòng ta-chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa
Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
Miệng nhai cơm búng lưỡi lừa cá xương
 
* * *
 
Thề non nước
 
Tản Đà
 
Nước non nặng một lời thề
Nước đi đi mãi không về cùng non.
Nhớ lời nguyện nước thề non
Nước đi chưa lại non còn đứng không.
Non cao những ngóng cùng trông
Suối khô dòng lệ chờ mong tháng ngày.
Xương mai một nắm hao gầy
Tóc mây một mái đã đầy tuyết sương.
Trời Tây ngả bóng tà dương
Càng phơi vẻ ngọc nét vàng phôi pha.
Non cao tuổi vẫn chưa già
Non thời nhớ nước nước mà quên non!
Dù cho sông cạn đá mòn
Còn non còn nước hãy còn thề xưa!
- Non cao đã biết hay chưa:
Nước đi ra bể lại mưa về nguồn.
Nước non hội ngộ còn luôn
Bảo cho non chớ có buồn làm chi!
Nước kia dù hãy còn đi
Ngàn dâu xanh tốt non thì cứ vui.
Nghìn năm giao ước kết đôi
Non non nước nước không nguôi lời thề.
 
(1920)
 
* * *
Ví dầu
 
Phạm Đức
 
Ví dầu ngọn lửa hắt hiu
Thì anh nhen nhúm lựa chiều gió mưa
Thì anh đóm mỏng củi khô
Thì anh gượng nhẹ đợi chờ lửa lan
 
Ví dầu ngọn lửa lụi tàn
Thì anh gom góp chút than cuối cùng
Thì anh chiu chắt đốm hồng
Tìm trang viết nhóm bập bùng say mê
 
Ví dầu than lụi trời khuya
Nhạt thênh tro bụi não nề nhân duyên
Thì anh nhặt giữa lãng quên
Những than đen của lửa thiêng năm nào
 
Ví dầu thế nảo thế nào
Vẫn tin còn lửa rì rào trong than...
* * *
 
Mắt buồn
 
Bùi Giáng

 
Dặm khuya ngất tạnh mù khơi
(Nguyễn Du)
 
Bóng mây trời cũ hao mòn
Chiêm bao náo động riêng còn hai tay
Tấm thân với mảnh hình hài
Tấm thân thể với canh dài bão giông
Cá khe nước cõng lên đồng
Ruộng hoang mang khóc đêm mồng một giêng
Tạ từ tháng chạp quay nghiêng
Âm trang sử lịch thu triền miên trôi
 
Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa
Bỏ người yêu bỏ bóng ma
Bỏ hính hài của tiên nga trên trời
Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con.
 
* * *
 
Bút đào huyệt giấy mà chôn mình dần
 
Trần Mạnh Hảo

 
Cái thời Nguyễn Bính nguồn cơn
Vẫn đôi bướm ấy đến vờn mùng tơi
Mượn mưa phùn xỉa tăm chơi
Nửa đêm gió bấc rít hơi thuốc lào
 
"Trăm hoa" dễ được hoa nào
Về xem bướm hoá thi hào vườn dâu
Về xem cái kén mọc đầu
Ruột gan rút hết từng câu nhân tình
 
Tài cao đẩy thấp phận mình
Vỉa nồi niêu vẫn còn kinh hề mồi
Thơ không thể đổ vào nồi
Ngắm mình trong "nước giếng thơi" hết hồn
 
"Đêm sao sáng" cạn hoàng hôn
Bút đào huyệt giấy mà chôn mình dần
Một đoàn bươm bướm đưa chân
Hai hàng lục bát khiêng phần mộ thơ...
 
* * *
 
Hà Nội vắng em
 
Tế Hanh
 
Thế là Hà Nội vắng em
Anh theo các phố đi tìm ngày qua
Phố này bên cạnh vườn hoa
Nhớ khi đón gió quen mà chưa thân
Phố này đêm ấy có trăng
Cùng đi một quãng nói bằng lặng im
Phố này anh đến tìm em
Người qua lại tưởng anh tìm bóng cây
Anh theo các phố đó đây
Thêm yêu Hà Nội vắng đầy cả em.
 
* * *
Khẩn cầu
 
Trần Ninh Hồ

 
Nhớ Bùi Giáng
 
Đâu vờ giận đâu vờ thương
Còn suất điên thật xin nhường cho ta
Ta về trong cỏ làm hoa
Rồi đem hoàng hạc với gà nuôi chơi
 
* * *
 
Hư vô
 
Quang Huy

 
Cái gì cũng có một thời
Bao nhiêu máu chảy trong lời vua ban
 
Cái gì rồi cũng tiêu tan
Bao nhiêu xương trắng nằm oan dưới mồ
 
Cái gì rồi cũng hư vô
Bao nhiêu tượng gỗ lên chùa ngồi chơi
 
Cái gì rồi cũng rụng rơi
Qủa trên Vườn Cấm hoa nơi Địa Đàng
 
Chỉ còn mãi với thời gian
Tình yêu tự thuở hồng hoang dại khờ
 
Gắng ngồi viết cạn bài thơ
Bài thơ rồi có hư vô như mình?
 
* * *
 
Câu thơ ngày về
 
Trương Nam Hương
 
Ước mang được chút nắng về
Thường khi cứ tết là quê mưa dầm
Mệt nhoài cơm áo quanh năm
Hiếm hoi có một đêm nằm với quê
 
Gối đầu sóng nước ta nghe
Sông côi cút tiếng hò khuya buồn buồn
Mẹ theo hương khói lên nguồn
Sau ta thăm thẳm cánh buồm lẻ loi
 
Ruổi rong khắp bốn phương trời
Câu thơ hành khất theo người hành hương
Ta gom nhặt giữa đời thường
Nỗi đau của mẹ nỗi buồn của cha
 
Ngày về sau tháng năm xa
Trắng bàn tay trắng dần qua mái đầu
Có gì để tặng quê đâu
Đời thơ bèo bọt dăm câu bọt bèo
 
Cũ mèm vần điệu khi gieo
Thể như mẹ gánh cái nghèo kinh niên
Một thời mũi đạn làm tên
Mấy thời giông bão tràn lên đất này
 
Thức cùng quê một đêm nay
Rồi mai lại tính từng ngày cách xa
Bao giờ cơm áo buông tha
Câu thơ thay được đời ta. Bao giờ...
 
* * *
 
Mẹ ốm
 
Trần Đăng Khoa
 
Mọi hôm mẹ thích vui chơi
Hôm nay mẹ chẳng nói cười được đâu
Lá trầu khô giữa cơi trầu
Truyện Kiều gấp lại trên đầu bấy nay
Cánh màn khép lỏng cả ngày
Ruộng vườn vắng mẹ cuốc cày sớm trưa
Nắng mưa từ những ngày xưa
Lặn trong đời mẹ đến giờ chưa tan
Khắp người đau buốt nóng ran
Mẹ ơi! Cô bác xóm làng đến thăm
Người cho trứng người cho cam
Và anh y sĩ đã mang thuốc vào
Sáng nay trời đổ mưa rào
Nắng trong trái chín ngọt ngào bay hương
Cả đời đi gió đi sương
Bây giờ mẹ lại lần giường tập đi
Mẹ vui con có quản gì
Ngâm thơ kể chuyện rồi thì múa ca
Rồi con diễn kịch giữa nhà
Một mình con sắm cả ba vai chèo
Vì con mẹ khổ đủ điều
Quanh đôi mắt mẹ đã nhiều nếp nhăn
Con mong mẹ khỏe dần dần
Ngày ăn ngon miệng đêm nằm ngủ say
Rồi ra đọc sách cấy cày
Mẹ là đất nước tháng ngày của con.
 
1969
 
* * *
 
Từ những vết chân người
 
 Đinh Nam Khương
  
 
Tháng mười khi lúa gặt xong
Còn trơ thân rạ với đồng - đồng ơi
Lúa đi để lại tháng mười
Và cơn gió thổi rỗng trời ở trên...

Trời cao bỗng vút cao thêm
Bâng khuâng vì hẫng chân đêm mất rồi
Gặt rồi còn gốc rạ thôi
Và bao nhiêu vết chân người mới nguyên

Giữa đồng tôi đứng lặng yên
Chân tôi chân rạ sát liền bên nhau
Từ trong những vũng chân trâu
Chợt nghe con nhái đạp màu đất non

Biết rằng sự sống vẫn còn
Bánh chưng vuông bánh dày tròn là đây...
Cho dù bão tốc chân mây
Cũng không tốc nổi đường cày của tôi

Dù cho nắng lửa đất trời
Cũng không cháy được tháng mười tháng năm
Tay tôi còn bón còn chăm
Thì đồng còn có tháng năm tháng mười

Ngày mai từ vết chân người
Màu xanh lên với chân trời mở ra

1981-1982

 
* * *
 
Không đề I
 
Mai Linh
 
Thôi thì... em cứ mùa xuân
cứ mưa bụi cứ lúc gần lúc xa
thôi thì em cứ đào hoa
hoa đào phai áo lắm tà mỏng manh
 
Thôi em... sương khói dâng thành
hôn lên cỏ ngọt cho lành vết đau
hôn lên sỏi đá buồn rầu
cái chiều năm ấy... để đâu quên rồi
 
Người đà xấp xỉ bốn mươi
ngẩn ngơ rơi lá ngẩn người... rơi xuân
hồng xác pháo dưới gót chân
quay về nhan sắc có gần không em?
 
Giao thừa có phải là Đêm
mà sao trắng muốt cả miền chiêm bao.
 
Ất Hợi 1995
 
* * *
 
Tiếng sáo thiên thai
 
Thế Lữ

 
Tặng Ngô Bích San
 
Ánh xuân lướt cỏ xuân tươi
Bên rừng thổi sáo một hai Kim Đồng.
Tiếng đưa hiu hắt bên lòng
Buồn ơi! xa vắng mênh mông là buồn...
Tiên Nga tóc xõa bên nguồn.
Hàng tùng rủ rỉ trên cồn đìu hiu;
Mây hồng ngừng lại sau đèo
Mình cây nắng nhuộm bóng chiều không đi.
Trời cao xanh ngắt.  Ô kìa
Hai con hạc trắng bay về Bồng lai.
Theo chim tiếng sáo lên khơi
Lại theo giòng suối bên người Tiên Nga.
Khi cao vút tận mây mờ
Khi gần vắt vẻo bên bờ cây xanh
Êm như lọt tiếng tơ tình
Đẹp như Ngọc Nữ uốn mình trong không
Thiên Thai thoảng gió mơ mòng
Ngọc Chân buồn tưởng tiếng lòng xa bay...
 
* * *
 
Mưa
 
Nguyễn Ngọc Ly
 
Trời mưa bong bóng phập phồng
Mẹ đi lấy chồng con ở với ai

(Ca dao)
 
Ấy là tôi nói ngày xưa
Mẹ tôi tái giá - đò dưa theo dòng
Không mưa cũng thể phập phồng
Lừa tôi ngõ trước mẹ vòng lối sau.
 
Ấy là tôi nói ca dao
Con chuồn chuồn ớt đậu vào đời tôi
Bà đừng ru nữa bà ơi
Vít thêm ngọn nắng mồng tơi giậu nhà.
 
Ấy là tôi nói áo hoa
Mẹ mua cho tết tỉnh xa gửi về
 
Dì tôi dỗ: áo của dì
Để cho tôi mặc không thì tôi không.
 
Ghét lây bảy sắc cầu vồng
Giá như biết chặn lối vòng cơn mưa.
* * *
 
Bờ sông vẫn gió
 
Trúc Thông

 
Lá ngô lay ở bờ sông
Bờ sông vẫn gió người không thấy về
Xin người hãy trở về quê
Một lần cuối... một lần về cuối thôi
Về thương lại bến sông trôi
Về buồn lại đã một đời tóc xanh
Lệ xin giọt cuối để dành
Trên phần mộ mẹ nương hình bóng cha
Cây cau cũ giại hiên nhà
Còn nghe gió thổi sông xa một lần
Con xin ngắn lại đường gần
Một lần... rồi mẹ hãy dần dần đi.
 
  * * *    
  
Với Huế
 
Nguyễn Hữu Quý

 
Có chi say vậy Huế ơi
trăm năm còn đó những lời rêu phong
Cố đô chẳng khuất má hồng
Long-Ly-Quy-Phượng bên vòng tay thơm.
 
