Khóa luận đạt 9 điểm của Phạm Giang

Để phục vụ bạn đọc và một số sinh viên và học viên cao học làm luận văn có nhu cầu tìm hiểu về ba tác phẩm tiểu thuyết "Bến không chồng"- "Trần gian đời người"-"Dưới chín tầng trời" Dương Hướng tôi xin trích luận văn đạt 9 điểm của Pham Giang để các bạn tham khảo.

(Trích)...1.2.2. Những thành công và đóng góp của nhà văn Dương Hướng trong nền tiểu thuyết đương đại.
        
  Như là một người có duyên nợ với văn chương ở tuổi ngũ tuần Dương Hướng mới bắt đầu sự nghiệp văn chương của mình nhưng chỉ sau hai năm và qua hai tác phẩm (Gót son; Bến không chồng) cái tên Dương Hướng đã trở nên quen thuộc đối với độc giả Việt Nam. Đặc biệt cuốn tiểu thuyết Bến không chồng xuất bản năm 1990 đã đánh dấu bước thành công đầu tiên của nhà văn và đồng thời cũng ghi danh nhà văn trên văn đàn văn học Việt Nam. Đến nay sau hơn hai mươi năm trong nghề nhà văn Dương Hướng đã xuất bản được sáu tác phẩm trong đó có hai tập truyện ngắn là: Gót Son (1989) Người đàn bà trên bãi tắm (1995) Và ba truyện vừa có tên là Đàn chim két bay ngang trời Quãng đời còn lại và Người mắc bệnh tâm thần và ba cuốn tiểu thuyết: Bến không chồng (1990) Trần gian đời người(1991) và Dưới chín tầng trời (2007). Tuy thành công ở cả hai thể loại nhưng có lẽ người đọc biết đến ông nhiều hơn là ở thể loại tiểu thuyết.
           Trong ba cuốn tiểu thuyết của nhà văn thì Bến không chồng và Dưới chín tầng trời được coi là hai tác phẩm thành công hơn cả. Khi hai tác phẩm ra đời đã phần nào làm cho văn đàn trở nên sôi động náo nhiệt. Bến không chồng xuất bản năm 1990 thì năm sau (1991) nó được trao Giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và đến nay tác phẩm vẫn còn nguyên giá trị. Tác phẩm đã được tái bản 11 lần và có lẽ nó vẫn sẽ được tái bản nhiều lần nữa. Không những thế nó còn được dựng thành phim và được dịch ra tiếng Ý tiếng Pháp. Là tác phẩm có độ dầy 300 trang Bến không chồng lấy nhân vật trung tâm là những người phụ nữ ở nông thôn trong bối cảnh nông thôn Việt Nam (mà cụ thể là cái làng Đông) vừa kết thúc cuộc chiến tranh chống Pháp và đang tiếp tục cuộc kháng chiến chống Mỹ. Chiến tranh dù nó đã đi qua nhưng những dấu ấn thương tích mà nó để lại cho con người còn tiếp tục kéo dài và có thể nói người phải gánh chịu nhiều nhất là những người phụ nữ. Đọc tác phẩm có lẽ người đọc sẽ không thể quên được những người phụ nữ như Hạnh Thắm Dâu Cúc Nhài... với ước mơ giản dị là được làm vợ làm mẹ được sống yêu ổn dưới mái nhà của mình mà sao thật khó khăn. Họ đều là những người phụ nữ "không chồng" theo đúng như cái tên của tác phẩm. Với tiểu thuyết Bến không chồng nhà văn Dương Hướng đã đem đến cho bạn đọc một cái nhìn mới một cảm xúc mới về lịch sử - một lịch sử quá nghiệt ngã đối với dân tộc thông qua những số phận bi kịch. Tác phẩm tuy không "có cái sắc sảo riết róng của Mảnh đất lắm người nhiều ma; không có cái chiều sâu thâm trầm đến ám ảnh của Nỗi buồn chiến tranh..." (16) nhưng với sức nặng trong đề tài cùng phương thức thể hiện truyền thống với "cốt truyện mộc mạc và chân phương trong cách dẫn dắt và ngôn từ - một ngôn từ không lấp lánh tài hoa mà giản dị tự nhiên" (16) đã khẳng định được giá trị của nó trong lòng độc giả.
          Sau Bến không chồng mười lăm năm sau cuốn tiểu thuyết Dưới chín tầng trời lại một lần nữa làm cho chúng ta bất ngờ. Tác phẩm đã lọt vào vòng chung khảo cuộc thi tiểu thuyết lần thứ ba do Hội nhà văn Việt Nam tổ chức. Trước Dưới chín tầng trời nhà văn đã cho xuất bản hai cuốn tiểu thuyết khác (Bóng đêm mặt trời Trần gian đời người) nhưng nó đều bị Bến không chồng che khuất. Trong hai tác phẩm đó thì Trần gian đời người như là một lời nhắn gửi của tác giả về cuốn tiểu thuyết mới của mình - Dưới chín tầng trời. Dưới chín tầng trời là một tác phẩm đã được định hướng khá sớm và mang nhiều tâm huyết của nhà văn. Và qua tiểu thuyết này một lần nữa nhà văn khẳng định quan niệm sáng tác của mình: "Nhiệm vụ cao cả của nhà văn là tìm cái chân cái thiện cái mỹ và chống cái ác. Có viết về cái ác cũng để cho cái thiện trường tồn...". Ban đầu tác phẩm được nhà văn đặt tên là Bóng quỷ sau lại đổi là Cửu trùng đài rồi cuối cùng khi mang đi xuất bản nhà văn lấy cái tên nghe nhẹ nhàng hơn dản dị hơn nhưng lại bao quát được tư tưởng chủ đề của tác phẩm - Dưới chín tầng trời. Khi được hỏi về tác phẩm nhà văn tâm sự "Dưới chín tầng trời chính là nới chúng ta đang sống là hạnh phúc khổ đau là niềm vui nỗi buồn. Con người bị dồn đẩy đến cùng đường sẽ có sức mạnh bung phá ghê gớm. Nó giống như chiếc lò xo càng nén mạnh càng bật căng... Dưới chín tầng trời con người ở tầng thấp nhất nơi ấy có mọi niềm vui nỗi buồn hạnh phúc khổ đau của tôi của tất cả chúng ta. Trời trong xanh ấm áp chúng ta hưởng trời nổi cơn thịnh nộ gieo sóng gió dông bão chúng ta chịu"(22). Đọc Dưới chín tầng trời người đọc sẽ cảm nhận được những bước đi của lịch sử qua từng số phận của mỗi người dân làng Đoài: Gia đình Hoàng Kỳ tỉ phú Đào Kinh Đào Vương Đào Thanh Măng mẹ con bà Cháo... và những nhân vật có liên quan đến làng Đoài như: Trần Tăng gia đình thương gia Đức Cường Thu Cúc... Mặc dù trung thành với cái khung của tiểu thuyết truyền thống (trong thời kỳ mà các nhà tiểu hiện nay đang tìm mọi cách để cách tân kỹ thuật viết) nhưng Dưới chín tầng trời của nhà văn Dương Hướng vẫn vượt lên nhiều tiểu thuyết khác và khẳng định vị trí của mình về cả quy mô lẫn tầm vóc phản ánh.
