Có phải "Đây thôn Vĩ Dạ."..

Có phải " Đây thôn Vĩ Dạ " là thơ... thác loạn In E-mail
Người viết: Trần Mạnh Hảo   
26/08/2008


 TRẦN MẠNH HẢO


 CÓ PHẢI CẢNH TRONG " ĐÂY THÔN VĨ DẠ" LÀ "NHỮNG HÌNH HÀI MÉO MÓ DỊ DẠNG GIỐNG NHƯ BÓNG DÁNG CỦA YÊU MA" NÊN " TIẾNG NÓI TRỮ TÌNH THÀNH PHÁT NGÔN THÁC LOẠN" ? Nếu với một cái "tít" như trên bạn đọc chắc chắn sẽ kinh ngạc hỏi rằng ai đã nói về bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" của Hàn Mặc Tử với những lời lẽ khiếp đảm thế ? Hay là "tay Hảo " này bịa ra cái kết luận rùng rợn kia làm đầu đề để câu khách rẻ tiền rồi sau lại đổ cho ma nói? Thưa nói đâu dẫn chứng đó có ngay tên tác giả của những kết luận trên chính là PGS TS Lã Nguyên viết nơi phần kết trong bài ông bình giảng mẫu bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" dùng cho học sinh trung học cả  nước "học tủ" để thi tốt nghiệp và thi đại học cao đẳng in trong cuốn "GIẢNG VĂN CHỌN LỌC VĂN HỌC VIỆT NAM- VĂN HỌC HIỆN ĐẠI"( NXB Đại học Quốc gia Hà Nội-2001) như sau : "Thể hiện khát vọng về sự đồng điệu Hàn Mặc Tử đã tạo ra một công trình nghệ thuật đạt tới sự hài hòa lý tưởng : "Đây thôn Vĩ Dạ" là tốc ký tâm trạng nhưng nhạc thơ chưa vượt trước lời thơ phá vỡ logic ngữ nghĩa thông thường khiến tiếng nói trữ tình thành chuỗi phát ngôn thác loạn. Vì thế lời thơ trong sáng tao nhã mà vẫn giản dị. Lấy tình làm điểm tựa để vẽ cảnh nhưng tình chưa tràn ra ngoài cảnh biến cảnh thành những hình hài méo mó dị dạng giống như bóng dáng của yêu ma. Được tắm đẫm trong cảm hứng lãng mạn cuộc sống trần thế trong "Đây thôn Vĩ Dạ" hiện lên lung linh kỳ diệu mà không kỳ bí. Kinh nghiệm của cái tôi cá nhân Hàn Mặc Tử chưa vượt vòng kiểm soát của kinh nghiệm cá nhân ta. Với "Đây thôn Vĩ Dạ" Hàn Mặc Tử vẫn đứng vững giữa mảnh đất của thi ca lãng mạn chưa bước qua địa hạt của chủ nghĩa tượng trưng siêu thực. Cho nên diễn đạt theo cách của Hoài Thanh bài thơ" Vẫn là một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại. Nó ra đời giữa những vui buồn của loài người và nó sẽ kết bạn với loài người cho đến ngày tận thế ".

 Ai trong chúng ta cũng đều biết và hầu như thuộc bài thơ vỏn vẹn có 12 câu " Đây thôn Vĩ Dạ" của Hàn Mặc Tử. Đây là bài thơ tức cảnh sinh tình mượn tình ngụ cảnh trong sáng nhất của tác giả. Bài thơ mượn nỗi vui buồn hư ảo mê đắm của cảnh vật thiên nhiên tuyệt vời Vĩ Dạ mà kín đáo bày tỏ mối tình chớm nở với "em áo trắng" xa xăm nào đó trong rạo rực đợi chờ e ấp bâng khuâng... Bài thơ phảng phất vẻ đẹp của một tâm hồn đang yêu vốn từng cô đơn bơ vơ; nay thấy thấp thoáng trong sương khói bóng hình thôn nữ áo trắng như nắng như trăng mờ ảo quyến rũ khách liêu trai gợi mối tình nhân ảnh. Dường như Hàn Mặc Tử đã thông qua Vĩ Dạ mượn cả đất trời mê hoặc kia mà tỏ tình cùng nàng tiên nữ áo trắng khói sương?