Tìm về Vỹ Dạ khói sương
hồn thơ lá trúc còn vương đến giờ
Huế thơ em cũng là thơ
cái tà áo tím hóa bờ Hương nghiêng.
 
Dìu nhau lên tới đỉnh thiêng
nửa xanh vi vút nửa đền đài bay
e rồi mình cũng gió mây
tan trong cõi tím của ngày hư vô.
 
Ơ này lá cũng nam-mô
chắp tay thành búp sen hồ Tịnh Tâm
nét hương cũng Huế thâm trầm
trách chi hoa trắng tôi nhầm ngày xưa.
 
Cầu Trời chầm chậm cơn mưa
để tôi cưới Huế thuở chưa có chồng...
 
* * *
 
Đào phai
 
Nguyễn Trọng Tạo
 
Hoa đào vương kiếp đào hoa
thắm tươi một thuở phôi pha một ngày
tôi nhìn từng cánh đào bay
thời gian lõa thể rụng đầy chiêm bao

Giật mình tôi gọi ơi đào
giang tay níu lại thuở nào thắm tươi
nhưng nàng đã chẳng nghe lời
lặng im trút xuống quanh tôi phai tàn.

1992
 
* * *
 
Trông ra bờ ruộng
 
Hữu Thỉnh
 
Trông ra bờ ruộng năm nào
Mưa bay trắng cỏ cào cào cánh sen
Mẹ tôi nón lá bước lên
Mạ non đầu hạ trăng liềm cuối thu

Quanh quanh vẫn một mảnh bờ
Bấy nhiêu toan tính đến giờ chưa yên
Mẹ tôi gạt cỏ bước lên
Cỏ dày cây lúa phải chen nhọc nhằn

Xòe tay tính tháng tính năm
Tính người? Nào biết xa xăm cõi người
Gié thơm ai đã gặt rồi
Đồng quang bóng mẹ nắng nôi một mình...
 
* * *
 
Uống rượu với Tản Đà
 
Trần Huyền Trân
 
Cụ hâm rượu nữa đi thôi
Be này chừng sắp cạn rồi còn đâu
Rồi lên ta uống với nhau
Rót đau lòng ấy vào đau lòng này
Tôi say? Thưa trẻ chưa đầy
Cái đau nhân thế thì say nỗi gì?
Đường xa ư cụ?
Quản chi
Đi gần hạnh phúc là đi xa đường
Tôi là nắng - Cụ là sương
Tôi bừng dậy sớm cụ nương bóng chiều
Gió mưa tóc cụ đã nhiều
Lòng còn gánh nặng bao nhiêu khối tình
Huống tôi mái tóc đang xanh
Vâng tôi trăm thác ngàn ghềnh còn đi
Với đời một thoáng say mê
Còn hơn đi chán về chê suông đời
Rót đi cụ rót đi thôi
Rót cho tôi cả mấy mươi tuổi đầu
Nguồn đau cứ rót cho nhau
Lời say sưa mới là câu chân tình.

Ngã Tư Sở 1938
 
* * *
 
Lời thề cỏ may
 
Phạm Công Trứ

 
Làm sao quên được tuổi thơ
Tuổi vàng tuổi ngọc - tôi ngờ lời ai

Thuở ấy tôi mới lên mười
Còn em lên bảy theo tôi cả ngày
Quần em dệt kín bông may
Áo tôi đứt cúc mực dây tím bầm
Tuổi thơ chân đất đầu trần
Từ trong lấm láp em thầm lớn lên
Bây giờ xinh đẹp là em
Em ra thành phố dần quên một thời
Về quê ăn Tết vừa rồi
Em tôi áo chẽn em tôi quần bò
Gặp tôi em hỏi hững hờ
"Anh chưa lấy vợ còn chờ đợi ai ?"
Em đi để lại chuỗi cười
Trong tôi vỡ ... một khoảng trời pha lê

Trăng vàng đêm ấy bờ đê
Có người ngồi gỡ lời thề cỏ may ...
 
* * *
 
Thiếu nữ
 
Bùi Chí Vinh
 
Cô gái ơi anh nhớ em!!!
Như con nít nhớ cà rem vậy mà
Như con dế trống đi xa
Một hôm chợt nhớ quê nhà gáy chơi
Con dế nó gáy một hơi
Còn anh gáy hết một thời con trai
Tiếng gáy bò lên lỗ tai
Làm em nhột suốt một ngày một đêm
Cô gái ơi anh nhớ em!!!
Như má lúm nhớ đồng tiền đúng chưa?
Như cà chớn nhớ cà chua
Như da em nhớ "da-ua" ngọt ngào
Cái nhớ nhảy qua hàng rào
Không thèm đăng ký cứ nhào vô anh
Xô ra thì thấy không đành
Nên anh ôm lấy ngồi canh giữ hoài
Con kiến còn nhớ củ khoai
Huống chi tóc ngắn tóc dài nhớ nhau
Nhớ nhau không biết để đâu
Nếu để trên đầu thì tóc che đi
Để trong túi áo cũng kỳ
Lỡ đi đường rớt lấy gì chứng minh
Chi bằng giả bộ làm thinh
Hét lên "nhớ quá" một mình nghe chơi!
 
* * *
 
Sông lấp
 
Trần Tế Xương
 
Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa chỗ trồng ngô khoai.
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò.
  
 

Nguồn: vanvn.net

More...

Vẽ chuyện

By DƯƠNG HƯỚNG

  • Trọng Bảo 09/28 2008 | 13:45

    Nhân các bác đang bàn về các loại... sữa em xin góp vui bằng một câu chuyện thế này:

    VẼ CHUYỆN
    Bà vợ sai ông chồng đi siêu thị mua hàng. Bà nói như liên thanh khiến ông ù cả tai mà chưa nhớ hết các thứ cần mua. Đi khỏi nhà được một lát ông lại lộn về hỏi lại:
    - Lúc nãy bà dặn tôi mua loại sữa gì nhỉ?
    - Sữa cô gái Hà Lan!
    Ông ngập ngừng:
    - Nhưng biết... tìm nó ở đâu mà mua?
    - Ở siêu thị chứ còn ở đâu nữa!
    Ông cáu:
    - Bà là chỉ được cái hay vẽ chuyện! Siêu thị thì thiếu gì con gái mua... sữa của cô nào mà chả được! Tại sao bà cứ bắt tôi phải đi tìm con gái Hà Lan để mua... sữa của nó hả? Mà tôi có biết vắt sữa của nó thế nào đâu!
    (Truyện cười của Trọng Bảo)

  • More...

    Thư gửi...

    By DƯƠNG HƯỚNG

    Đọc lá thu của Ngọc Bái cả họ không cả làng cả tỉnh nhà em cũng đều là nông dân nên em rất cảm kích xin bác Ngọc Bái Bác Trần Nhuong cho em rinh về trang nhà để báo vói cụ tổ mấy đòi nhà mình đang nằm duói mồ chuẩn bị tinh thần đối phó vói nhung tay say gôn lấy hết ruộng đồng  có khi nó còn muốn đào cả mồ mả cha ông mình lên thì nguy to!
    Thư ngỏ gửi bác Hoàng Quốc Hải Trần Nhương Lê Duy Phương
    Người viết: Nhà thơ Ngọc Bái   
    13/09/2008


    Cho dân nhà quê chúng em vốn dĩ hưởng lộc hạt lúa củ khoai xin được bàn góp mấy nhời về chuyện sân gôn nhé! Dân nhà quê chúng em thấm thía nhất câu " tấc đất tấc vàng" mà các cụ xưa đã nói. Lấy đất ruộng làm sân gôn chứng tỏ ông chủ tịch hội gôn và những ông ham gôn chủ trương đúng đấy. Các ông ấy đã biến bao nhiêu đất thành vàng đút túi là thực hiện đúng mục tiêu " dân giàu nước mạnh" đó. Dân nhà quê chúng em thấy các ông ấy " đền bù thoả đáng" là tốt lắm lắm rồi. Biến đất nông nghiệp thành đất vui chơi giải trí cho một nhóm người giàu chứng tỏ nhu cầu tiêu tiền của các ông ấy rất lớn. Không đổ tiền vào các ""lỗ" ấy thì đổ tiền đi đâu? Đổ vào lỗ giun lỗ dế à? Các ông ấy sẵn sơn hào hải vị chứ cần gì ăn cái thứ gạo thứ khoai như chúng em mà lo giữ đất nông nghiệp làm gì. Vả lại chúng em là nông dân còn chả xót xa các bác lại xót xa thay cho chúng em làm gì. Cho nên các ông ấy không đồng ý với cách "bàn ngang" của các bác là có lý.

    Bác Hải thì bóc mẽ những số liệu sử dụng đất làm sân gôn đến Trời cũng phải kêu Trời chắc là chỉ nước Nam mình trong thời mở cửa mới có. Còn cái chuyện ô nhiễm môi trường ai đã nhìn thấy các bác lo xa quá đấy! Bác Nhương bác Phương lại rỗi hơi làm thơ về chuyện sân gôn. Thơ để ngợi ca tình yêu và những đề tài lớn của đất nước thế mà các bác lại hạ cấp thơ để nói tới chuyện mấy cái lỗ gôn. Mà bác Nhương lại thâm lắm cơ: Các quan rất thích sân gôn/ Vì nó nhiều lỗ mà...mồm được xơi...Viết thế khác nào bảo ông chủ tịch hội gôn và các ông thích gôn ham cái lỗ... đến mất khôn ư?

    Em xin đứng về phía ông chủ tịch hội gôn cực lực phản đối các bác đấy.

     Yên Bái 13- 9-2008
    NGỌC BÁI kính thư.

    More...