          Bên cạnh những thành công trong tiểu thuyết nhà văn Dương Hướng còn có những thành công nhất định ở thể loại truyện ngắn. Cũng như nhiều nhà văn khác khi bắt đầu viết văn Dương Hướng chọn thể loại truyện ngắn để thử sức với tác phẩm đầu tay là tập truyện ngắn Gót son xuất bản năm 1989. Tuy không gặt hái được nhiều thành công như tiểu thuyết nhưng là bước đệm cho con đường sáng tác của nhà văn. Sau tập truyện ngắn này năm 1995 nhà văn Dương Hướng xuất bản tiếp tập truyện ngắn Người đàn bà trên bãi tắm. Ở thể loại này nhà văn Dương Hướng cũng giành được những thành quả đáng kể: năm 1990 truyện ngắn Đêm trăng được trao Giải thưởng Văn nghệ quân đội; năm 1997 ông nhận được Giải thưởng Hạ Long cho truyện ngắn Người đàn bà trên bãi tắm. Để có được những thành công trên cũng như sự yêu mến của độc giả đó là cả quá trình rèn luyện phấn đấu không ngừng nghỉ của nhà văn Dương Hướng.
         Có thể thấy bước vào nghiệp văn khi đã 40 tuổi với những bước tiến tuy "chậm mà chắc" Dương Hướng đã gặt hái được không ít thành công và có nhiều đóng góp đối với nền văn học đương đại Việt Nam đặc biệt là với thể loại tiểu thuyết. Dương Hướng không làm người đọc ngạc nhiên và hứng thú với những cách tân mới lạ trong tác phẩm của mình giống như nhiều nhà văn cùng thời. Ông vẫn trung thành với truyền thống. Mặc dù vậy tác phẩm của ông vẫn cuốn hút bạn đọc đến lạ kỳ. Tuy viết theo mô hình cốt truyện truyện truyền thống nhưng tiểu thuyết của Dương Hướng đã nhận được nhiều sự ưu ái từ phía bạn đọc có lẽ là bởi tài dẫn truyện khéo léo mà rất tự nhiên vẫn thật như đời thường vậy. Không chỉ thế người đọc luôn tìm thấy sự gần gũi thân thuộc qua lời ăn tiếng nói của các nhân vật trong truyện. Cái tính bỗ bã nói năng tâng tâng chẳng cần ý tứ lại đặc sệt nhà quê của tác giả đã tạo nên sự "quyến rũ" cho mỗi tác phẩm của ông đối với độc giả. Đọc Bến không chồng chắc hẳn chúng ta sẽ không quên chi tiết đầu tiên với hình ảnh nhân vật Nguyễn Vạn ngực đầy huân chương tấp tểnh về làng đứng trên con đê lộng gió vén quần "đái cái đã". Cái mộc mạc chân chất cái chất "quê một cục"này phải chăng là chất liệu chính tạo nên phong cách riêng cho một nhà văn luôn "Dương Hướng".
          Nói về nghiệp văn chương của mình Dương Hướng từng tâm sự: "Khi viết tôi không quan tâm đến chuyện mới hay cũ đối tượng độc giả già hay trẻ. Quan trọng là cái tâm của người cầm bút nói được tiếng nói của nhân dân nỗi lòng của người cần lao"(22). Đúng như vậy. Những đề tài Dương Hướng đề cập tới trong tác phẩm của ông không phải là những đề tài mới. Tuy nhiên với sự sắc sảo và nhạy bén cộng với sự dũng cảm và mạnh dạn Dương Hướng là một trong số ít những nhà văn lúc đó dám đi sâu vào nỗi "thâm cung bi sử". Ông đã dám len lỏi vào những vấn đề tế nhị nhạy cảm của xã hội thời hậu chiến và công cuộc đổi mới đất nước mà nhiều người đã phải giả vờ giả tảng lờ đi để đem đến cho độc giả cái nhìn đầy đủ hơn hoàn thiện hơn đúng đắn hơn về thực tế xã hội lúc bấy giờ. Sự ra đời của tiểu thuyết Bến không chồng ở thời điểm đầu những năm 90 của thế Kỷ XX quả đã "góp được một cái nhìn mới mẻ về bức tranh đất nước trong thời chiến và hậu chiến kéo dài những mấy chục năm; với gánh nặng không phải là chỉ chiến tranh về phía khách quan; mà còn là những lầm lạc của con người trong thời kỳ lịch sử có quá nhiều biến động và thử thách mà tất cả những ai "do lịch sử để lại" không đủ tầm và sức để vượt qua nó"(16). Đó còn là những thử thách của việc phát động quần chúng Cải cách ruộng đất phong trào Hợp tác xã là những nề nếp tâm lý ý thức vẫn còn nguyên sự hủ lậu chưa thể thay đổi ngay trong một xã hội nông nghiệp lạc hậu với tâm lý làng xã lưu cữu ngàn đời. Tất cả gom lại làm nên những nguyên cớ cho mọi tai họa mà con người phải nhẫn nhịn chịu đựng trong một thời gian dài như một áp đặt của định mệnh. Chỉ đến giai đoạn chuyển giao giữa hai thập niên 80 và 90 của thế kỷ XX con người mới chợt bừng tỉnh và nhận ra mình vừa là nạn nhân vừa là tội nhân của lịch sử. Người đọc không khỏi lặng đi suy nghĩ khi đọc những câu văn: "Con cắn rơm con cắn cỏ con lạy ông... Ông hãy cứu lấy thằng Tốn. Nếu không các ông nông dân con sẽ giết chết nó. Nó không có tội gì... Con xin hứa sẽ giáo dục thằng Tốn sau này nó tở thành kẻ nghèo khó..."(23). Một sự thật thật khủng khiếp! Đoạn văn này là lời của mụ Hơn cầu xin Vạn trong tiểu thuyết Bến không chồng có lẽ đã làm đảo lộn tất cả. Ta những tưởng bị một cú đập mạnh vào đầu và cú đập đó đã làm ta tỉnh ra. Như vậy Dương Hướng đã mở đường cho văn học đổi mới bứt phá. Nhà văn đã làm cho tiểu thuyết đương đại rẽ ngang đi chệch khỏi con đường mòn của văn học Việt Nam. Nó chấm dứt thời kỳ người cầm bút chỉ biết minh họa và thuyết minh. Hơn thế nữa nó gắn nối hai thời kỳ chống Pháp và chống Mĩ gắn nối hai thử thách của chiến tranh và thử thách của thời bình gắn nối số phận cá nhân gia đình dòng họ với đất nước. Qua những tác phẩm của ông đặc biệt là về tiểu thuyết người đọc khám phá thêm nhiều góc cạnh khác nhau của xã hội thời chiến cũng như thời hậu chiến qua cái nhìn đầy biện chứng.