 Dù có lặn sâu xuống chín tầng câu chữ bài thơ cũng tuyệt nhiên không tìm ra "tiếng nói trữ tình"này một chút gì cái gọi là " chuỗi phát ngôn thác loạn" như ông Lã Nguyên viết trên. Tìm trong bài thơ đến mòn con mắt cũng chẳng thấy một chút cảnh nào là " những hình hài méo mó dị dạng giống như bóng dáng của yêu ma" như Lã Nguyên đã thấy. Hay là khi giảng bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" Lã Nguyên đã bị thơ hay cướp mất hồn mê đi mà bình nhầm sang một số bài thơ có mầm mống điên loạn khác của Hàn Mặc Tử chăng ? Theo mạch văn bình giảng "Đây thôn Vĩ Dạ" mà xét ta thấy Lã Nguyên chưa mê mà vẫn tỉnh vẫn bám sát từng câu thơ trong bài như khi ông viết sau :"...Khổ đầu "Đây thôn Vĩ Dạ" đã thổi ra khí lạnh của chút thoáng buồn man mác bâng khuâng. Đến khổ thơ thứ hai chút thoáng bâng khuâng man mác buồn ấy hóa thành đám mây đen phủ kín tâm hồn thi nhân: "Gió theo lối gió mây đường mây/ Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay". Đó là một thế giới rất khác. Có gió mây nhưng mây gió phân lìa chia ly. Có sông nước nhưng "dòng nước buồn thiu". Có hoa lá nhưng chỉ là hoa bắp một thứ hoa màu xám vô duyên nhè nhẹ lay động..."

 Lã Nguyên mới bình 6 câu thơ đầu của bài thơ đã thấy ông chưa hiểu nổi ngay nghĩa đen của chúng. Ta hãy cùng đọc khổ thơ đầu :" Sao anh không về chơi thôn Vĩ / Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên / Vườn ai mướt quá xanh như ngọc / Lá trúc che ngang mặt chữ điền". Nghĩa đen nổi trên mặt phẳng từng câu thơ trên là một niềm náo nức "về chơi" một ban mai tươi vui "nắng mới lên" màu sắc cỏ cây nồng nàn hoan hỉ " xanh như ngọc" một nét đẹp chân quê giản mộc" Lá trúc che ngang mặt chữ điền"...Khổ thơ cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng toàn là niềm vui háo hức non tươi phản chiếu một tâm hồn mở toang cửa cô đơn ra đón nhận cuộc đời. Thế mà lạ thay Lã Nguyên dựa vào ngữ nghĩa nào để nhìn thấy luồng "khí lạnh thổi ra chút thoáng buồn man mác bâng khuâng" từ khổ thơ đầu này ? Có lẽ do Lã Nguyên đã "thổi khí lạnh" của sự không hiểu được thơ nơi mình ra làm ám khí ám hết vòm trời hồn thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" nên mới thấy "đám mây đen phủ kín tâm hồn thi nhân " trong hai câu :" Gió theo lối gió mây đường mây / Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay"? Cả hai câu thơ đều ở thể "động"; nghĩa đen của chúng : tả trời quang mây gió nhẹ hoặc gió đã đang đi theo lối riêng từ lúc nào và mây cũng khuất vào chốn riêng tư đâu đó; nghĩa bóng có thể hiểu rằng "anh" với "em" vốn từ hai chân trời khác nhau đến đây rồi lại đi mỗi người mỗi ngả; nhưng mây gió dẫu chia lìa đấy mà cũng xum họp đấy tan hợp hợp tan chỉ ngay trong phút chốc mà thôi ? Câu thơ tiếp theo tả cảnh "dòng nước buồn thiu" làm "phông" cho cảnh " hoa bắp lay"dìu dịu đẹp; một vẻ tươi xinh man mác vời vợi chẳng hề có chút âm u tà khí của nỗi buồn bã nào cả. Nếu cứ để nguyên hai câu thơ đầu của khổ thơ thứ hai trên ra mà cảm nhận tuyệt nhiên cũng không thể kết luận một cách khiêng cưỡng áp đặt như Lã Nguyên rằng có "đám mây đen phủ kín tâm hồn thi nhân" được. Huống hồ muốn hiểu được nghĩa đen và nghĩa bóng của chúng phải đặt chúng trong sự toàn vẹn của cả bốn câu thơ. Hãy đọc hai câu thơ cuối của khổ thứ hai :" Thuyền ai đậu bến sông trăng đó / Có chở trăng về kịp tối nay" ta thấy cả một đất trời lộng lẫy dát bằng vàng trăng thì ít mà dát bằng niềm vui niềm hi vọng thì nhiều. Hai câu thơ vui như tâm trạng của kẻ vớ được vàng rộn rã tưng bừng cả một thế giới chớm yêu chớm nỗi hồi hộp mong chờ sao lại viết hết sức sai lạc như Lã Nguyên là những câu thơ trên đã "phủ kín đám mây đen lên tâm hồn nhà thơ" khi trong tâm hồn đó vừa mở ra cả một thế giới đầy nắng đầy trăng đầy sương khói xa mờ ? Trong đoạn bình giảng trên tác giả còn mắc một lỗi khác là dám nói xấu hoa bắp ( tức hoa ngô) rằng mày là thứ hoa "màu xám vô duyên". Thưa hoa ngô đích thị màu trắng chứ không phải xám như ông Lã Nguyên viết. Có thể vì ông dứt khoát muốn bức thuỷ mặc đầy nắng đầy trăng của Hàn Mặc Tử phải ám khí phải tối đen mà "xám hóa" cho hoa ngô đang dâng một trời phấn trắng chăng ? Thứ nữa " hoa bắp lay" rất sống động rất gợi cảm hoàn toàn không "vô duyên" như Lã Nguyên viết; nhất là cảnh "hoa bắp lay" ngay giữa hồn bức tranh sông nước nhà thơ vừa họa nên khiến nó càng thêm gợi cảm duyên dáng. Những phần tiếp theo của "Đây thôn Vĩ Dạ" vẫn được ông Lã Nguyên "giải mã" bằng cách "thổi ra khí lạnh" của mình làm tối sầm cả ánh nắng ánh trăng làm đen ngòm cả "áo trắng" của "em thơ" Hàn Mặc Tử.