    Truyện ngắn Nguyễn Hiệp trân trọng giói thiệu

    By DƯƠNG HƯỚNG

                       
                                     TRẦN GIAN NHÌN TỪ SAU LƯNG
     
                                             Truyện ngắn của Nguyễn Hiệp 
    Con đường ấy   một bên là dãy chùa chiền mái cong vút liền nhau bên kia vòng dài qua con thác Thơm. Thác có tên như vậy nhờ một loại cỏ phát hương mọc ven bờ nước nhiều người cứ nhầm tưởng cái tên Thơm kia cái hương thơm kia xuất phát từ nhang khói của hàng lư to lớn đủ dạng dát vàng dát đồng sơn xanh sơn đỏ chạy dài… Ông già râu trắng biết rõ điều đó hơn ai hết vì ông là cư dân là người thợ sửa xe đạp lâu năm ở đây. Không khí trời đất nơi này thoang thoảng mùi hương suốt ngày đêm nên có người còn gọi bằng cái tên khác là Miền Thơm cái miền tưởng chỉ có đâu đó trong tâm tưởng trong hoài vọng trong viễn tượng khao khát xa xôi.Những lúc không có khách ông già hết ngồi nhìn thác nước trắng xóa đổ miên man lại nhìn tượng Phật Bà Quan Âm bất động với bình nước cam lồ trên tay. Đôi lúc ông còn trò chuyện chất vấn với pho tượng Phật Bà rồi thều thào một mình: “Lấy cái… tinh thần!” không ai hiểu nhưng thường thì ông ngồi yên lặng. Ông già râu trắng ngồi bó gối như con ốc cúc hóa thạch với thùng đồ nghề sửa xe đạp màu rêu tưởng cũng đã hóa đất hóa đá hóa bụi hóa bờ cả hai cái dáng dáng người cong vòng và dáng thùng lù lù vuông vức không thay đổi bất di bất dịch từ lâu lắm rồi. Thế mà một ngày kia lại có sự thay đổi lớn lao. Đó là ngày ông già râu trắng chợt phát hiện ra con mắt sau lưng mình hoạt động con mắt không lồi ra mày mi trang trí đủ đầy như những con mắt khác nó chỉ gợn chút hình dáng nhô nhô sau lớp da đã bắt đầu nhăn nheo của ông nhưng nhìn thì thấy được cả những điều ít ai nhìn thấy cũng có thể do người ta không chú tâm nhìn nên chưa thấy nhưng cũng có thể con mắt này siêu phàm thật con mắt đã sống lại thực sự sau chừng ấy năm trước đây chính ông cũng không hề biết sự tồn tại của nó trên cơ thể mình. Con mắt nhìn thấy cả màu sắc chớ không mù màu như mắt bò trâu cái nhìn chắc chắn xác thực không đen trắng cực đoan ông chợt thấy mừng thầm trong bụng vì điều đó. Ông thử xoay người lại và nhìn thấy dòng nước trắng xóa đổ từ trên cao xuống ấy bỗng nhiên thật lung linh thật ảo mộng. Ông vòng tay ra sau lưng dụi con mắt ấy mấy lần nhưng vẫn cứ thấy trong dòng trắng kia hiện lên vô số những người đàn bà mặc áo nâu tay cầm những tờ giấy trắng lớn. Ông thấy rõ ràng mấy bà lom khom bước ra từ dòng nước áp tờ giấy trắng vào ngực nhìn ông mỉm cười rồi tất cả co ro cút rút ngồi xúm vào nhau như những hòn đá đầy rêu già nâu nhạt. Ông hơi bàng hoàng vì tự dưng ông lại liên tưởng đến hình ảnh mấy bà nông dân mất đất ngồi chờ trước cổng Ủy ban Thành phố. “Quên đi! Lấy cái… tinh thần” ông tự nhủ lại xoay lưng nhìn sang tượng Phật Quan Âm khối xi măng cứng đơ bỗng nhiên mềm lại dịu lại da người hồng hào sống động con mắt khẽ chớp đôi môi nhoẻn cười giống nụ cười của mấy bà nông dân. Những nụ cười giống nhau như đúc. Những nụ cười ấy là một cùng bao dung độ lượng mênh mang nhìn phía khác nhau thì thấy khác đôi chút kì thực là một thôi. Ông dụi mắt lần nữa và xác tín điều đó ông cũng chợt thấy trong cái mênh mang độ lượng của nụ cười ấy lắng đọng điều gì đó như là sự cay đắng không cùng.Sao lại có chuyện lạ kì? Ông vừa thắc mắc trong lòng thì chợt thấy mình bé lại cả cơ thể mét sáu mét bảy của ông bỗng trở thành tí hon hạt cát trong chốc lát. Ông thấy mình biến thành chú khỉ nhỏ lắc xắc loay hoay líu quíu bế tắc hết nhảy chỗ này đái một bãi lại trèo lên chỗ khác đái một bãi để đánh dấu ông đái mãi đái mãi mà vẫn không sao hình dung được cái lòng tay đang chụp lấy mình bao lớn không sao tìm được cái kẽ hở nào để thoát khỏi bàn tay không ranh giới kia. Con khỉ nhỏ nhảy mãi đái mãi rồi ngồi gục xuống vai nó rung lên rung lên rồi co giật rồi lăn ra gẫy đổ vụn cám nhưng bặt không tiếng khóc không một âm thanh nào vang lên. Sống chừng ấy năm rong rêu sần sùi rồi con người ông làm gì còn âm thanh nào đủ sức phát ra nữa tịnh không một âm thanh nào nữa… Nhưng phải có một luồng sáng một con đường một lối thoát để cho ông đi ra khỏi cái sự lòng vòng luẩn quẩn này chứ ông thầm nhủ rồi tự dưng thấy rạo rực hân hoan lại trở về với kích thước thật của mình lòng tràn ngập một niềm tin tưởng vô bờ bến ông tin cuộc đời này trần gian này còn có chân lý dứt khoát phải có chân lý một loại chân lý trắng nguyên không hề hoen ố nó nằm đâu đó trong sâu thẳm lòng người ẩn mình đâu đó trong nhân gian đầy ô trọc ham muốn bất an và khốn khổ khốn nạn. Khi mình thật sự cần thấy thì chắc chắn lẽ phải sẽ có mặt ông lặp lại lời tự nhủ với mình nhiều lần như thế. Ông cũng tự thấy lạ mỗi lần óc não ông có một câu hỏi một luồng điện xẹt qua là cơ thể ông cũng có những biến đổi mà trí tưởng tượng hữu hạn của ông không tài nào theo kịp. Trần gian vô cùng quá! Con người hữu hạn quá ngay cả trí tưởng tượng của con người cũng hữu hạn. Hăm hở quay lưng về phía thác ông lại nhìn thấy dòng nước trắng xóa thơm ngát kia đổ xuống trườn mình vòng vèo qua những kẽ đá không biết cơ man nào là chữ chữ như rồng bay phượng múa hẳn hoi hóa ra chữ đang tuôn ra từ những tờ giấy của mấy bà nông dân áo nâu lù lù ẩn phía sau dòng nước nhìn cứ như là những cuộn giấy trắng ngà mềm mại. Chữ. Giấy. Ông lại dụi mắt. Vẫn chữ. Vẫn giấy. Ông dụi mắt lần thứ ba thì tất cả biến mất chỉ còn thác nước trần trụi lõa lồ mùi thơm cũng xa xôi quá loãng quá không thật nói đáng tội ông già nghĩ mùi thơm ấy chỉ có thật trong quá khứ trong một thời đoạn cuộc đời đã qua rồi qua lâu rồi. Mùa gặt hương thơm đã qua rồi! Nhưng sao ông lại tin tin ghê lắm niềm tin quả thật có được quá ư đơn giản không có khuôn đúc nào cho niềm tin cả nó chợt đến từ một thác nước từ nụ cười mênh mang chợt hiện từ những chiếc áo nâu ngàn đời phơi lưng mưa nắng phơi mặt bùn lầy từ mùi thơm của một loài cỏ dại không tên hay đã bị ai đó ăn cắp mất tên mình rồi… “Lấy cái… tinh thần!” Ông lại nhếch môi cười miệng hơi lệch một bên.Niềm tin kì diệu thật. Ông già miên man miên man bơi trong dòng suy tưởng bơi trong đầy ắp nỗi niềm tin tưởng rồi thiếp ngủ mê man cằm tì vào thùng đồ nghề sửa xe đạp xanh rêu tay buông thõng chạm cả những nhánh cỏ ướt dưới nền.Căn nhà số lẻ nằm ngay mặt đường là “tiệm” sửa xe đạp của ông già râu trắng chẳng có gì đặc biệt ở đây cả ngoại trừ mùi cứt heo thum thủm khai nồng trong căn nhà bay ra “tra tấn” người đi đường người dạo cảnh. Trong nhà ông già có nuôi một cặp heo đốm sống với heo riết rồi ông thực sự thấy dễ chịu heo là giống đáng cho ta làm bạn hơn là cái lũ nửa người nửa ngợm trâng tráo tanh tưởi dương dương tự đắc tác oai tác quái trong ngôi nhà phía tây kia. Ông thật sự ghê tởm cái đứa con gái lớn của “thằng bố” Lê Văn… tự xưng Đại Mỹ Nhân với hàm răng như là trời sinh ra dùng để nạo dừa ấy.Gần nửa năm nay đôi bàn tay của ông già trắng trẻo hẳn ra người ta không còn thấy ông ngồi vá sửa xe đạp nữa thùng đồ nghề đã dọn vào trong chỉ còn cái bảng vuông nhỏ bằng tôn xiêu vẹo nằm hờ hững một góc hiên nhà. Ông già đã chuyển sang nghề khác nghề viết đơn kiện không phải viết thuê mà là viết cho chính ông. Ông mất đất người ta đã “đi đêm” cướp mất quyền làm chủ mảnh đất máu thịt của ông. Hôm trước con Đại Mỹ Nhân ấy leo lẻo: “Ông không xài để cho nhà cháu xài”. Hôm sau nó lại vói sang xấc xược: “Để cho tá túc đến ngày đi gặp ông bà từ thiện vậy là chơi đẹp đấy nhá! Mà chẳng còn xa nữa đâu. Hi hi…” Nó cười đắc thắng thách thức. “Đồ cướp ngày!” Môi ông run run ông quỵ xuống đưa hai tay ôm ngực. Ông muốn lấy lại quyền làm chủ ngôi nhà làm chủ lô đất của mình chẳng biết để làm gì chẳng biết để cho ai ông có còn ai thân thuộc đâu mà cho mà ông với đất thì cũng gần nhau quá rồi “chẳng còn xa” đúng vậy nhưng ông phải kiện ông tin có một thứ chân lý trắng nguyên không bị hoen ố còn ẩn mình đâu đó trong thăm thẳm trần gian. “Lấy cái… tinh thần là chính!” Ông lại tự nói với lòng. Nửa đêm ông choàng dậy lồm cồm bò qua chuồng heo xoa xoa đầu hai con heo đốm mà tâm sự về niềm tin vừa có và cái quyết định phải viết đơn kiện của mình. “Tụi con thương ta mà ra đi ta thật không nỡ nhưng đi kiện tốn kém lắm với lại con đường đi kiện như đi vào nơi gió cát mù trời vậy không có đường quay lại đâu các con… Ta đành đứt ruột mà bán các con thôi. Mong sao khi được hóa kiếp các con biến thành cánh chim bay liệng đừng quá ham muốn đất đai mà sinh hư mà ô uế mà không thành có mà trắng thành đen các con nghen!” Ông già nghiêng đầu nhìn thật sâu vào đôi mắt của hai chú ụt ngây thơ. Ông đưa tay gãi gãi lên lưng hai chú ụt chúng vẫn vô tư cạ cạ vào tay ông từ từ nép mình vào tay ông rồi nằm bẹp xuống. “Lấy cái… tinh thần!” Ông lại thều thào rồi xiêu vẹo đứng lên không dám nhìn chúng lần nào nữa.Những ngày này tự dưng đầu ông nóng ran ông tìm mua quyển luật đất đai ông đọc đi đọc lại gạch dưới đóng khung từng câu mực đỏ mực xanh dấu hỏi dấu than hiện dày trên từng trang luật. Ông viết nắn nót từng chữ lột tả nỗi niềm ông trích cẩn thận từng câu luật lệ cẩn nghiêm thỉnh thoảng ông dừng lại lầm rầm một mình: “Lấy cái… tinh thần” ông mơ hồ thấy như mình đang từng bước từng bước chạm đến chân trời của sự công bằng của sự phải đạo của cái điều minh bạch mơ được ước thấy ngàn đời. … “Kính gửi…Tôi đứng tên dưới đây là…Tôi làm đơn này kính trình lên cơ quan công lý Lên Tòa án Nhân dân lên Viện Kiểm sát Nhân dân…Nguyên lô đất 100-10 rộng… dài… đông giáp đường… tây giáp… bắc giáp… nam giáp… vốn là đất thừa kế của vợ chồng tôi từ đời khẩn hoang lập ấp cha ông chúng tôi để lại. Chúng tôi sinh ra và ở trên lô đất này cả ba thế hệ có nộp thuế đầy đủ theo chế độ thuế hiện hành. Vì thương tình vào năm… vợ chồng chúng tôi bàn