          Trong những sáng tác của nhà văn Dương Hướng người đọc dễ nhận ra không có nhiều sự đổi mới trong sáng tạo nghệ thuật. Vẫn trung thành với lối viết truyền thống đầy mộc mạc nhưng tác phẩm của nhà văn Dương Hướng vẫn tạo nên được một lực hút rất lớn đối với độc giả. Minh chứng cho điều này là sự thành công của hai vang dội của hai cuốn tiểu thuyết Bến không chồng và Dưới chín tầng trời. Với cốt truyện cũng như những thi pháp xây dựng nhân vật và tính cách theo mô hình truyền thống hai tác phẩm này đã làm cho cả văn đàn nghiêng ngả. Hay nói cách khác dưới ngòi bút tài năng của Dương Hướng những thi pháp truyền thống vươn lên bứt phá ngoại mục trước những thi pháp hiện đại đang được ưu ái trong tiểu thuyết đương đại. Bên cạnh đó là một người cần mẫn miệt mài lao động không ngừng trên cánh đồng văn chương Dương Hướng không bảo thủ chỉ biết rập khuân theo những thi pháp truyền thống mà còn góp nhặt cho mình những tinh hoa trong thi pháp hiện đại để giúp ngòi bút của mình phản ánh được sâu hơn rộng hơn những vấn đề của thời đại.
          Trong một bài phỏng vấn nhà văn Dương Hướng tâm sự: "Hiện thực cuộc sống đầy sôi động ở mọi mặt. Nhưng điều quan trọng của nhà văn là phải trăn trở để viết thế nào chứ không phải viết cái gì. Quan trọng hơn lại vẫn là tác phẩm của anh nói được điều gì." (22). Phải chăng vì lẽ đó mà những đóng góp của nhà văn Dương Hướng cho nền văn học nước nhà không phải là sự cách tân trong cách viết tác phẩm của ông không phải là những "của lạ" mà là ở sự mộc mạc nguyên sơ cổ điển trong phong cách là ở cách nhìn đầy mới mẻ về xã hội về cuộc sống.



CHƯƠNG 2: NHÂN VẬT TRONG TIỂU THUYẾT DƯỚI CHÍN TẦNG TRỜI CỦA NHÀ VĂN DƯƠNG HƯỚNG.

Lý luận chung về nhân vật.
Trung tâm của mọi tác phẩm văn học là nhân vật. Nhân vật "là nơi duy nhất tập trung hết thảy giải quyết hết thảy trong một sáng tác"( 14 645). Chính vì thế khi bắt đầu sáng tác điều đầu tiên mà nhà văn nghĩ đến là nhân vật. Qua nhân vật nhà văn giãi bày những tư tưởng những suy nghĩ tình cảm hay cách tiếp nhận cũng như cách giải quyết các vấn đề trong cuộc sống. Đồng thời thông qua nhân vật nhà văn cũng thể nghiệm những tìm tòi sáng tạo nghệ thuật của mình. Có thể nói khi nhân vật hình thành thì coi như tác phẩm của nhà văn đã được định hình. Nhân vật là nơi thâu tóm mọi ý đồ của tác giả. Và nếu nhân vật càng chân thật và sống động thì sức sống của tác phẩm càng mạnh mẽ và bền lâu với thời gian. Đối với độc giả thì nhân vật không chỉ là phương tiện kết nối với nhà văn mà còn là người dẫn dắt họ vào một thế giới riêng trong ở những thời kỳ lịch sử nhất định. Văn học chỉ có thể là "tấm gương phản chiếu đời sống" thông qua phương tiện chủ yếu của nó chính là nhân vật.