 Như trên đã trích dẫn và phân tích trong trường hợp "Đây thôn Vĩ Dạ" Lã Nguyên không chỉ thiếu tài thẩm thơ mà ông còn mắc nhiều lỗi về phương pháp luận.
 Lã Nguyên đã lấy nội hàm của chủ nghĩa lãng mạn ( romantisme) để giải mã "Đây thôn Vĩ Dạ" là một sai lầm về điểm nhìn như ông viết :"Với đây thôn Vĩ Dạ" Hàn Mặc Tử vẫn đứng giữa mảnh đất của thi ca lãng mạn chưa bước qua địa hạt của chủ nghĩa tượng trưng siêu thực ". Phong trào Thơ Mới 1932-1945 đã từng được gọi một cách chưa chính xác là "thơ lãng mạn". Dù trào lưu thơ này từng bị ảnh hưởng thơ lãng mạn thơ tượng trưng Pháp nhưng tựu trung vẫn lấy chất trữ tình truyền thống làm nền tảng kể cả bài thơ chúng ta đang nhắc đến. Vì thơ là món ông Lã Nguyên "xa lạ" nên mới "dũng cảm" viết như sau dù ông đã cẩn thận đặt thêm chút nghi vấn vào kết luận của mình  bằng chữ "hình như " :"Đây thôn Vĩ Dạ" hình như không có chút bóng dáng nào của Đường thi Tống thi". Thưa rằng nhịp thơ bảy chữ bài thơ này vẫn còn thấp thoáng nhịp đi của thất ngôn Đường thi còn ảnh hưởng thi pháp ước lệ thơ Đường Tống như :"xanh như ngọc" "lá trúc" "nhân ảnh" cảnh "thuyền trăng" "sông trăng" đều đã từng được trôi qua thơ Đỗ Mục Trương Kế Nguyễn Trãi rồi ghé đậu vào đêm trăng Vĩ Dạ của Hàn...