với nhau cho không bốn mét tính theo mặt tiền cho ông Lê Văn… người mà chúng tôi vốn coi như là con nuôi của mình. Nay ông Lê Văn… qua đời nhưng chẳng biết bằng cách nào cô Lê Thị… con ông Lê Văn lại làm được quyển sổ đỏ sở hữu luôn cả phần đất của chúng tôi (hai mươi mét chiều ngang). Bản thân tôi cũng đã già nua sức cùng lực kiệt chẳng còn ham hố gì nữa mất gì tôi cũng bỏ qua được nhưng mất đất thật chẳng cái nhục nào bằng. Đây là sự cướp đất trắng trợn ngay khi tôi còn sống sờ sờ ra đây…Tôi làm đơn này tha thiết kính xin…” Ông viết. Ông gửi đi kính gửi các nơi mà ông biết được có đơn ông còn viêt cả câu: “Lấy cái… tinh thần là chính”. Các cánh cửa vẫn lặng im. Chồng đơn dày lên. Viện kiểm sát huyện đã thụ lý hồ sơ. Ông cuộn người chờ. Tòa án đã xử. Thất bại ông khiếu kiện lên cấp trên. Lại hy vọng. Lại chờ. Kết quả y án. Ông vẫn tiếp tục viết đơn lành với Bụt ông quyết không lành với ma. Báo chí lên tiếng. Dân chúng bức xúc sẵn sàng làm chứng bênh vực ông già. Tòa án cấp trên nữa đã xử. Nội dung bản án phúc thẩm: y án. Ông như chiếc lá rụng khỏi thân cây hy vọng. Nghe đâu cô ta có người bà con làm chức quan cao lắm nên quan cấp dưới né tránh sợ mất ghế. Ông vẫn tiếp tục viết nhưng không gửi đi đâu nữa ông viết theo quán tính thói quen phản xạ có điều kiện như sự tiết nước miếng của con chó trong thí nghiệm dịch vị của chó bình thường mỗi phút tiết ra hai mươi lăm giọt ông “tiết” ra mỗi phút cả trăm từ. Mỗi khi vớ được cây bút mảnh giấy là ông viết viết hăng như con chó trong phòng thí nghiệm nghe tiếng chân người bê thức ăn mà số giọt dịch vị tăng lên cả trăm cả ngàn. Ông cần viết như cần thở cần ăn cần thức cần ngủ cho đủ đầy một kiếp trần ai. Ông cần “lấy cái… tinh thần” như vặn một thứ dây cót cho những ngày sống cuối đời cho chút hơi thở tà dương còn mang ý nghĩa.Hạnh phúc có thật trong lòng ông già râu trắng khi ông phát hiện con mắt sau lưng của mình còn nhìn thấy được cả quá khứ. Ông nhắm hai mắt trên khuôn mặt của mình lại không nhìn phía trước nữa để tập trung cho cái nhìn từ sau lưng. Bao nhiêu năm tháng ông khao khát nhìn lại được nụ cười của vợ ông không ngờ bây giờ điều mơ ước ấy đã thành hiện thực. Nhưng tức chết là cứ mỗi lần hình ảnh nụ cười của vợ ông hiện lên là hình ảnh cái “thằng bố” rách rưới ấy cũng hiện lên cùng lúc. Ông thấy như in cái ngày đầu tiên “thằng bố” rách rưới ấy bưng đến cho vợ chồng ông dĩa bắp luộc bốc khói loại bắp nếp hột nhỏ ấy sao mà thơm ngon. “Mệ ăn đi kẻo nguội!” “thằng bố” ấy nhìn vợ ông trìu mến mà nói như vậy chả lẽ lời ấy thái độ ấy lại của kẻ giả dối kẻ mưu đồ ư? Ông cũng nhớ như in chính “thằng bố” Lê Văn… ấy khom vai một đầu võng cùng ông lụi hụi chạy đến bệnh viện trong đêm khi bà vợ ông bị mấy viên sỏi bàng quang hành cho đau xé người ngất lên ngất xuống. Thương cảm vậy đó nên vợ chồng ông mới gọi “thằng bố” ấy đến cho mấy thước đất phía tây. Chính bà vợ ông lận lưng quần ra mở hai lớp kim băng lấy đưa cho “thằng bố” ấy chiếc nhẫn dành dụm cắc củm một đời để cho con trai của mình cưới vợ. “Phận em nó ngắn ngủi con cầm chiếc nhẫn này mua lá mua cây làm nhà có cái mà đụt mưa đụt nắng với người ta con à”. Vợ ông là người như vậy bà ấy sống tốt với mọi người cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay. Ông bần thần ngồi hồi lâu chợt cái buổi trưa nghiệt ngã ấy hiện ra mồn một cái buổi trưa mà chỉ cần gợn lên trong đầu ông đã rùng mình…Thấy vợ vói lên hiên nhà bếp lấy cái ní xắn măng xuống lau lau chùi chùi có vẻ chú tâm lắm ông hỏi: “Làm gì?”. “Kiếm mấy mụt măng nấu cháo”. “Tôi đi cho!”. “Ông nghỉ đi! Tôi chỉ vào bìa rừng đây thôi mà”. Đúng là bà chỉ vào tới bìa rừng những mụt măng vàng óng đến ngon mắt sờ sờ trong bụi tre gai bên đường hút lấy mắt bà hút hết hồn bà. Phải chi bà tỉnh táo mà sựng lại thắc mắc: “Sao sờ sờ đó mà không ai xắn? Sao bụi tre ngay bên đường mà không thấy dấu chân người bén mảng?” thì đâu trở thành nạn nhân của bầy ong dữ đâu trở thành cái xác còng queo tím máu trong bụi tre trưa ngày hôm ấy. Vợ ông đổi sự sống lấy chút mụt măng nấu cháo mà chẳng được cây ní chắn ngang trên ngực như một sự bày đặt tang thương đau xót của người tìm kiếm miếng ăn nhỏ mọn của người đi vào ngõ cụt đói nghèo. Phải chi con trai ông đừng bị chiến tranh cướp mất sự sống thì giờ đây hẳn là con cháu đã đầy đàn đã chật mảnh đất này tiếng cười nói ríu ran của chúng đã rộn ràng khu vườn này. Phải chi vợ chồng ông là người đành đoạn bán đất để ăn thì không có cái chết buồn tủi của vợ ông thì làm gì có cuộc “cướp ngày” trâng tráo này. Cứ nghĩ thương người như thể thương thân là phải đạo có ai ngờ đâu cái thói đời nó đáng khinh bỉ đến vậy. Ai có ngờ đâu “thằng bố” ấy chết chưa đầy năm lũ con cháu du côn du đãng kia lại lén lút “đi đêm” để có được quyết định pháp lý chủ quyền sử dụng toàn bộ lô đất của ông không hiểu vì điều gì mà người ta lại nhẫn tâm chứng thực cho bản thỏa thuận phân chia tài sản thừa kế ấy mà theo thỏa thuận này xem như toàn bộ đất đai của ông đều là di sản của “thằng bố” Lê Văn… để lại cho con mình.  Từ ngày thua kiện ông cứ như người lẩn thẩn hết ngồi bó gối khóc thương cặp heo đốm ông lại lục tục cả ngày cả đêm lôi hết các loại sách vở trong nhà ra hễ chỗ nào có trang trắng nửa trang trắng là ông viết đơn khiếu nại vào đó ông không thể dừng lại được nữa rồi. Mọi người thấy vậy buộc miệng: “Ông già bị bệnh kiện”. Có người đi qua thở ra rồi thì thào: “Trời gần sáng là lúc trời tối nhất. Đợi thôi!”Một cán bộ trực tính ở huyện ủng hộ việc kiện cáo của ông bước vào nhà định hướng dẫn cho ông đường đi nước bước để lặp lại vụ kiện. Nhưng ngay chính hôm ấy anh này phát hiện ra ông già đã bệnh xơ gan cổ trướng bụng phình lên cứng ngắc cứ một chặp lại thấy ông đi vào nhà cầu lại ra mồ hôi rịn đầy trên trán rồi lại vào với cái bụng trương ướng gào đòi thải ra. Sau ông cứ ngồi ì luôn trong đó vừa giải quyết “cơn đòi” kia vừa hí hoáy viết đơn vào trong những tờ giấy vệ sinh viết xong lại xỏ từng tờ cẩn thận trở lại vào cọng kẽm móc. Ông ngồi làm cẩn thận những động tác ấy như đang xây một công trình lớn lao nghiêm túc.Ông tắt thở dân làng đến đập cửa tẩm liệm cho ông. Vừa khiêng xác bỏ vào hòm ông lại sống lại. Tiếng nói đầu tiên ông thốt lên trong lúc mọi người đang còn bàng hoàng là “cây… viết…”. Ai đó rút một cây viết bi từ túi áo ngực đặt vào tay ông. Người ta thấy ông mở mắt ra tay quơ một bó giấy súc loại giấy mềm vàng đục để tẩm liệm xác chết ông mở bung ra và bắt đầu viết. Đám đông tò mò theo dõi… “Đơn kiện”… “Lại đơn kiện!” Ai đó thốt lên xót xa. Đột nhiên bụng ông vồng lên co giật liên hồi. Cây viết văng ra. Cuộn giấy súc quấn ngang người ông. Tất cả lại đột ngột yên lặng trở lại. Người đàn ông làm công việc tẩm liệm đưa ngón tay ngang mũi ông già kiểm tra hơi thở lắc đầu: “Đi rồi!” Mọi người giãn ra. Chuẩn bị đậy nắp. “Chiêng trống đâu nhớ là trống phải theo chiêng…” Câu nói của người đàn ông tẩm liệm đang nửa chừng thì im bặt. Không phải mình ông mà cả những người xung quanh đều nghe rõ ràng tiếng nói ông già phát ra từ quan tài. Người ta lại đưa ngón tay ngang mũi lại giật mình vì hai tiếng “cây… viết” vừa thốt ra rõ ràng từ miệng ông già. Viết lại được đặt vào tay. Giấy súc lại mở bung ra. “Lại đơn kiện!” Ai đó thốt lên. Lần này ông già viết như một con ma nhập xác ngón tay run run giật giật nhưng chữ vẫn lả lướt rồng bay phượng múa có điều rồng phượng giờ đã tàn lực tàn hơi nên có ngoằn ngoèo đôi chút. “Còn một hơi thở thì rồng phượng vẫn cứ là rồng phượng chớ sao!” “Lấy cái… tinh thần là chính!”… Vài người bình luận chua xót.Một bó giấy súc khác vừa được bung ra thì bụng ông lại trương lên vồng lên toàn thân ông giật nảy liên tiếp mấy bận. Có người quay mặt đi. Có người chồm tới tìm cây viết đặt vào tay ông già nhưng cơn co giật làm văng ra lại đặt vào lại văng ra… Khi các ngón tay co rút lại nắm chặt cây viết ai cũng nghĩ chạm được cây viết ông sẽ hồi dương sẽ viết người ta chờ đợi hai chữ “đơn kiện” sẽ hiện ra trên mặt giấy đục vàng. Nhưng không các ngón tay vàng tái đầy gân xanh của ông từ từ giãn ra giãn ra rồi cả hai bàn tay buông thõng. Cây bút dường như cũng tắt thở ngã ngoẹo trên lòng bàn tay. Anh cán bộ huyện bảo người đàn ông tẩm liệm lật xác ông già úp xuống. “Để lưng quay lên cho già lấy cái… tinh thần”. Vừa nhớ lại lời dặn khó hiểu ấy vừa quấn gọn các vòng giấy “đơn kiện” quanh xác ông già giọt nước mắt của anh cán bộ huyện chợt rơi xuống ướt một góc giấy anh ta vội chùi chùi lia lịa. Anh cán bộ huyện cứ ân hận vì để giọt nước mắt rớt vào quan tài “người chết sẽ không siêu thoát” anh luôn miệng nói với mọi người như vậy. Chợt ngay lúc ấy lưng áo của ông già căng ra căng ra. Người tẩm liệm chợt thụt lùi thụt lùi rồi bật ngửa xuống nền nhà. Mọi người nhào tới ai ai cũng trố mắt đứng chết như trời trồng: Làn da lưng ông già đã rách toạc hình hài một con mắt ướt rượt đỏ hoe trồi lên bẹp xuống phập phồng máu trong con mắt ấy lan ra rịn ra đọng thành hình giọt lệ. Chỉ anh cán bộ huyện là còn chút tỉnh táo nhưng mồ hôi cũng nhoè nhoẹt hai bên thái dương “Ước vọng của ông già còn đè nặng lên con mắt” anh thầm nghĩ vậy lừng khừng một thoáng vì sợ hãi nhưng cuối cùng bàn tay run run của anh cũng đặt lên con mắt khẽ khàng vuốt một đường xuôi xuống. Kì lạ thay con mắt chợt dịu lại khép lại rồi lặn chìm vào trong da thịt. Cơ thể ông cũng xẹp xuống bất động một luồng khí dương thoát mạnh qua đường hậu môn. Từ hôm ông già ra đi quán xá lấn át chùa chiền son phấn ứ mùi không còn ai gọi con đường ấy là Miền Thơm nữa mặc dù hàng lư nhang to lớn đủ dạng dát vàng dát đồng sơn xanh sơn đỏ ngày càng thêm ra đủ sắc. Nghe nói loài cỏ thơm tự dưng lại lụn chết hết. 
                                            Dưới chân núi Tà Cú tháng tư 2008N.H 