         Trong văn học nhân vật được hiểu rất rộng. Trong cuốn 150 thuật ngữ văn học nhà nghiên cứu phê bình văn học Lại Nguyên Ân cho rằng: nhân vật là "hình tượng nghệ thuật về con người... có khi là các con vật các loài cây các sinh thể hoang đường được người ta gắn cho những đặc điểm giống với con người ... Nhân vật văn học là một đơn vị nghệ thuật nó mang tính ước lệ không bị đồng nhất với con người thực"( 6 249-250). Như vậy nhân vật không phải chỉ là con người mà còn là các loài cây là con vật sự vật mang tính cách tình cảm hình dáng của con người. Ví dụ như nhân vật Dế Mèn Bọ Ngựa cô nhà Trò con mèo lười trong truyện thiếu nhi của nhà văn Tô Hoài là chúa sơn lâm trong thơ Thế Lữ là những bông hoa hồng là vầng trăng trong thơ Bác là trăng trong thơ Hàn Mặc Tử.... Không những thế trong văn học phương tây còn xuất hiện loại nhân vật hóa thân. Ban đầu họ vẫn là con người nhưng sau do một lý do nào đó họ hóa thành con vật. Tuy nhiên chỉ hình dáng bề ngoài của họ là đội lốt con vật còn tâm tư tình cảm của họ vẫn là của con người. Loại nhân vật này ta thường thấy trong tác phẩm của Kapfka. Chính sự phong phú đa dạng về nhân vật làm cho văn học phản ánh hiện thực cuộc sống được cả bề rộng lẫn chiều sâu; đồng thời lại phù hợp với từng đối tượng độc giả. Và cũng do sự đa dạng về loại hình nhân vật nên khi phân loại nhân vật người ta thường phải dựa vào những tiêu chí khác nhau. Nếu xét đến vai trò của nhân vật trong tác phẩm ta có nhân vật chính nhân vật phụ và nhân vật trung tâm. Xét về hệ tư tưởng của nhà văn hoặc quan hệ đối với lý tưởng của nhà văn thì ta có nhân vật chính diện (còn gọi là nhân vật tích cực) nhân vật phản diện (còn gọi là nhân vật tiêu cực). Tuy nhiên khi phân loại nhân vật theo tiêu chí này ta cần phải lưu ý đến quan niệm đạo đức của từng thời đại cũng như từng nền văn hóa khác nhau. Mặt khác trong văn học hiện nay ta thường  thấy hiện tượng giao thoa giữa hai loại hình nhân vật này. Có nghĩa là trong một nhân vật có cả những mặt tiêu cực và tích cực cho nên ta không nên phân loại một cách máy móc và áp đặt. Bên cạnh đó còn có loại nhân vật tư tưởng. Những nhân vật này thường được nhà văn sáng tạo nên để minh họa cho tư tưởng của nhà văn hoặc của thời đại: Độ trong Đôi mắt (Nam Cao) Giave Giăng Van Giăng trong Những người khốn khổ (V. Huygô). Ngoài ra trong văn học cổ đại ta thường thấy sự xuất hiện loại hình nhân vật chức năng. Những nhân vật này chỉ thực hiện một số những chức năng nhất định như ban phát hành phúc: ông bụt cô tiên bà tiên.. hay chức năng cản trở hãm hại người tốt: phù thủy. Tuy nhiên sự phân loại trên cũng chỉ mang tính chất tương đối bởi khi văn học càng đào sâu áp sát đời sống thì sự xuất hiện của những con người mới trong văn học là điều không thể tránh khỏi.
         Ta cũng cần phân biệt giữa nhân vật với tính cách và tính cách điển hình. Trong văn học nhân vật được coi là khái niệm chung "mới là hình ảnh con người" tính cách là "hình tượng về con người" tính cách điển hình chính là "điển hình về con người"( 4 128). Tính cách có vai trò rất quan trọng trong văn học. Tính cách chính là "điểm trung tâm của mối quan hệ giữa nội dung và hình thức"(Hêghen). Về nội dung tính cách làm nhiệm vụ cụ thể hóa chủ đề tư tưởng của tác phẩm. Về hình thức có thể nói tính cách là yếu tố tạo nên những xung đột cũng như sắp xếp các sự kiện trong cốt truyện của tác phẩm. Hay nói như Đôtsxtôiepxki: "Đối với nhà văn toàn bộ vấn đề là ở tính cách".
Tiểu thuyết là một thể loại tự sự nên nhân vật cũng được coi là một trong những yếu tố cốt tử. Có thể nói "nhân vật trong tiểu thuyết là hạt nhân của sự sáng tạo nghệ thuật là "trọng điểm" để nhân vật lý giải mọi vấn đề của đời sống xã hội"(191 4). Nhân vật chính là trung tâm của tiểu thuyết. Từ nhân vật sẽ đưa nhà văn đến những sáng tạo nghệ thuật khác: chọn chi tiết cốt truyện tình huống... Những cuốn tiểu thuyết lớn vượt qua được lớp bụi của thời gian đều là những tác phẩm có sự sáng tạo bậc thầy trong cách xây dựng nhân vật: Đônkihôtê của Xecvantec Chiến tranh và hòa bình Annakarênina của L.Tônxtôi   AQ chính truyện của Lỗ Tấn Chí Phèo của Nam Cao... Với đặc trưng về thể loại tiểu thuyết không chỉ có khả năng miêu tả một cách tỉ mỉ và khá toàn diện về cuộc đời của nhân vật mà còn đưa vào nó một khối lượng nhân vật đồ sộ. Với số lượng nhân vật lớn khả năng phản ánh hiện thực của tiểu thuyết rộng hơn đồng thời có thể đi sâu vào khám phá những ngóc ngách của đời sống thông qua những số phận cá nhân. Còn đối với độc giả nhân vật trong tiểu thuyết chính là cái chìa khóa để giải mã những vấn đề mà tác giả đặt ra trong tác phẩm. Như vậy nhân vật là vấn đề trung tâm trong sáng tạo nghệ thuật của nhà tiểu thuyết. Nhân vật chính là sức mạnh của cuốn tiểu thuyết.
Nhân vật trong tiểu thuyết đương đại.
Giống như một dòng sông mải miết và lặng lẽ từ khi có mặt trên văn đàn Việt Nam cho đến nay tiểu thuyết đương đại đã góp phần tạo nên diện mạo cho nền văn học nước nhà. Trải qua bao thăng trầm cùng những biến cố của lịch sử tiểu thuyết vẫn tồn tại và phát triển. Nhìn khái quát vào tiểu thuyết đương đại ta thấy đang có những vận động đáng mừng. Từ những đổi mới trong "tư duy tiểu thuyết"  kéo theo sự đổi mới trong phương thức biểu hiện đã làm cho tiểu thuyết đương đại Việt Nam đa màu sắc hơn. Các nhà tiểu thuyết đang cố gắng tìm kiếm những phương thức nghệ thuật biểu hiện mới cho tiểu thuyết sao cho nó phản ánh một cách đầy đủ hơn về những vấn đề đang diễn ra trong xã hội cũng như con người của thời đại. Có thể nói mọi sự đổi mới trong tiểu thuyết cũng như các thể loại văn học khác đều phục vụ cho con người đều hướng tới con người. Để làm được điều đó bên cạnh những thay đổi trong kĩ thuật viết tiểu thuyết thì nhân vật trong tiểu thuyết cũng có sự vận động rất rõ nét. Sự vận động đó diễn ra ở cả số lượng lẫn phương diện hình tượng nhân vật.