 Lã Nguyên còn một nhầm lẫn về điểm nhìn khác : việc ông so sánh giữa "thơ cổ điển" và "thơ lãng mạn" xét theo mô hình của chủ nghĩa lãng mạn phương Tây áp dụng vào giải mã thơ Trung Quốc và thơ Việt Nam đều sai lạc. Ví dụ như khi ông viết :" Ý là điểm tựa là hạt nhân cấu trúc của thơ cổ điển"..." Thơ lãng mạn không dựa vào ý mà lấy tình làm điểm tựa cấu trúc". Chúng tôi xin mượn lời Bạch Cư Dị và Lê Quý Đôn để bác lại điều ông Lã Nguyên "phán " về thơ cổ điển trên. Bạch tiên sinh viết :" Thơ tình là gốc ý là ngọn lời là hoa nghĩa là quả". Lê tiên sinh viết :" Ta thường làm thơ có ba điều chính :một là tình hai là cảnh ba là sự".

 Chính vì dùng hệ quy chiếu của chủ nghĩa lãng mạn thậm chí còn dùng cả thước đo của chủ nghĩa tượng trưng siêu thực áp đặt lên "Đây thôn Vĩ Dạ" theo phép "cắt chân cho vừa giày" càng giải mã Lã Nguyên càng sai lạc với tinh thần bài thơ. Đến nỗi thay vì làm sáng bừng hồn thơ Hàn Mặc Tử ông lại chỉ bôi đen lên bức tranh đầy nắng đầy trăng đầy khói sương này toàn bộ nhọ nồi và muội đèn của sự ngộ nhận. Ví như khi ông Nguyên viết :" Bởi vì thoắt cái một cõi nhân gian ăm ắp sự sống mướt mát sắc màu rưng rưng một vẻ e ấp trinh nguyên đã nhường chỗ cho vũ trụ lạc điệu hiu hắt vô sắc vô hương. Mọi chi tiết phong cảnh hóa thành nét vẽ của một tâm trạng u tối cô đơn"..." của một cõi lòng nguội lạnh giá băng". Cùng là ánh nắng thực ánh trăng thực được tả trong thơ lúc ông Nguyên bảo "Nắng là ánh sáng của cõi thực"   lúc lại bảo " Trăng là ánh sáng của cõi mộng" là sao ?  Ngay cả chuyện đương nhiên của "Đây thôn Vĩ Dạ" là toàn bộ nghĩa đen và cả một phần nghĩa bóng của bài thơ cũng bị ông Lã Nguyên phủ nhận sạch trơn thì còn gì là Hàn Mặc Tử nữa hả trời như chính ông viết :"Nhiều người giảng bình khổ thơ của Hàn Mặc Tử đã lầm tưởng đây là bức tranh tả thực vẻ đẹp thơ mộng của Vĩ Dạ vùng nông thôn ngoại thành xứ Huế "? Muốn đi sâu tìm hiểu bài thơ ở những chiều kích khác không gian khác ngoài mặt phẳng thơ việc trước tiên là cần phải thừa nhận rằng đây chính là bức thủy mặc bằng thơ Hàn Mặc Tử vẽ thôn Vĩ Dạ. Giật bức tranh của chính nhà thơ ném xuống sông cho chìm nghỉm rồi hè nhau lặn xuống mò đó phải chăng là cách "giải mã" thơ của ông Lã Nguyên ?

 "Đây thôn Vĩ Dạ" là bức tranh đẹp bằng thơ của Hàn Mặc Tử. Bài thơ - tiếng nói trữ tình đã bị ông Lã Nguyên bôi bẩn bằng cách vu cho nó là "chuỗi phát ngôn thác loạn". Cảnh vật tươi đẹp rưng rưng vui buồn mơ mộng của bài thơ đã bị ông Lã Nguyên cho là "những hình hài méo mó dị dạng giống như bóng dáng của yêu ma". Tâm hồn yêu đời mở toang cửa ra đón tình yêu của nhà thơ cũng bị ông Lã Nguyên dùng "bệnh mù thơ" của mình "thổi ra khí lạnh"mà "phủ đám mây đen " tang tóc lên toàn bộ thế giới "Đây thôn Vĩ Dạ". Chao ôi ông Lã Nguyên lấy ở đâu ra nhiều bóng tối thế để phủ lên cả vòm trời Vĩ Dạ đang tươi non mối tình đầu giữa trời và đất giữa ánh nắng và ánh trăng giữa sương khói và nhân ảnh giữa áo trắng hữu hạn và cái nhìn vô cùng giữa mây và gió giữa "anh" và "em" ? Than ôi giá mà Hàn Mặc Tử sống lại đọc được bài bình thơ "mẫu mực" này chắc chắn ông sẽ sợ hãi mà co cẳng chạy thẳng vào hư vô; để thoát khỏi nguy cơ bị ông Lã Nguyên ném nhà thơ vào một "vũ trụ lạc điệu hiu hắt vô sắc vô hương" đầy bóng tối và yêu ma thác loạn mà ông vừa dựng lên để giết chết "Đây thôn Vĩ Dạ" !