    More...

    Truyện ngắn Nguyễn Bản

    By DƯƠNG HƯỚNG

     
        Đầu năm con chuột blogs Dương Hướng trân trọng giới thiệu với bạn bè một truyện ngắn của Nguyễn Bản viết đã quá lâu từ năm 1964 tới nay mà ông vẫn chưa gửi in ở đâu. Lúc đầu ông đặt tên là “Giấc mơ không có máu” nghe ghê ghê nên ông đổi thành “Sông đâu rừng đâu rồi”. Truyện viết ảo mà thật ngược hẳn với “Ánh trăng”(1) mượt mà ấm áp của ông. Càng đọc càng thấy bút lực tinh tường tài hoa mà đau đời đến thế là cùng. Mời các bạn tham khảo.

    SÔNG ĐÂU RỪNG ĐÂU RỒI?


     

    Truyện ngắn của Nguyễn Bản

        Hắn nhìn ra ngoài. Nắng sáng trắng và rập rềnh như những cồn cát. Đêm buốt cóng ngày chói chang. Trong nhà vẫn giá buốt. Hắn nhắm mắt và chỉ muốn ngủ gật. Nhưng hễ cứ nhắm mắt giấc mơ đêm qua những khoáy nắng tím sẫm mầu bồ quân lại ù ù trong đầu hắn. Hắn thèm được ngủ gật. Con Dốp cũng đang ngủ gật ngoài bậc cửa. Nhưng nó có trải qua một giấc mơ như giấc mơ đêm qua của hắn không? Dốp ơi mày có mơ không có mơ như tao mơ không? Hắn lại hỏi như thời nào hắn vẫn thường vẩn vơ tự hỏi. Giống vật có mơ không? Nhưng thời đó hắn hỏi rồi tự trả lời: thôi đi con người chúng tao trở thành chúa tể chính là vì những giấc mơ kỳ diệu chứ chẳng phải vì cái cóc khô gì hết. Mặc xác cho vượn tiến biến thành người. Nó đã biến thành người hàng chục vạn năm rồi. Ta chỉ cần những giấc mơ.
      Thời đó là bao giờ? Hình như thời đó hắn còn là một học sinh trung học hoặc cùng lắm mới chỉ là một gã tân binh khoá sáu lục quân.
      Thời đó một đêm ngủ không mơ đối với hắn là một điều bất hạnh thiệt thòi thất vọng. Hắn cảm thấy giấc ngủ nhạt nhẽo. Đêm vừa qua ta chẳng sống một chút nào hắn phàn nàn ta là một cái gì khác chẳng phải là ta. Nghĩa là hắn không còn tồn tại tồn tại theo ánh sáng riêng của hắn. Hắn thấy tiếc và thường cố ngủ thêm may ra vì lẽ gì giấc mơ lạc đường mà đến muộn.
      Mơ nghĩa là được sống đủ trong lúc ngủ được chắp cánh bay mung lung trong ảo tưởng đắm đuối trong cảm giác yêu đương ngây ngất trong chuyện ân ái còn vô cùng xa lạ đối với hắn.
      Hắn mơ mẹ sống lại gỡ từng sợi tóc bết mồ hôi quạt gió vào chân tóc hắn những làn gió xanh rờn tê lạnh.
      Hắn mơ cái bút máy “Wearever” bạn tặng ngày hắn đi bộ đội hắn đánh rơi xuống sông khi vốc nước rửa mặt ở bến Bình Ca vẫn nằm nguyên trong túi.
      Và mơ chao ôi cô nữ sinh học dưới hắn hai lớp hắn yêu thầm và thường mất hồn khi bất chợt gặp nàng tóc nàng lại ấp vào môi hắn.
      Hắn mơ… bao nhiêu giấc mơ lấm tấm lấm tấm những bụi trăng và lơ lửng…
      Vậy mà lại có những đêm không mơ làm sao hắn không khỏi bần thần suốt ngày hôm sau?
      Mỗi lần ngủ mơ tỉnh dậy hắn đều nhẩm lại sợ quên để nhớ muốn nhớ mãi và tự nhủ tối mai ta lại mơ gì cũng được miễn là mơ dù nhỏ bé dù vô lý thậm chí không may dữ dội cũng được.
      Quả thật không phải không có những giấc mơ làm hắn phát hoảng như bị vây dồn giữa một đàn chó đến chục con giữa một khoảng đồng trống trơ gốc rạ không gạch đá cây que chống trả một con rắn đen văng mình từ một ngọn cây cao quấn vào cổ hắn đánh vỡ cái bình hoa kỷ niệm duy nhất còn lại của mẹ để quên ví tiền ở bãi tắm… Nhưng ngay cả những giấc mơ như thế vẫn cần thiết biết bao bởi lẽ khi bàng hoàng tỉnh dậy bình hoa vẫn còn nguyên không có rắn cũng không có chó và hắn vẫn thèm cả những giấc mơ như thế. Chứ sao hắn tự nhủ còn hơn là không có gì ta được ngủ trong những kỷ niệm ta tồn tại trong cõi vô thức.
      Nhưng đó là chuyện thời ấy thời chống Pháp lúc hắn còn là một thanh niên yêu đời hăng say thể lực cường tráng leo núi băng rừng ngủ đêm nhờ ở trạm đổi ngựa ở cổng trời… với một tâm hồn lãng mạn phơi phới hoặc xa hơn nữa từ thời niên thiếu.
      Bây giờ thì khác rồi.
      Bây giờ hắn không còn là một trung uý công binh nữa. Hắn đã chuyển ngành thành một cán bộ văn hoá làm những việc linh tinh vô bổ. Không thiết làm thơ hắn đã thôi làm thơ và lấy vợ. Vợ hắn là một giáo viên yêu hắn lúc hắn đang làm thơ bây giờ thường bất đắc ý và hờn trách vì chuyện đó.
      - Anh lại làm thơ đấy ư?
      - Thơ thẩn gì đâu?
      - Thế anh đang viết gì?
      - À - hắn ngập ngừng - mấy dòng nhật ký ấy mà.
      - Có giống thơ không? Đưa em xem nào!
      Vợ hắn vơ lấy cuốn nhật ký.
      Ngày …4-64
      Chúng tôi đang nói chuyện về thơ tự nhiên S hỏi
      Anh có biết cô K không?
      Không
      Vẫn hay hát Xan-ta-lu-xi-a ấy.
      Không cũng vẫn không biết - tôi cười và nói đùa - từ khi lấy vợ mình không còn biết cô nào nữa và về sau mình sẽ lên thiên đường…
      Vợ hắn ngừng đọc và nguýt hắn.
      Chưa chi anh đã vội giữ ngôi rồi.
      Không biết chết đi rồi sẽ ra sao?
      Sẽ thành hữu cơ thành đất bón cho mảnh đất cằn cỗi này - cô bạn quê Phát Diệm ít nhất cũng một lần rửa tội trả lời S rất tự nhiên như vậy.
      Hết chuyện “sống là đấu tranh” chúng tôi xoay quanh chuyện “chết” là hết thành hữu cơ bón cho đất khỏi cằn cỗi. Sợ hay tiếc? Chôn luôn cái khát vọng - chứng giải “những điều trông thấy mà đau đớn lòng”?
      Trời nổi giông. Tôi về phòng mình và tự nhiên bị xúc động mạnh. Ý nghĩ cái chết rập rình chơi vơi và hỗn loạn trong đầu óc tôi như những bóng ma đang khiêu vũ trá hình nơi dạ hội. Đây chẳng phải là lần đầu tiên trong mấy năm nay. Tôi sợ tôi xua đuổi nhưng trong vùng sâu kín nhất của tâm hồn tôi lại như níu lấy cầu mong. Tôi linh cảm hình như đây mới là tôi đang tư tưởng thực sự. Còn tất cả đều nhạt nhẽo rỗng tuếch gượng gạo. Nhưng thường là tôi không thoát ra khỏi mớ rối mù hỗn độn ấy. Tôi choáng váng. Tôi đâm sợ. Tôi lại cố xua đuổi. Nhưng mỗi lần những bóng ma ấy hiện ra chập chờn trên những cầu vồng khói tôi lại cảm thấy mừng rỡ và hy vọng. May ra lần này nắm bắt được cái gì.
      Chết là chẳng còn gì nữa. Vậy tốt nhất là đừng tồn tại từ một khởi điểm thời gian không gian nào ư? Nhưng sự thật lại khác. Tôi đã sinh ra vào ngày X tại một nhà hộ sinh bé nhỏ. Tôi đã từng sống những giờ phút sung sướng đau buồn và vui tươi lo lắng hy vọng và thất vọng. Một ngày kia tôi sẽ chết. Finita la Comédia.
      Tôi không phải là tín đồ Thiên chúa Phật hay Hồi giáo để có thể tin rằng sau khi chết sẽ lên thiên đường hay xuống địa ngục. Ừ giá có địa ngục thật thì hay biết mấy. Một lần nữa tôi sẽ nhường thiên đường cho tội lỗi và tham vọng mà vui vẻ tụt xuống chỗ tối tăm này. Ít ra như thế tôi vẫn còn tồn tại còn được suy nghĩ tư tưởng. Và may ra không tồn tại trong giấc mơ bé nhỏ thì thôi tôi tồn tại nơi địa ngục.
      - Trời ơi sao cứ chết với địa ngục thế này?
      Vợ hắn tối sầm mặt và chợt nhớ tới có lần người ta gần như tâm sự với cô ta: “Chị thì chẳng có chuyện gì nhưng anh ấy…” và người ta buông lửng.
      - Anh không muốn sống cũng phải để cho con nó sống chứ?
      Vợ hắn vứt toẹt cuốn nhật ký xuống trả hắn.
      Sao lại là không? Hắn cũng muốn sống lắm chứ. Hắn đã có một đứa con trai và hắn nghĩ sẽ đem cả đời mình - cái cuộc đời rối beng hiện rất hư sinh hư nghĩa của hắn ra đắp điếm cho nó.
      Và có thể vì vậy hắn không còn thèm muốn những giấc mơ như xưa. Hắn muốn thoát ra muốn xua đuổi nhưng càng xua đuổi chúng càng quấn vào bám riết trước còn đêm sau cả ngày nữa.
      - Anh Hoàng anh Hoàng khổ quá lại mơ rồi!
      Hắn ú ớ một lúc rồi bàng hoàng tỉnh dậy.
      - Anh mơ gì mà kêu ghê thế?
      - Mơ người ta bắt mất con họ bảo không phải con mình mà em mua lậu ở Yên Bái mang về.
      Vợ hắn thường phải lay gọi và đập mạnh vào người hắn. Hắn vẫn cứ ú ớ và đôi khi lại kêu lên như lợn bị chọc tiết.
      Những chuyện ấy xảy ra luôn.
      Lần này người hắn nhẹ bỗng được nâng dẫn mãi lên cao càng lên cao càng quay tít mọi vật càng hỗn độn mịt mù trăng sao tím sẫm rồi hẫng một cái hắn bị tuột dù lao xuống.
      Lần khác hắn bị lăng qua lăng lại trên một dây thừng to treo giữa trần nhà hai gã to lớn không có mắt có mũi chỉ có mồm và răng đeo bao tay quyền anh đứa bao đen thằng bao đỏ đấm vào mặt hắn từ đầu này sang đầu khác máu mặt giỏ xuống nền nhà vạch một đường chấm chấm theo đường chao của chiếc thừng treo.
      Dần dần như một bệnh truyền nhiễm nó lây sang vợ hắn. Đến lượt hắn lay vợ:
      - Tự Tự kìa Tự!
      - Ôi - Như một xác chết đã được vuốt mắt vợ hắn từ từ mở mắt ra ngơ ngác:
      - Sao kêu khóc dữ thế?
      - Ôi sợ quá! - Vợ hắn quệt nước mắt xem thực hay hư rồi giơ tay lên xem nhìn thật kỹ trong ánh sáng lờ mờ của ngọn đèn dầu thắp đêm rồi lại sờ tay lên trán lên ngực đứa con nằm bên cạnh một lần nữa xác nhận thực hư và thảng thốt. - em mơ con ốm em khóc rồi lại thấy nước mắt toàn là máu… mơ thế có độc không anh?
      Rồi vợ hắn ôm đứa con khóc nức nở:
      - Ôi con chim xanh của mẹ… Liệu có độc không anh?
      - Độc à? Có lẽ là không đâu. Cơ thể chúng ta quá mẫn cảm rồi.
      Hắn không phải là thầy thuốc nhưng hắn biết đó là dấu hiệu của chứng psychasthénia tâm thần suy nhược như gã bác sĩ nội khoa bạn hắn có lần đã nói với hắn. Những loại thuốc an thần định tâm những loại barbiturique chỉ chữa triệu chứng không chữa nguyên nhân và thường gây nghiện. Thuốc chữa nguyên nhân người ta không bán không cho bào chế chẳng bao giờ bán.
      Tới tình trạng đó hắn không mong thoát những cơn mơ dữ nữa. Hắn có thể cả vợ hắn sẽ gắng chịu chịu cho quen dần miễn mong sao trong cơn mơ đừng có máu. Cứ đấm cứ ngã cứ cắn cứ vỡ vụn… hắn sẽ chịu hết. Vợ hắn cũng sẽ quen dần chỉ cần đừng có máu. Không có máu. Hắn chẳng phải đợi lâu. Đêm qua nó đã đến với hắn.
      Hắn mơ thấy dắt con đi chơi. Con đường rất quen thuộc nhưng hắn chịu không nhớ ra nơi nào. Một bên là vách núi cao có những chỗ hở hở đá sắc đất đỏ một bên là dòng sông lúc hiện ra những bờ lau rậm rạp lúc bị che khuất bởi rừng cây. Tiếng bìm bịp đều đều nhịp một chìm sâu trong những rặng lau như vừa sau một trận mưa rừng.
      - Bố ơi đi đâu thế này?
      - Về thăm cội nguồn.
      - Có hoa không?
      - Nhiều lắm hoa rừng
      Hắn trả lời nhưng chính hắn cũng không biết mình đang ở đâu. Rõ ràng là con đường đã đi qua nhưng ở đoạn nào từ bản Riềng đi Khánh Khê trên sông Kỳ Cùng hay ven sông Lô đi Bắc Quang rẽ  Hoàng Xu Phì hay qua chợ Hiên đi ven sông Chảy sang Phủ yền Bình yên Bái? Dù sao hắn cũng thấy thích thú biết đâu không gặp lại những cảnh vật năm xưa biết đâu lại không qua trạm đổi ngựa của người Mán ở cổng trời hắn đã ngủ nhờ năm ấy.
      - Bố ơi con mỏi lắm.
      - Cố đến cây đa to kia ngồi nghỉ.
      - Nhưng con mỏi lắm.
      - Để bố cõng mà hình như có tiếng trống.
      Tiếng trống bịt bùng rộn rã phía cây đa. Hắn xốc con đi về phía đó. Tiếng trống mỗi lúc một rõ. Nhưng nó ở đâu? Cây đa như thể cây đa nguyệt cầu. Bỗng từ tán lá rậm rì một người hai người rồi cả một bầy người nhảy xuống mang theo đủ trống và cờ phướn. Mặt họ ngây ngô nhưng đầy vẻ kiêu hãnh dáng dấp thánh thần. Họ kêu lên những tiếng kỳ lạ như tiếng vọng của cõi hồng hoang rồi lao vào nhảy múa. Bố con hắn kiếm một chỗ ngồi nghỉ dưới gốc cây. Thằng bé có vẻ thích thú. Những lá cờ phướn lượn lờ chao đi chao lại lấp lánh những chữ vàng bằng giấy trang kim. Những chữ giống như những chữ được ghi lại khắp trong các đền đài cung điện cổ lấp lánh trong mắt hắn. 
      - Chữ gì thế bố?
      - Bố không đọc nổi thứ chữ cổ xưa.
      Bỗng từ trong bọn họ có một cá thể tách ra nhìn bố con hắn. Một giống cái đúng rồi mặc dầu nó e lệ che giấu các bộ phận giới tính. Tuy vậy nó nhìn hắn như thể tống tình. Nó đã chán mùi vị thánh thần hay không thích mùi vị thánh thần bằng mùi vị người chăng? No ngửi thấy mùi người mùi đàn ông? Vẫn đôi mắt tống tình nó lẳng lơ đi về phía hắn. “Thôi được ta đang cô đơn ta đang buồn chán đang không hiểu nổi con người ta đang muốn trở về hồng hoang” Hắn nghĩ vậy và giơ tay lên vẫy nó bế nó ngồi lên đùi. Nó ngoan ngoãn ngồi vào lòng hắn kéo con hắn lại vít đầu bắt chấy cho thằng bé. Phần giống cái của nó chạm vào phần đàn ông của hắn hắn bỗng rạo rực muốn được cùng nó ân ái. Chợt nó giật mình ngước nhìn về đám linh nhân đồng loại. Hắn cũng ngơ ngác nhìn theo. Tiếng trống đập loạn xạ. Những tiếng hú man dại. Đám linh nhân dừng múa và tranh nhau bóc chữ trang kim trên cờ phướn bỏ vào mồm. Mắt họ long lanh rực lửa . Mắt hắn như bị quáng. Những chữ giấy trang kim bỗng phình to và đám linh nhân nuốt lấy nuốt để nuốt luôn cả cây cỏ bờ lau ở xung quanh vừa nuốt vừa vục đầu xuống sông để uống nước. Uống đến đâu sông cạn đến đấy bụng họ phình to dài ra và trở thành mất cân bằng so với tứ chi bé nhỏ. Một số phải bò. Trong khi ấy con linh nhân cái đã rời khỏi hắn kéo cả con hắn đi theo tới đống cờ phướn. Nó cũng xông vào xô đẩy bóc chữ nuốt vội và nhét lấy nhét để vào mồm thằng bé như sợ đồng loại của mình tranh hết. Nó dịu dàng hỏi con hắn:
      - Con thấy thế nào? Có ngon không?
      - Con thấy bầu trời đầy sao - Thằng bé vuốt ngực nhìn lên bầu trời.
      Nhưng bầu trời không có sao. Chỉ có nắng. Nắng rực lên và toé ra chói lọi từ mắt đám linh nhân lúc này đã biến thành những con khủng long vàng có cánh đang nặng nề cố bay về phía nguyệt cầu. Dòng sông gần cạn sôi lên tỏa hơi mù mịt. Rồi đáy sông trơ ra cát và cuội nóng bỏng. Cây cỏ bị nuốt hết khắp xung quanh là đá và cát những núi cát cồn cát triền miên. Nắng cuồn cuộn xoáy trên đầu thằng bé. Một chất như sữa đặc màu xám phùi ra và chảy xuống dọc hai bên má nó rồi chảy tiếp xuống cát cháy. Một mùi gây khét như mùi óc bò bị đốt. Hắn bỗng nhớ tới bọn buôn vịt buôn ngan ở gốc cây bên đoạn đường sắp vào thành phố. Chúng lôi bánh đúc ra nhồi nhồi lặc lẽ cả diều lẫn cổ những con vật đáng thương có con không thở được lưỡi thè ra mặt mày xám lại. Chúng kiếm lãi ở mỗi con một cái diều vài ba lạng. Nhưng ở đây con quỷ cái kia mày lãi được cái gì? Mày sẽ giết thằng bé mặc dầu nó không có mào. Hắn thét lên:
      - Dừng tay lại đồ quỷ cái.
      Nhưng dường như con linh nhân không nghe thấy hoặc cố tình không chịu nghe. Nó chen đẩy bốc chữ ấn vào mồm thằng bé.
      Trời ơi nó làm thằng bé chết mất hắn tức giận hắn tìm quanh xem có một cái gì đó. Phải đập chết con quỷ cái. Hắn cuống lên nắng cháy cát cuồn cuộn và sôi réo. Hắn cuống quýt chạy vòng quanh.
      - Chuyện gì thế?
      Bỗng đâu xuất hiện ra một cái mặt to phè mồ hôi sùi ra như những hạt mỡ bò. Mắt trợn trạo nhìn quanh hỏi trống không. Chợt y ghé tai nói nhỏ với người đứng cạnh. Lão này dương mục kỉnh trố trố nhìn hắn khiến hắn bối rối và lo lắng. “Quái mình lại phạm sai lầm gì nữa chăng?” Hắn nhìn lại quần áo của mình. Cúc quần cúc áo đều ngay ngắn. Vả lại có phải là ngày tưởng niệm gì đâu. Hắn hơi yên tâm và lại nghĩ về con hắn. Dẫu sao cũng phải đập vỡ sọ con quỷ cái. Nhưng cái mặt sùi mỡ lại lừ lừ tiến về phía hắn. Hắn hồi hộp. Y sẽ làm gì đây? Nhưng y chỉ nghiêm nghị nhắc hắn:
      - Anh Bá bảo anh nên cất dép đi.
      - Cất dép à? Được thôi.
      Hắn vừa trả lời vừa chạy vụt vào phòng mình cất dép. Nhưng phòng mình sao lại ở đây? Thôi mặc kệ chuyện đó. Phải đập vỡ đầu con quỷ cái đã. Cát vẫn chảy xiết nắng ù ù như cối xay giớ. Mùi óc bò khét lẹt. Hắn vồ lấy một tảng đá và lao về phía con linh nhân. 
      Nhưng hắn chưa kịp ra tay con linh nhân cái đã kêu thét và lập tức lão đeo mục kỉnh đã chặn trước mặt hắn trừng mắt tay chỉ con linh nhân đang nằm co rúm nhìn hắn vừa giận dữ vừa thê thảm. Hắn nhìn vào đôi mắt nó đôi mắt hơi lồi ra màu đồng thau dưới cái trán hẹp và giô đầy vẻ hờn trách và cái mồm chẩu ra như muốn chửi rủa hắn. Càng nhìn kỹ càng giống cái trán cái mồm con ngươi màu đồng thau của vợ hắn những lúc thị hờn trách. Chả lẽ đây là vợ hắn thật ư? Hắn hoang mang đến tột độ. Đúng lúc ấy lão đeo mục kỉnh ghé tai hắn nói thầm:
      - Anh thấy chưa phải tin tưởng chứ!
     