Trong thời đại hiện nay tiểu thuyết đang có xu hướng rút ngắn về dung lượng kéo theo sự biến động về số lượng nhân vật trong tiểu thuyết. Tiểu thuyết đương đại đang có hiện tượng "giản lược về nhân vật". Nếu tiểu thuyết trước đây có khoảng hàng chục đôi khi lên đến hàng trăm nhân vật thì tiểu thuyết hiện nay chỉ có một vài nhân vật chính. Trong Thân phận tình yêu của Bảo Ninh có duy nhất một nhân vật chính là Kiên - mọi biến cố sự kiện đều xoay quanh những kí ức những ám ảnh về chiến tranh của nhân vật này; hay trong hầu hết các sáng tác của Tạ Duy Anh đều chỉ có một nhân vật: Thiên thần xám hối nhân vật chính là đứa bé trong bụng mẹ Lão Khổ là nhân vật Lão Khổ; trong Lạc rừng của Trung Trung Đỉnh là nhân vật xưng tôi (người kể chuyện)... Và mặc dù có sự giản lược về dung lượng cũng như về nhân vật nhưng không làm giảm đi giá trị soi chiếu đời sống của tiểu thuyết. Điều này cũng được nhà văn Tạ Duy Anh khẳng định: "Xu hướng ngắn thu hẹp bề ngang vừa khoan sâu chiều dọc đa thanh hóa sự đối thoại chiều vỉa ý nghĩa bi kịch thời đại dược dồn nén trong một cuộc đời bình thường không áp đặt chân lí là dễ thấy. Tiểu thuyết ít mô tả thế giới hơn là tạo ra một thế giới theo cách của nó ở đó con người có thể chiêm ngưỡng mình từ nhiều chiều hơn là chỉ thấy cái bóng của mình đổ dài xuống lịch sử"(17). Sự dồn nén về dung lượng cũng như sự giản lược nhân vật trong tiểu thuyết giống như một cái lò so càng nén thì sức bật của nó càng lớn. Bên cạnh đó tiểu thuyết viết theo mô hình truyền thống tuy không nhiều nhưng vẫn khẳng định được vị trí của nó trên văn đàn như: Dưới chín tầng trời của nhà văn Dương Hướng... Với độ dày 500 trang và gần 100 nhân vật nhưng nó cũng gây nên không ít xôn xao trên văn đàn.
Cuộc sống càng phức tạp thì bản chất con người càng khó nắm bắt cũng chính vì thế các nhà tiểu thuyết hôm nay không ngừng tìm kiếm nhân vật cho mình để cố gắng phản ánh một cách trung thực nhất con người của thời đại. Nhìn lại quá trình phát triển của tiểu thuyết từ thời kỳ đổi mới đến nay nhà nghiên cứu phê bình văn học Bùi Việt Thắng cho rằng tiểu thuyết đương đại Việt Nam có bốn kiểu nhân vật cơ bản là: nhân vật bi kịch nhân vật anh hùng nhân vật kỳ dị và nhân vật lập thân. Về nhân vật bi kịch do hoàn cảnh của lịch sử nên trước năm 1975 ít xuất hiện nhưng sau khi đất nước được giải phóng đặc biệt là từ thời kỳ đổi mới (1986) thì "cái bi kịch được vận dụng như một hình thức hữu hiệu để tái hiện đời sống"(130 2) trong toàn bộ tính chất bi tráng của lịch sử Việt Nam. Có thể kể đến các nhân vật mang tính chất bi kịch như: Giang Minh Sài trong Thời xa vắng của Lê Lựu Hạnh trong Bến Không chồng gia đình thương gia Đức Cường gia đình Hoàng Kỳ trong Dưới chín tầng trời của Dương Hướng Kiên trong Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh Hai Hùng trong Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai... Những nhân vật này giúp cho người đọc thấu suốt được con người của lịch sử đồng thời nó giúp ta chống lại "sự lãng quên của con người" (Kundera). Như vậy có thể nói nhân vật bi kịch trong tiểu thuyết là kiểu nhân vật giúp "thanh lọc tâm hồn con người". Nhân vật anh hùng là kiểu nhân vật thường xuất hiện trong những tiểu thuyết viết về hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta. Tuy nhiên trong khi đất nước bước sang một bước ngoặt mới thì hình tượng về nhân vật này cũng có nhưng nét khác trước. Giờ đây đó là những con người đang hối hả dây dựng lại đất nước là những con người đấu tranh chống lại cái ác để bảo vệ trật tự và sự thanh bình trong xã hội. Nhân vật lập thân là một kiểu nhân vật khá mới trong tiểu thuyết đương đại Việt Nam. Ta có thể thấy những nhân vật này trong tác phẩm của Nguyễn Phúc Lộc Thành (Cõi nhân gian) Đặng Thiều Quang (Hoen gỉ) Nguyễn Việt Hà ( Cơ hội của chúa)... Nhân vật kì dị là kiểu nhân vật có thể nói là đã rải rác xuất hiện trong văn học Việt Nam. Thông qua những con người kì dị nhà văn đi đến khái quát phản ánh những chân lí của đời sống. Ta bắt gặp tính kì dị của nhân vật trong: Thân phận của tình yêu Bảo Ninh Đêm thánh nhân của Nguyễn Đình Chính Hai nhà của Lê Lựu Bến không chồng của Dương Hướng...
         Như vậy có thể thấy so với những thời kỳ trước nhân vật trong tiểu thuyết đương đại đã có nhiều biến đổi để phù hợp với nhu cầu của thời đại. Một mặt nhân vật có sự "co lại" về số lượng để thích ứng với thực tế cuộc sống. Nhưng mặt khác nhân vật lại trở lên "phức hợp" đa diện hơn với những nét tính cách đa dạng nhiều chiều thực hơn với con người của thời đại.