    Thành phố Hồ Chí Minh ngày 3-6-2003     
 

 
< Trước   Tiếp >

hoa

bài này có những điểm hay nhưng lại hok lột tả được hết ý của bài thơ.

hoa

bài này có những điểm hay nhưng lại hok lột tả được hết ý của bài thơ.

Tr.

Sao có thể thể bình bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" theo như lời của Trần Mạnh Hảo? Bài thơ này được trích từ tập Thơ Điên (Đau thương) của Hàn Mặc Tử. Bản thân đầu đề của tập thơ đã cho thấy sự siêu thực của một người tự nhận cho thơ mình một chữ "điên". Hoài Thanh viết: thơ HMT là "Một nguồn thơ rào rạt và lạ lùng..." và "Vườn thơ Hàn rộng không bờ không bến càng đi xa càng ớn lạnh...". Không thể chỉ phân tích ĐTVD ở góc độ "cả vòm trời Vĩ Dạ đang tươi non mối tình đầu giữa trời và đất giữa ánh nắng và ánh trăng giữa sương khói và nhân ảnh giữa áo trắng hữu hạn và cái nhìn vô cùng giữa mây và gió giữa "anh" và "em"" được. Mới đọc lướt qua ta ngỡ như bài thơ chỉ đơn thuần tả cảnh thôn Vĩ-một thắng cảnh bên bờ Hương gian. Nhưng đọc đi đọc lại đem bài thơ ra so sánh trong sự tương giao với những bài thơ khác của Hàn Mặc Tử không thể có chuyện nổi lên giữa đám thơ điên cuồng lại có một ý thơ "tươi đẹp" "mơ mộng" như ông Trần Mạnh Hảo đã nói. Hơn nữa HMT sáng tác bài thơ này khi bệnh phong của ông đã bước sang giai đoạn cuối khi chính ông cũng nhận thức được rằng cuộc đời đang dần lìa khỏi tay mình và nỗi ám ảnh không gian "ở đây" - "ngoài kia" ngày càng sâu sắc thì ĐTVD nhất định không phải đơn giản chỉ mang ý vị của một bài thơ tả cảnh.
Thử đọc kĩ lại bài thơ ta sẽ thấy ý thơ đi từ thực đến ảo và câu thơ nào cũng mang đượm nét buồn nỗi khổ tâm của thi sĩ. "Sao anh không về chơi thôn Vĩ?" câu thơ tưởng như chỉ là một cách hỏi thông thường một lời trách móc dễ thương của cô gái áo trắng. Nhưng không. Đó còn là lời tâm tình buồn của HMT. Nuối tiếc vì cuộc sống quá ngắn ngủi HMT tự hỏi mình: "Liệu có còn được về thôn Vĩ nữa không?". Những câu sau của khổ 1 cùng đã vẽ nên một bức tranh thôn Vĩ đẹp tươi mơn mởn nhưng đằng sau vẫn có nét buồn của sự tiếc nuối và tình yêu mãnh liệt với cuộc đời.
Sang đến khổ 2 nét ảo của bài thơ đã hiện ra rõ nét hơn. Nỗi buồn nỗi đau đớn bắt đầu trào dâng lấn át niềm vui của khổ 1. "Gió theo lối gió mây đường mây" - câu thơ mang đậm nét buồn chia ly. Có khi nào mây gió lại không "gió thổi chiều nào mây bay chiều ấy"? Không! Nhưng trong thơ HMT thì có gió-mây đã bay đi hai ngả không hẹn ngày sum họp. Sang câu thứ hai: "Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay". Dòng sông không đơn thuần chỉ còn là một dòng nước có sóng gợn. Nhìn cảnh mây-gió chia ly dòng sông "buồn thiu" một nỗi buồn không sao tả nổi. Động từ "lay" diễn tả trạng thái "động mà tĩnh" của hoa bắp. Sự "lay" nhẹ đến vô thường ấy có thể được ví với dòng nước trong thơ Nguyễn Khuyến:"sóng nước theo làn hơi gợn tí" khi tả sự vận động mà như đứng yên của làn nước mùa thu. Thực cảnh đã buồn hư cảnh càng buồn hơn. "Thuyền ai đậu bến sông trăng đó/Có chở trăng về kịp tối nay?". Trăng là h.a xuất hiện với tần số rất cao trong thơ HMT. Trong bài thơ này trăng hiền dịu tỏa đi khắp nơi. Câu hỏi cuối khổ 2 rất hay. Con thuyền trăng ấy có chở trăng về kịp tối nay trên dòng sông trăng dát bạc? Một hình ảnh vô cùng đẹp với câu hỏi đầy lãng mạn nhưng ai cũng hiểu con thuyền kia sao có thể chở trăng về kịp để cập bến thời gian?... HMT nhận thức được sự thật ấy nên đã cố tình đưa nỗi buồn thành câu hỏi nhưng càng hỏi càng trả lời thì lại càng buồn hơn...
Khổ thơ cuối cùng đậm chất hư ảo. "khách đường xa" thật quá đỗi xa lạ thật quá ư hão huyền. Nó xa lạ hão huyền đến mức HMT phải "mơ" mới thấy được. Trong giấc mơ ấy "em" hiện lên với tà áo trắng tinh với tâm hồn thuần khiết. Nhưng "em" là vô thực:"Áo em trắng quá nhìn không ra"... "Em" chỉ là "khách đường xa" chỉ xuất hiện trong nỗi ảo tưởng mà thôi. "Ở đây" HMT đang sống những tháng ngày đầy đau khổ. Còn "em" ở "ngoài kia" với những gió những nắng những tươi vui. "Ở đây" "sương khói" đã làm mờ "nhân ảnh" mất rồi còn "ai biết tình ai có đậm đà?" ...