    Phải tin tưởng chứ. Câu nói bỗng rung lên bịt bùng xa xôi như tiếng trống phía cây đa làm hắn chóng mặt. Hắn bỗng nhớ ra thời kỳ hắn còn làm thơ lão đeo kính không biết có phải lão này không đã trịnh trọng bảo hắn:
       “Phải tin tưởng chứ” rồi hắn được đưa về lao động ở một nông trường mênh mông những cát đang quy hoạch trồng dứa và nuôi bò giống Cuba. Lão ta cũng cẩn thận nhắc hắn bỏ dép để sau ba năm có thể trở thành một nhà thơ chân đất bám rễ vào công nông. Nghĩ đến ba năm đó hắn như người muốn quỵ.

      Lão đeo kính nhếch mép cười. Mấy chiếc răng vàng trong mồm lão như còn mắc dính những giấy trang kim chưa nuốt hết.
      Hắn hoảng hốt nhìn xung quanh cầu cứu. Nhưng xung quanh chỉ còn vài con khủng long lặc lè mệt mỏi vì chưa có cánh và mặt chúng mới lạnh làm sao. Chúng hướng cả về phía lão. Chết tôi rồi. Chẳng ai nói đỡ cho mình một câu chẳng ai thanh minh cho mình cả. Bầu trời đầy sao ư? Nhưng trong mắt hắn cát chảy và nước sôi sùng sục.
      - Con ơi!
      Hắn kêu lên như muốn cầu cứu chính con mình. Nhưng con hắn đâu hay lũ khủng long nuốt chửng cả nó rồi? Hắn càng cuống và cảm thấy khát dữ dội. Nước trong người hắn như bị dóc kiệt. Cơn khát vật vã. Cơn khát sa mạc. Nắng bùng cháy trong mồm và cát rào rào trong cổ hắn.
      - Nước!!! Sông đâu rồi? - Hắn gào lên - Rừng đâu bóng râm đâu bìm bịp đâu cho tôi đi tìm con tôi trong những rặng lau!
      Những rặng lau cũng đâu rồi? Đâu rồi tất cả đâu rồi?
      Hắn gào lên chợt nghe thấy tiếng mình phải một lúc lâu mới tỉnh dậy được. Người hắn đầm đìa. Mặc dầu đêm sương lạnh buốt hắn tung chăn tỉnh dậy thay ngay bộ quần áo ướt đẫm mồ hôi.
      - Làm gì mà tung chăn ra lạnh thế?
      - Dậy thay quần áo.
      - Sao đang đêm lại thay quần áo anh điên à?
      - Mơ rồi đái dầm đốn quá.
      Vừa lẩm bẩm trả lời vợ trả lời cả chính mình hắn vừa xỏ nốt một chân vào ống quần. Cũng may mà lần này vợ hắn lại ngủ say không nghe thấy hắn kêu gào. Dĩ nhiên hắn không thể kể cho vợ nghe giấc mơ mặc dù giấc mơ không có máu. Chỉ sột soạt những giấy trang kim đám linh nhân những con khủng long vàng và không có máu.
      Nhưng cát chảy nắng sôi đáy sông nóng bỏng rừng biến mất bờ lau không còn bìm bịp câm lặng và phảng phất mùi óc bò khét.