. Nhân vật trong tiểu thuyết Dưới chín tầng trời của nhà văn Dương Hướng.
   2.3.1. Hệ thống nhân vật.
Dưới chín tầng trời là cuốn tiểu thuyết quy mô nhất của nhà văn Dương Hướng cho đến nay. Tác phẩm gồm 33 chương với 500 trang sách bao quát cả một thời kỳ dài (hơn nửa thế kỷ ) của lịch sử Việt Nam và một không gian rộng lớn. Bao trùm lên toàn bộ tác phẩm là cái tình người được nhà văn khắc họa một cách khá đậm nét. Trong những biến cố dữ dội của xã hội đã cuốn theo số phận của mỗi con người làng Đoài dù có những thù hận những lầm lạc những bi kịch nhưng cuối cùng họ vẫn ngộ ra được chữ Tình. Có thể nói "Dưới chín tầng trời là trần gian với đủ sắc màu là ánh sáng và bống tối là hạnh phúc và khổ đau là vinh quang và đầy cay đắng... Và Dưới chìn tầng trời cũng có biết bao điều kỳ diệu..."(24). Điều kỳ diệu đó phải chăng chính là cái tình giữa con người với con người cái tình với làng xóm với quê hương đất nước? Và Dưới chín tầng trời có lẽ cũng là cái tâm của người cầm bút tri ân lại đối với quê hương với dân tộc.
Là một cuốn tiểu thuyết viết theo mô hình truyền thống - tiểu thuyết sử thi nên số lượng nhân vật trong tiểu thuyết Dưới chín tầng trời không giới hạn ở một vài nhân vật như những cuốn tiểu thuyết đương thời. Dưới chín tầng trời có hơn 100 nhân vật và ở đủ các tầng lớp xã hội khác nhau: từ anh nông dân như Đào Kinh cô Cam mẹ con bà Cháo cô Lùn... những người buôn bán cán bộ xã như Yến Quyên Tuyết... thương gia Đức Cường những người lính ở cả hai chiến tuyến như Hoàng Kỳ Nam Đào Vương Hall... đến cán bộ cách mạng như Hoàng Kỳ Trung Thu Cúc cán bộ cấp cao Trần Tăng. Tất cả đều hiện lên hết sức sinh động. Trong tầng tầng lớp lớp nhân vật đó thì có khoảng 20 nhân vật xuất hiện thường xuyên trong các chương của tiểu thuyết. Đặc biệt những nhân vật này chủ yếu là những người dân làng Đoài. Nhưng không như trong Bến không chồng từ cái trung tâm làng Đoài những con người này tỏa đi nhiều hướng trên khắp các nẻo đường của đất nước. Nguyên nhân ra đi của họ không phải hoàn toàn là sự tự nguyện mà phần nhiều là do sự xô đẩy của xã hội của lịch sử. Và dù bị "quăng quật" trên dòng đời đầy biến động nhưng họ vẫn cố gắng vươn lên để tồn tại rồi trở lại góp phần xây dựng quê hương. Trong Dưới chín tầng trời có hai nhân vật không phải là người làng Đoài nhưng lại có ảnh hưởng không nhỏ tới những người dân nơi đây và được nhà văn Dương Hướng chăm sóc khá kỹ là nhân vật Trần Tăng và Thu Cúc. Trong hai nhân vật này thì Trần Tăng là người có uy quyền rất lớn đối với những người dân làng Đoài. Mọi sóng gió biến động ở làng Đoài đều liên quan đến Trần Tăng. Qua Trần Tăng ta dường như thấy được những hạn chế những sai lầm của lịch sử. Đọc Dưới chín tầng trời người đọc nhận ra mỗi nhân vật trong tác phẩm đều là " một thân phận trĩu nặng một vấn đề của nhân tình thế thái" (15). Dù mỗi người một hoàn cảnh một cảnh ngộ khác nhau nhưng tựu trung lại đó là những số phận bi kịch. Và góp nhặt những bi kịch của mỗi thân phận trong Dưới chín tầng trời sẽ làm nên cái diện mạo của nhân vật lớn mà nhà văn muốn khắc họa: Lịch sử. Trong quá trình phát triển của mình lịch sử cũng có những bước đi sai lầm cũng có những tụt hậu để rồi từ đó nó vươn mình đứng lên mạnh mẽ hơn. Là một nhà văn có tâm Dương Hướng không hề né tránh điều đó và mang đến cho bạn đọc cái nhìn chân thực về cái góc khuất của lịch sử mà ai cũng biết nhưng lại có rất ít người dám nói ra thông qua những số phận bi kịch của mình. Tuy nhiên khi gấp sách lại cái đọng lại trong lòng người đọc chính là niềm tin vào con người là niềm tin vào một ngày mai sẽ khác trước - một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Như vậy nhân vật trong Dưới chín tầng trời rất đa dạng với một số lượng lớn. Các nhân vật ở nhiều tầng lớp khác nhau chia thành nhiều tuyến đan xen cài chéo vào nhau tạo thành hệ thống nhân vật tầng tầng lớp lớp. Mặc dù thế ta vẫn dễ dàng nhận ra sự phân tách nhân vật thành: những người dân làng Đoài và những người có ảnh hưởng tới cuộc sống của những người dân làng Đoài trong Dưới chín tầng trời. Trong khóa luận này chúng tôi sẽ đi vào phân tích những nhân vật tiêu biểu trong hai tuyến nhân vật trên để làm nổi bật lên tính chất bi kịch của họ đồng thời phác họa bộ mặt của nhân vật lớn - lịch sử. Cũng thông qua đó khái quát lại cái tư tưởng chủ đề của tác phẩm cũng như những nhắn gửi đầy tâm huyết của nhà văn tới bạn đọc.
    2.3.2. Nhân vật bi kịch trong Dưới chín tầng trời.
Nhà văn Nguyễn Đình Thi khi tổng kết về nghề viết của mình đã từng nói: "Vấn đề trung tâm của nghệ thuật viết tiểu thuyết theo tôi là miêu tả những con người và tìm hiểu con đường đi của họ trong xã hội. Người viết tiểu thuyết nghĩ mọi vấn đề đều phải thông qua các nhân vật xuất phát từ nhân vật hơn là từ sự việc". (14 645) Điều này có lẽ rất đúng đối với Dưới chín tầng trời của nhà văn Dương Hướng. Có thể nói là thành công và sức mạnh của cuốn tiểu thuyết này chính là nhân vật. Mỗi nhân vật dù ở tầng lớp nào cũng hiện lên rất sinh động mang những nét cá tính riêng.