Bài thơ kết thúc bằng một câu hỏi cuối cùng cũng chính là lời đáp cho câu hỏi cầu bài thơ: "Sao anh không về chơi thôn Vĩ?". Chính Trần Mạnh Hảo đã viết: "nhịp thơ bảy chữ bài thơ này vẫn còn thấp thoáng nhịp đi của thất ngôn Đường thi còn ảnh hưởng thi pháp ước lệ thơ Đường Tống" thì cũng phải nói thêm rằng cái hay nhất của thơ Đường là mỗi câu thơ đều mang một vẻ đẹp tiềm ẩn "ý tại ngôn ngoại". Bởi thế mà không thể chỉ nhận xét "Đây thôn Vĩ Dạ" của HMT qua cái nhìn lướt để rồi nói "Khổ thơ cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng toàn là niềm vui háo hức non tươi phản chiếu một tâm hồn mở toang cửa cô đơn ra đón nhận cuộc đời" hay "đọc hai câu thơ cuối của khổ thứ hai :" Thuyền ai đậu bến sông trăng đó / Có chở trăng về kịp tối nay" ta thấy cả một đất trời lộng lẫy dát bằng vàng trăng thì ít mà dát bằng niềm vui niềm hi vọng thì nhiều. Hai câu thơ vui như tâm trạng của kẻ vớ được vàng rộn rã tưng bừng cả một thế giới chớm yêu chớm nỗi hồi hộp mong chờ" như Trần Mạnh Hảo được!

Vốn liếng văn học của Tr. không nhiều có gì thất lễ xin mọi người chỉ dạy.

Duonghuong

buồn....

Thế đấy!buồn lắm thay Lãng Du...

Lãng du

Tội nghiệp học trò thời nay lại phải học những điều như vậy. Các em không dược tự do cảm nhận nữa mà cứ phải theo khuôn phép. Được một cái khuôn lành mạnh thì chẳng nói làm gì theo cái khuôn này thì than ôi...
Thời LD là học trò LD đã từng ngây người ra vì hình ảnh hoa bắp lay long lanh ánh sáng trong đêm trăng Vĩ dạ hay trong ánh nắng mới lên bên dòng nước dịu hiền...