    1964    

    Nguyễn Bản

     

    More...

    Truyện ngắn của Nguyễn Hiệp

    By DƯƠNG HƯỚNG

    Lời giới thiệu:
    Nhân khai trương blog Dương Hướng giới thiệu với bạn bè truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Hiệp vừa viết xong còn nóng hổi cảm xúc.
    Căm phẫn bất lực trước sự đào bới tận gốc rễ sự phá phách tan tành cái đẹp...
    Văn đằm sâu sắc tinh tế.
    Bi kịch của thời đại
    Nỗi đau đớn xót xa khôn cùng.
    Sự bất lực truyền kiếp của kẻ yếu.
    Nỗi ám ảnh dai dẳng rợn người.  


    GAI SEN
     
                                                       Truyện ngắn của Nguyễn Hiệp
      
      Phựp! Ràaooo… Tiếng cuốc phập vào đất bắt đầu cho buổi sáng lạ lùng của tôi. Vườn-ao-chuồng… Tôi vừa cuốc vừa lẩm nhẩm tính toán kế hoạch “cuốc-phá-sửa” của mình. Nghĩ tới cảnh ném bó rau lang xuống hồ trong thoáng chốc chỉ nổi lên lều phều nắm xơ xanh xanh và những con cá trắm trùi trũi đen quẫy nước đòi thức ăn mà lòng tôi dịu lại. Nhưng vẫn có điều gì đó vướng víu.

    Thường buổi sáng tôi dành hơn mười phút ngồi im lặng thực ra là làm sạch tinh thần của mình bằng cách rà soát lại hết những vướng víu một cái vấp chân vào chậu kiểng một quyển sách vướng vào tay rơi xuống một chiếc ghế đặt chưa đúng chỗ đều được sửa sang lại một thoáng nuối tiếc một chút dằn vặt hay bực bội đều được xóa tan ngay bằng các lí lẽ. Tôi gắn bó với căn nhà này khu đất này như là tâm hồn tôi gắn bó với thể xác vậy. Bây giờ các loại giá trị đều lấy vật chất tiền bạc làm thước đo tôi là con người bình thường đang tồn tại thì làm sao thoát ra được điều đó. Tôi phải cải tạo hồ sen thành hồ nuôi cá trắm cỏ kinh tế hơn. Quanh bờ tôi sẽ trồng rau lang làm thức ăn cho heo cho cá. Phân heo bón cho rau. Tiền bán heo mua thức ăn cho cá. Tiền bán cá mua thức ăn cho heo. Vòng tròn khép kín hoàn hảo. Vườn-ao-chuồng muôn năm! Nghĩ được như vậy tự hô hào cho dự án “cuốc-phá-sửa” của mình tôi thấy thanh thản hân hoan thật sự trước khi vác cuốc ra phá bỏ bàu sen.

    Phựp! Ràaooo… Tiếng cuốc vượt đất lại phựp rào phựp rào liên tục. Nỗi bất an vướng víu càng rõ dần khi tôi nhào hẳn xuống sình cuốc bỏ hết các gốc sen tôi chống cuốc đứng nhìn trân trân những cọng ngó sen trắng nõn đứt vụn phơi mình trong đám sình tôi vừa cuốc hất lên bờ. Tự dưng tôi thấy khó thở có điều gì đó nặng trĩu nơi con tim. Tôi nghĩ đến nàng. Tôi dừng cuốc bước lên bờ. Tôi ngã vật người ra bãi cỏ nến những bông cỏ nến như những cây hồng lạp thắp lửa quanh tôi nghĩ tới ngày sau cuối của nàng với hàng hồng lạp thật tôi lại rùng mình.

    … - Đàn bà con gái trán cao như lửa bốc lên. Tui đoán: chưa đến tuần cặp kê đã thành quả phụ. Ông thầy già nói đến đó liền duỗi chân ra bước xuống bộ vạt tre.

    - Thưa thầy!... Tôi ấp úng định hỏi thêm nhưng lại thôi tôi cầm lại tấm hình của vợ mình đút vào túi áo. “Cám ơn thầy!” Thì thào lời cám ơn nhẹ như cơn gió rồi ra khỏi khu vườn ấy tôi bước đi bước chân tôi cũng nhè nhẹ xiêu xiêu có lẽ khi quá buồn bã người và gió lại quyện vào nhau thành một. Cả năm qua tôi sống trong tham vọng chữ nghĩa (lấy cõi sống hy vọng chiến thắng được cái vô minh bên trong làm linh hồn thứ hai của mình). Tình yêu thương tôi dành cho nàng thật khó có thứ gì chống lại được khó có thứ gì làm quên lãng được. Lúc nào trong túi áo ngực tôi cũng có tấm ảnh chân dung của nàng lúc nào trước mắt tôi hình ảnh giọng nói của nàng cũng chập chờn.

    Gió ở xứ này vốn mặn chát nhám xàm thốc quặn tâm trạng chớ không như gió nơi khác. Gió xót. Gió roi. Gió cát. Gió mặn… Những cái tên gọi gió quen thuộc ấy đã nhập vào trong máu thịt của tôi từ lúc nào ấy vậy mà cơn gió sáng nay lại không như mọi khi chúng se lạnh mà nhẹ bỗng tâm hồn tràn ngập một nỗi buồn lạ lùng nửa xao xuyến nửa không gọi thành tên cứ mang mang chơi vơi con người. “Khổ rồi!” Tôi thốt thành lời chẳng biết mình than vãn cho người ấy khổ đau hay mình đau khổ hay cho cơn gió heo may vừa đến. Mỗi dịp gió Tết se se thế này nàng luôn bưng bộ bình trà đến ngồi gần bên tôi và vón đôi bàn tay thon thả pha trà thay nước đôi bàn tay của nàng là hiện thân của sự dịu dàng tinh tế vốn ít ỏi trên trần gian. Tôi bần thần quay vào lại khu vườn định bụng sẽ hỏi lại câu đoán ấy có mang ý nghĩa nào khác không. Bộ vạt tre chẳng thấy đâu. Mới vừa đây nó mồn một dưới bóng râm cây dương già này mà tôi hốt hoảng nhìn quanh quất chẳng có gì là dấu vết của cuộc nói chuyện giữa tôi và ông thầy già trên bộ vạt tre với bình trà nước quánh xanh. Trước mắt tôi khu vườn cũng lần hồi mờ ảo rồi biến mất chỉ trơ mênh mang mảng trắng nhức mắt xung quanh. Tôi rờ tay lên túi áo ngực tấm ảnh chân dung của nàng vẫn nằm ở đó như tự thuở nào.

    Trong thoáng chốc ảo giác tôi đã vẽ ra nhân vật ông thầy già trong óc não mình chăng hay những ký ức đau đớn đã dìm tôi vào những cơn mê sảng giữa ban ngày như vậy? Hay một thời kỳ êm ả và đẹp đẽ của Bàu Trắng đã qua lấy mất thực tại của tôi? Tôi vốc nắm cát thả từ từ cho bay đi tôi chẳng biết để làm gì nhưng không thể dừng lại được hết vốc cát này đến vốc cát khác bay bay tan biến vào bãi cát mẹ mênh mông.

    Chuyện tình của vợ mình! Tôi lại đi kể lại chuyện tình bi thương của vợ mình với những chiếc gai sen li ti ấy sao? Nhân loại từ ngàn xưa đến nay có ai làm cái công việc kì quặc như tôi không? Tôi ngồi bần thần nơi khu vườn không có thật do đầu óc hoang tưởng của tôi tưởng tượng ra tôi thấy nàng đang thong dong lướt những bước chân nhẹ nhàng trên đám lá sen bùng nhùng tít tắp kia sương sớm vẫn còn phủ một lớp lụa ảo mờ lên vạn vật tôi không còn biết vợ tôi đã chết hay là tôi đang chết nữa duy cái “chết thế kỷ” của vợ tôi là mồn một trước mắt tôi ngày cũng như đêm nhắm mắt lại tôi càng thấy nó rõ hơn rất nhiều. Ngày liệm xác nàng tôi còn thấy rõ ràng trên da thịt nàng những vết xước của gai sen mà…

    Cái bàu sen rực rỡ xanh um như một ốc đảo ảo giác giữa mênh mang cát phải qua lớp lớp đụn cát trắng phau để đến được nơi những con sóng biển ngoài kia đang vật vã triền miên một khoảng cách vừa đủ cho con người không còn nghe được tiếng sóng vỗ; không có nghĩa nơi đây yên tĩnh có một loại sóng khác nhẹ bỗng âm âm là sóng lá sen từng đợt từng đợt xào xạc khua động. Nàng là chủ nhân thừa kế sở hữu ở thế hệ thứ tư cái bàu sen được người đời gọi bằng cái tên rất gợi ám: Bàu Trắng. Ông cố nội của nàng là ông Hương Pho đã cho người đào cái bàu rộng ra theo hình thù uốn lượn như hiện nay. Nàng say mê những đóa sen trắng sen hồng say mê cái tên Sen cái tiếng Sen gợi đến sự trinh khiết gợi đến gót chân Phật gợi đến sự thiêng liêng cái tên Sen cái tiếng Sen ấy bảo trợ củng cố giữ gìn cho niềm tin của nàng vào cuộc đời vốn quá nhiều sình lầy ao tù quá nhiều xác chết động vật trước khi chết còn tưởng mình là người quá nhiều xác chết của những con người vật và vật vưỡng lở lói rã mục tận tâm can lại cứ tưởng mình còn sống. Cũng như nàng những xác chết “huyền thoại” ấy bị cuốn hút vào cơn mê đắm thân xác nhục dục và mỗi khi hoan lạc họ đều bám víu vào màu sen sáng trưng chập chờn ảo ảnh trong cơn nắng lửa họ nghĩ đến cái tên Sen cái tiếng Sen ấy để cơn hoan lạc thêm phần ý nghĩa hơn để cái chết của mình được vỗ về yên ủi. Nàng tự hào mình là chủ nhân của bạt ngàn lá sen bông sen chủ nhân vùng hương thơm nức mũi bên trên và thúi đến ói mửa lộn ruột bên dưới. Tôi phát hiện ra cái lạc thú quấn riết vào gai sen trên vũng bùn ấy của vợ mình khi có lần nàng và tôi cùng ngồi trên chiếc thuyền lá chống lướt đi nhặt gạo sen về ướp trà. Một cơn gió làm cho mái tóc dài của nàng bay tung về phía tôi mùi hương của mái tóc vợ làm cho tôi đột ngột ham muốn phần bụng dưới của tôi nóng ran. Tới chỗ bùn cạn tôi nhảy tùm xuống bàu lấy cớ đẩy thuyền nhưng là để giải nhiệt cho dịu lại cơn ham muốn bất ngờ. Dù vậy tôi cũng không kiềm chế được mình tôi cứ thế lần theo mạn chiếc thuyền lá mà đến bên nàng tay tôi mân mê lướt các ngón tay trên cặp đùi thon chắc của nàng. Nàng cúi xuống chúng tôi hôn nhau mê đắm. Tôi kéo nàng nằm vắt mình nửa trên tấm ván thuyền nửa dưới thòng xuống mép bùn… Nàng quýnh quíu cởi hết áo quần tôi ôm nàng ra khỏi thuyền đẩy nàng tuôn trong đám gai sen hai cánh tay nõn nà của nàng quấn vào từng cụm thân sen vừa quơ vội nhưng khi máu nàng loang trên mặt bùn thì tôi hốt hoảng dừng lại. “Gai sen mà… không sao đâu…” Tiếng nàng thều thào trong cơn cuồng mê làm tôi yên lòng. Đến khi cơ thể trần truồng của nàng bị gai sen cào tươm đỏ máu loang thẫm mặt bùn thì nàng bị kích động tột cùng nàng vật người tôi xuống dưới bùn người nàng cũng bê bết bùn cứ thế mà ưỡn người cuộn sóng từng đợt từng đợt rên rỉ la hét vang trời… Bàu Trắng mênh mông hoang vắng đến mức dù nàng có la lớn hơn trăm lần như thế thì âm vang cũng chỉ lọt thỏm trong từng đợt sóng xào xạc của tiếng lá sen khua động như là tiếng ri ri của ngàn vạn côn trùng nhỏ bé khi nghe từ bờ bên kia… Sau cái lần ấy tôi không còn làm chủ mình được nữa tiếng rên rỉ của nàng đều đặn vang lên trong xào xạc lá sen từng ngày từng ngày một cơ thể tôi teo tóp xanh mét mất dần sinh lực mất dần nguyên khí. Và tôi càng mù tịt chưa biết gì về cái gọi là cơn nghiện của những người bị gai sen cào vào da thịt sau này tôi mới biết nghiện gai sen còn mê muội chìm đắm mất hết lí trí hơn cả nghiện ma túy. Triệu chứng của cơn bệnh nghiện này còn biểu hiện ở cái cách nói liệu nói theo của người bệnh. Tôi gọi “Em!” nàng nhại “Em” tôi gọi “Thôi em!” nàng lặp đi lặp lại “Thôi em! Thôi em!”… nhưng cơ thể nàng vẫn không thôi co giật. Đôi lần nàng làm tôi hốt hoảng thật sự.