Những người dân làng Đoài.
Có thể nói đa số nhân vật trong tiểu thuyết Dưới chín tầng trời là những người dân làng Đoài. Tuy nhiên từ những số phận của những người dân nơi đây lại có sức khái quát phản ánh chung cho tất cả những biến động của đất nước. Một làng Đoài cũng như bao nhiêu làng quê khác ở miền Bắc Việt Nam đã trải qua một cuộc cách mạng và ba cuộc chiến tranh với những hậu quả của nó kéo dài của nó gắn với những khó khăn bế tắc trong thời kỳ hậu chiến rồi sau đó được giải tỏa trong thời kỳ đổi mới khi nước ta bước vào thời kỳ hội nhập và mở cửa. Những con người nơi đây trong cuộc hành trình của cuộc đời mình là sợi dây nối kết với những số phận của những kiếp người ở khắp mọi miền đất nước. Họ dù là người ra đi hay ở lại tất cả đều mang trong mình những nỗi đau của một thời đại không bao giờ có thể quên. Một thời đại với bao biến động dữ dội mà những ai sống trong thời đó không thể không có những va đập và bị hút vào vòng xoáy của nó hình thành nên những bi kịch mang tính thời đại. Có thể nói không một ai có thể thoát ra khỏi vòng kiềm tỏa của lịch sử. Và mỗi người dân làng Đoài dù ít hay nhiều đều mang trong mình những bi kịch của thời đại. Tuy nhiên họ có đững vững được trước những biến động của lịch sử hay không lại phụ thuộc vào cách ứng xử của họ với thời cuộc. Và điều này tạo nên những nét khác biệt trong mỗi số phận bi kịch của Dưới chín tầng trời.
Đọc tiểu thuyết Dưới chín tầng trời có lẽ ấn tượng đầu tiên với người đọc sẽ là gia tộc Hoàng Kỳ - là một gia tộc từ đỉnh cao danh vọng đến thẳm sâu của sự bất hạnh trong biến thiên của lịch sử. Có lẽ đây cũng là gia tộc đầu tiên phải hứng chịu những vòng xoáy của cơn lốc thời đại. Gia tộc Hoàng Kỳ giàu có nhờ vào việc buôn bán thuốc lào với các thương gia trong nước và cả những bạn hàng ở nước ngoài. Và đã có lần Bộ trưởng bộ ngoại thương Phan Anh về thăm gia đình Hoàng Kỳ. Tuy giàu có nhưng gia tộc Hoàng Kỳ lại sống rất có tình có nghĩa với bà con xóm làng. Mỗi năm đến ngày rằm tháng tám là ông Hoàng Kỳ Bắc lại trở về làng tổ chức hội đình Đoài để phục vụ bà con: "Đêm hội đình Đoài Nam và lũ trẻ được xem thắp đèn kéo quân thả đèn giời và nghe hát chầu văn"(24 45-46). Khi Hoàng Kỳ Trung lớn cũng như bao thanh niên khác theo tiếng gọi của đất nước lên đường đi kháng chiến. Thế nhưng gia đình này lại là nạn nhân của cuộc cải cách ruộng đất diễn ra ở miền Bắc. Gia đình Hoàng Kỳ Bắc bị quy oan là địa chủ cường hào việt gian phản động bị đưa ra đấu tố và phải chịu án tử hình nhà cửa của cải bị sung công và chia cho nhân dân. Mặc dù người dân làng Đoài đều mơ hồ nhận ra sự vô lí ở đây nhưng không dám kháng cự lại hoặc nếu  chống lại họ cũng sẽ bị cỗ máy lịch sử nghiền nát như gia đình Hoàng Kỳ. Một thời kỳ lịch sử đau thương đến bây giờ vẫn để lại nỗi đau đầy ám ảnh trong mỗi con người đã từng sống từng chứng kiến cơn bão tố của nó. Bà Hoàng Kỳ phải dùng cái chết để chứng minh cho sự trong sạch và bảo vệ danh dự cho gia đình. Và cái chết của ông bà Hoàng Kỳ cũng như sự phá sản của gia đình này đã để lại những vết thương khắc sâu trong lòng mỗi người dân làng Đoài. Có thể nói cái bi kịch của gia đình Hoàng Kỳ là do sai lầm của lịch sử đem lại - cái sai lầm mà các nhân vật đều cho là cái "tai nạn" của thời đại. Cái tai nạn đó ít nhiều tác động tới tất cả những người dân làng Đoài làm cho "méo mó què quặt tâm hồn con người"(24 469). Trong cơn bão táp của thời đại đó có lẽ người đọc sẽ ấn tượng với nhân vật Yến Quyên - con dâu gia tộc Hoàng Kỳ.
Là con dâu của  Hoàng Kỳ Bắc vợ của Hoàng Kỳ Trung mẹ của Hoàng Kỳ Nam Yến Quyên phải gánh chịu những tai biến của lịch sử đưa đến gia đình. Bị quy là gia đình địa chủ Hoàng Kỳ Trung lại đi kháng chiến biền biệt không về ở nhà một mình Yến Quyên phải chống chọi với những sóng gió của lịch sử mà đại diện là Trần Tăng đổ lên gia đình chồng. Khi đến làng Đoài với chức danh là cán bộ cải cách ruộng đất Trần Tăng mê đắm trước vẻ đẹp của Yến Quyên. Ông ta đã tìm mọi cách để chiếm đoạt cô từ dụ dỗ bằng những lời ngon ngọt đến những lời đe dọa: " Yến Quyên ơi! Anh đi khắp thế gian không gặp được người đàn bà đẹp như em. Em có biết tại sao anh phải liều cứu em và mẹ chồng em khỏi phải giam trong đình đêm qua không? Anh cứu em bởi em đẹp quá khiến anh không cầm lòng... Chiều anh anh sẽ tha tội cho cả bó mẹ chồng em nếu không anh bắn bỏ tuốt....."( 24 82). Nhiều lúc tưởng chừng như Yến Quyên không thể trụ vững nổi trước những sóng gió cứ dồn dập kéo đến nhưng Yến Quyên đã chiến thắng. Cô kiên quyết giữ vững lòng chung thủy đối với chồng và làm tròn nghĩa vụ của một người con dâu của gia đình Hoàng Kỳ. Không những thế Yến Quyên còn là người hăng hái tham gia các hoạt động xã hội. Là một người sống có tình nghĩa lại biết yêu thương đồng ruộng cô hiểu được con người cũng như mảnh đất nơi đây. Yến Quyên được dân làng Đoài bầu vào ban cán bộ của xã rồi làm chủ nhiệm xã bởi cô có "một tấm lòng bao dung một tình thương yêu thật sự với người dân làng Đoài nghèo khổ"( 24 341) mặc dù lí lịch của gia đình cô không được trong sạch. Là một người phụ nữ thông minh Yến Quyên đã phát hiện ra những sai trái những yếu kém cũng như những hạn chế trong cái phong trào hợp tác xã ở quê mình: "Từ ngày có hợp tác xã người nông dân dửng dưng với đồng ruộng. Làm ăn chểnh mảng ai cũng chỉ nghĩ làm thế nào để có nhiều điểm chứ không nghĩ làm thế nào để có nhiều thóc... Nông dân ta vốn  xưa coi ruộng đồng tấc đất tấc vàng thức khuya dậy sớm vì nó sống chết vì đất vậy mà bây giờ họ chẳng thiết tha gì với ruộng đồng"( 24 187). Và cô cũng hiểu nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là "cơ chế quan liêu ưa thành tích" của những người cán bộ đã làm "hư hỏng cả một thế hệ người nông dân xưa nay vốn cần cù một nắng hai sương. Nông thôn đang bị phá vỡ dần gốc rễ nền móng tốt đẹp đã có từ ngàn đời nay."( 24 193) Như vậy Yến Quyên đã thấy được những bi kịch đang diễn ra tại làng quê của mình. Đó cũng là cái bi kịch chung của làng quê Việt Nam thời cải cách. Yến quyên đã thẳng thắn nói lên quan điểm của mình trong buổi họp ban quản trị mở rộng của hợp tác xã và cả với Trần Tăng hiện đang là cán bộ huyện. Những nhận xét của Yến Quyên đã nói lên được thực trạng nông thôn Việt Nam thời bấy giờ - cái thời mà mọi sinh hoạt ở làng xã đều thông qua tiếng kẻng.  Và đau xót trước những tích cóp của những người nông dân qua bao đời đang bị cơn lũ hợp tác xã cuốn trôi Yến Quyên cố gắng đấu tranh chống lại dòng thác lũ đó để cố gắng giành giật lại. Nhưng cơn lũ quá lớn một mình Yến Quyên không thể chống cự nổi. Có thể nói con người Yến Quyên không có gì đáng chê trách. Cả thời thanh xuân Yên Quyên kiên quyết giữ tấm lòng kiên trung để chờ chồng và làm tròn phận sự của một người con dâu đối với gia đình Hoàng Kỳ bất chấp những sóng gió của thời cuộc. Cái bi kịch mà Yến Quyên phải gánh chịu cũng là cái bi kịch do thời đại đưa đến. Nhưng nhân vật này luôn lấy chữ trung làm lẽ sống: trung trực trung kiên trung hậu trung trinh... nên Yến Quyên đã vượt qua được những thăng trầm của lịch sử. Có thể nói Yến Quyên là nhân vật duy nhất vẫn giữ được nhân cách của mình khi ra khỏi cơn giông của thời đại. Và cô đã được đền bù xứng đáng. Con trai của Yến quyên Hoàng Kỳ Nam là một nhà báo có danh tiếng Tướng Hoàng Kỳ Trung luôn coi vợ mình là một niềm tự hào là niềm kiêu hãnh lớn nhất trong cuộc đời mình. Trong tiểu thuyết Dưới chín tầng trời Yến Quyên được đánh giá là nhân vật được xây dựng một cách toàn bích. Hay nói như nhà phê bình văn học Hoàng Ngọc Hiến Yến Quyên là "một nhân vật thánh thiện" một "Bông sen thơm ngát giữa bùn đất"(24 341). Yến Quyên hoàn toàn xứng đáng với lời khen ngợi của chồng - tướng Hoàng Kỳ Trung: "em xứng đáng là người phụ nữ Việt Nam anh hùng bất khuất trung hậu đảm đang".( 24 483)
Trong Dưới chín tầng trời còn một nhân vật cũng được coi là khá thánh thiện nữa chính là Hoàng Kỳ Nam. Có thể nói đây cũng là một trong những nhân vật hầu như không có gì đáng phải chê trách. Anh cũng là nhân vật duy nhất đi xuyên suốt chiều dài của tác phẩm giống như một sợi chỉ đỏ vô hình lắp ghép các mảnh đời của những số phận bi kịch lại với nhau. Và chính Nam cũng là một nhân vật mang trong mình những vết thương của thời cuộc. Ngay từ nhỏ Hoàng Kỳ Nam đã phải chứng kiến sự lụi bại của gia đình mình khi cơn lốc cải cách ruộng đất tràn đến. Nhưng lúc đó còn quá nhỏ Nam không thể trả lời được câu hỏi: "Ông nội không ác với ai sao mọi người lại ác với ông nội?" (24 55) và tại sao một người như Đào Kinh vốn rất yêu quý gia đình Nam giờ lại trở thành người đi bắt và giết ông nội mình. Tuy nhiên nỗi đau gia đình vẫn luôn ám ảnh trong tâm thức của Hoàng Kỳ Nam. Rồi khi lớn lên cuộc đời của Hoàng Kỳ Nam cũng gặp nhiều trắc trở. Khi đến tuổi mới lớn Nam đang háo hức tò mò lắng nghe những rung động của cảm xúc trong cơ thể cường tráng của mình thì một chuyện hiểu lầm xảy ra... (Còn nữa kỳ sau đăng tiếp)