    Tôi mê nàng. Nàng mê cảm giác xót ngứa giần giật say say của gai sen. Bông sen là tinh túy của trời đất tụ lại thưởng thức trà sen ngồi ngắm sen nở giữa mênh mông gió làm cho tâm hồn con người thanh cao bao nhiêu thì cơn nghiện gai sen càng dìm cho con người ngập sâu trong dục vọng bấy nhiêu.

    Nàng đã từng là người đàn bà hoàn hảo trong suy nghĩ của tôi. Những buổi sáng sớm từ hình ảnh nàng dậy sớm chống thuyền lướt trên hồ sen lấy nước sương đọng lại về pha trà cái cách nàng thuần thục lấy gạo trên từng búp sen cách ngồi tẩn mẩn tỉ mỉ ướp trà sàng hạt gạo đến ánh mắt chớp chớp của nàng khi nhẹ tay rót ly trà ra cốc làm cho tim tôi thắt nghẹn lại xúc động xao xuyến.

    Tôi thấy mình cũng khó giải thích thật tôi luôn ham muốn nàng tột độ đó là điều có thật nhưng tôi có còn yêu nàng như ngày xưa hay không tôi lại rất mơ hồ chẳng biết nghĩ sao nói sao cho phải. Trong những lần “thương” nàng trên bàu sen có lúc tôi dừng lại đầu óc quay cuồng nhức buốt vì những hình ảnh nàng đã từng “ăn nằm” cuồng loạn một mình trong đám gai sen. Lúc tưởng chừng tôi có quyền nghĩ đến việc giữ rịt lấy nàng cho riêng mình thì tôi lại không thể tôi lại bất lực tôi lại chạy trốn nàng trong kinh kệ sớm khuya trong lớp lớp ý nghĩa ngôn từ mờ mịt của sách vở.

    Tôi mê si nàng đến mức bị chứng mất ngủ. Nàng lại sớm hôm chăm chút những cốc trà sen thơm nức cho tôi trị chứng mất ngủ ấy. Lòng vòng. Hai chúng tôi là một thế gian lòng vòng luẩn quẩn như thế.

    Nàng đi lấy nước do sương đọng trên lá sen. Nàng đi lấy gạo sen bỏ vào chiếc hộp kín cho khỏi bay hương. Nàng đi mua những siêu đất mới về pha trà với lý do “sen hành mộc trà hành mộc…” Tôi hoàn toàn chẳng nghi ngờ gì chỉ toàn tâm toàn ý nghiền ngẫm những triết đạo thi đạo kinh dịch lạc thư và kinh kệ trong nhà.

    Cho đến một ngày tự dưng tôi linh tính có điều gì đó bất ổn khi chợt nhớ ánh mắt bối rối của nàng lúc rót trà sáng. Tôi vượt nhanh qua bãi cát trước nhà vượt qua đám cỏ nến mọc dày đặt quanh hồ lội bùn tiến vào chỗ những lá sen khua động. Tôi sửng sốt nhìn thấy nàng khỏa thân hoàn toàn nàng đang lăn lộn một mình trong bùn lầy nàng trượt mình vào đám gai sen thân hình đỏ tươm trầy trụa nàng đang rên rỉ trong khi cặp mắt nhắm nghiền lại tôi đến sát một bên nàng cũng không hề hay biết. “Em tắm kiểu gì vậy?” Nàng giật mình bối rối đến bên chiếc thuyền khoác áo quần vào rồi lẳng lặng chống thuyền. Tôi phụ nàng một tay nghĩ mông lung trách cứ nàng trách cứ mình đủ điều nhưng không nói được thành lời…

     Tôi kiệt sức nằm trong nhà nhưng vẫn biết ngoài vùng “hương thơm” ấy nàng đang oặn người trong đám gai sen một mình. Nhiều lúc tôi dõi theo chân nàng ra bàu sen nhìn con thuyền nhỏ nhắn của nàng lướt vào đám lá sen bông sen trong đâu đó tim óc mình tôi lại thấy nhói lên một cơn đau buốt nhưng lại nghĩ: “Đến ngày nào đó nàng sẽ không còn biết bờ nữa chẳng còn bờ kia chẳng còn bờ nay nàng chắc chắn sẽ xa lìa tham dâm”.  Tôi đã quen dần những ngày “suối chảy ầm ào” đã qua những ngày đầu chết điếng con tim đã qua tâm hồn tôi giờ đây tưởng chừng như nước biển lặng im tôi tưởng đã bỏ qua được cho nàng vô điều kiện nhưng nói là không chút vướng bận nào trong đầu là nói dối thật ra giờ đây trong tôi chỉ còn những câu chữ sách vở kinh kệ là có ý nghĩa tôi ẩn mình thật sâu bất động trong nó. Có thể nỗi nhục già nua nỗi nhục về sự bất lực buộc tôi nghĩ đến sự tự thoả mãn thân xác của nàng là chính đáng nàng có quyền làm như vậy cũng có thể do nàng giỏi đả thông tư tưởng cho tôi.

    Khi mới nằm kiệt có lần tôi đã phản ứng dữ dội khi nàng từ bàu sen vào thân thể bết nhèm bùn máu tôi biết nàng vừa ăn nằm với đám gai sen. Tôi la mắng nàng nguyền rủa nàng bằng những lời nặng nề thậm tệ. Nàng không nói gì lẳng lặng cởi hết quần áo ném xoạch xuống nền nhà. “Đây tôi đây anh có làm gì được thì làm đi!” Nói xong nàng nằm ngửa xuống giữa nền nhà nhắm mắt chờ đợi cơ thể nàng hồng rực. Tôi biết loại lửa gì đang đốt cháy cơ thể nàng nhưng không thể làm gì được. Tôi ngẩn người bàng hoàng như vừa bị dội một gáo nước lạnh vào mặt người mất điện hoàn toàn bất động hoàn toàn mắt trợn ngược nhìn trừng trừng lên trần nhà. Lúc lâu sau nàng đứng dậy mặc bộ quần áo bết bùn máu ấy vào rồi khe khẽ nói: “Thấy chưa?! Anh đâu có làm được gì. Bày đặt ghen tuông chi vậy”. Từ ngày đó mọi chuyện giữa tôi và nàng xem như miễn bàn xét về cả tình và lý đều xem như sự nguội lạnh của tôi và ngọn lửa khát khao nàng trao cho gai sen là hiển nhiên là đúng đạo làm người thậm chí tôi còn nghĩ nàng đã hy sinh quá nhiều vì tôi tôi là người có lỗi. Tôi lại uống trà và chìm trong mối liên hệ giữa giác định và thiền giữa khát khao được soi sáng nội tâm chạy trốn sự bất lực thể xác bằng cách tìm đến phương pháp khử diệt dục vọng với mơ mơ hồ hồ chữ nghĩa.

    Chiều hôm ấy không thấy nàng vào nhà tự dưng tôi lại bồn chồn đứng ngồi không yên. Phép luyện tâm của tôi thật sự thất bại đã đẩy bước chân tôi ra khỏi nhà lê đến tận bàu sen.

    Tôi không còn tin ở mắt của mình nữa trước mắt tôi là cơ thể trần truồng của người đàn ông to lớn lông lá hoang dã và cơ thể mỏng mảnh nõn nà của nàng. Những lá sen bị dạt ra bẹp dúm xung quanh. Người đàn ông dừng lại từ từ quay đầu nhìn tôi. Đó là người tình trước đây đã ruồng bỏ nàng mặt hắn trơ cứng hắn là một xác chết vừa sống lại. Nửa lưng của hắn nhung nhúc giòi bọ những con giòi to bằng nửa ngón tay đùn từ cơ thể hắn ra rớt đầy trên người nàng. Nàng nhắm nghiền mắt liếm láp rên la trong cơn cuồng mê của xác thịt những con giòi vừa làm nàng sợ hãi vừa góp phần đánh thức các vùng cảm giác chắc là từng phân vuông da thịt cơ thể lấm bùn của nàng đang mạnh mẽ dâng lên những cơn sóng đê mê ngây ngất hai cánh tay nàng quấn vào thân sen gai sen những chiếc gai nhỏ móc cong sẫm màu. Rồi như không có tôi đứng đó hắn tiếp tục đưa lưỡi dọc cơ thể nàng hắn đưa một phần cơ thể của hắn vào trong nàng cả giòi bọ cũng theo vào. Nàng vẫn nhắm nghiền đôi mắt cơ thể càng lúc càng ngập lún trong bùn đen.

    Sức chịu đựng của tôi đã bị thử thách quá mức tôi vượt qua những đám cỏ nến tôi tuôn vào những bông cỏ nến đá văng những “cây hồng lạp” ánh sáng vỡ ra dưới chân tôi. Không! Không! Không!... Tôi vừa gào đến khản giọng vừa nhào xuống đám lá sen bẹp dúm. Chân nàng ngập trong bùn bụng ngực nàng ngập trong bùn đầu nàng chìm dần xuống bùn mắt nàng vẫn nhắm nghiền. Bùn sình bám vào chân làm cho từng bước chân tôi trở nên khó nhọc quá sức tôi vẫn bươn lên nhưng chậm dần chậm dần. Trước khi ngất đi tôi còn thấy mấy bọt khí vừa nổi lên vỡ ra bục bục trước mắt mình những bọt khí mang sắc cầu vồng thoáng chốc tiêu ma.

    Tôi biết nàng đã chìm ở đó nhưng vẫn điên cuồng vốc cả hai tay lút ngập mặt chạm cả vào mặt sình hôi thúi tôi điên cuồng nhổ hết các gốc sen xung quanh tôi ôm cả bùn sình ném hết lên bờ. Từ lúc tỉnh lại tôi cũng chỉ mãi làm cái công việc kì quặc đó mà không hiểu vì sao mình làm thế những củ sen đen nhẻm chất thành đống càng lúc càng lù lù phình to trên bờ những cọng ngó sen trắng hếu xác chết trong chạng vạng chiều. Khi trời đêm sập xuống hoàn toàn bóng tối đặc quánh lại tôi mới ôm được xác nàng lên bờ. Sau một hồi khóc lóc thê thiết tôi chợt nhận ra lòng mình đang trống rỗng đến kì lạ. Một cơn gió khô rang vừa thốc vào đêm mang theo chút ướt át còn lại…

    Sau này mỗi lần nhớ nàng nhớ đến những kỷ niệm yêu thương với nàng tôi thường lấy hình nàng ngồi ngắm mê đắm ngơ ngẩn cả buổi với những tưởng tượng rồi bàng hoàng lẩm bẩm một mình: “Bàu Trắng ơi Bàu Trắng!” Tôi lại đưa cuốc thật cao cuốc thật mạnh trút hết nỗi nhục nhã giận dữ của mình vào vũng sình mênh mang trước mặt tôi cũng chỉ biết làm sạch tinh thần bằng cách đó mà thôi. Phựp.


    Dưới chân núi Tà Cú 12/ 2007       
    N.H.                     
                                                           

    More...