Ký sự quê nhà (phần 3)


 


Ngôi từ đường họ Dương đã bị cháy trụi thời cải cách sau 47 năm đã dược xây dựng
      lại bằng toàn bộ số tiền bản quyền  tác phẩm tiểu thuyết "Bến không chông"
 dịch sang tiếng Pháp và tiếng Ý cộng với số tiền đóng góp của bà con trong họ tộc

Ảnh 3 Cắt băng khánh thành ngôi từ đường họ
Ký sự quê nhà (phần3)
Dương Hướng 

Quê nội

Những cảnh đời đi vào trang văn

Quê nội tôi có tục cả làng làm chạp tổ vào ngày mồng một tháng chạp hàng năm. Vào ngày này, dòng họ nào khấm khá tắt bếp, ông bà con cháu kéo nhau đến từ đường họ cúng tổ đánh chén tưng bừng, họ nào "yếu" hoặc quá đông không kham nổi thì đại diện mỗi nhà một người. Những năm đói kém, mỗi suất "đinh" góp vài ba đồng, bát gạo, mấy năm gần đây mỗi suất cũng chỉ vài ba chục ngàn là cỗ cũng đủ món xôi thịt, rượu, cam táo Trung Quốc vàng rực ban thờ tổ. Tôi là trưởng tộc nên năm nào cũng phải hai lần về cúng tổ vào ngay mồng 1 tháng 5 là ngày giỗ tổ và ngày 1 một tháng chạp là ngày chạp tổ. Ông chú họ tôi tuyên bố xanh rờn: Một năm bốn tiết xuân hạ thu đông anh không về được thì đóng tiên theo suất đinh ở nhà chúng tôi lo, nhưng hai ngày trọng đại- mồng một tháng năm và mồng một tháng chạp, anh là trưởng họ không thể vắng mặt. Cảnh giỗ chạp có trong tiềm thức từ ngày tôi còn bé tý, cả họ gọi tôi là thằng trưởng nam con và ông chú họ giao làm mật vụ chuyên đi canh chừng trong lúc sắp cỗ nhốn nhào có ai ăn vụng xôi oản hay ăn cắp thịt, cá, tiết canh lòng lơn thì báo cho chú. Tôi đã đưa vào tiểu thuyết "Bến không chống" cả mấy chương viết về dòng họ nhà tôi với những dữ kiện kinh hoàng khi tôi còn là cậu bé con lên mười, chứng kiến cảnh ngôi từ đường họ bốc cháy rừng rực vào một buổi sáng trong thời kỳ cải cách ruộng đất. Và những nhân vật như chú Vạn, Hạnh, Dâu, Thắm đều là những người trong họ tộc và bạn bè thân tình trong làng, trong xóm. Suốt bao năm, kể từ ngày ngôi từ đường bị cháy trụi, họ Dương tôi không còn nơi để cúng tổ, làm chạp (họ nhà tôi lớn, dân số chiếm tới nửa làng) Sau này lớn lên đi bộ đội tôi nung nấu có ngày sẽ bằng mọi giá phải xây lại ngôi từ đường để họ tộc có nơi thờ cúng tổ tiên. Tới giờ phút này nhìn ngôi từ đường mới, nhìn bà con họ tộc đến cúng tổ, lòng tôi nao nao. Quê tôi nghèo lắm, cả họ trông chờ vào mối mình tôi là trưởng lại lại là nhà văn chắc phải giàu có lắm. Chả thế, ngày tiểu thuyết "Bến không chồng" lên phim, ông chú họ đọc báo, xem ty vi, nghe người ta kháo thế nào mà đúng đêm giao thừa năm ấy, thắp hương cúng vái xong, ông thay mặt cả họ điện cho tôi, giọng đấy phấn khích: Hướng ơi, mày được mấy trăm triệu tiền bản quyền phim "Bến không chồng", bỏ ra vai ba chục triệu, xây từ đường họ nhà mình cho thật oách vào nhá! Mày về mà xem thằng họ Vũ nó xây từ đường họ to nhất xã rồi. Tôi lặng người chẳng biết giải thích cách nào để ông chú hiểu tiền bản quyền tiểu thuyết  làm phim chỉ được có bốn triệu, tôi ngại đi lấy, đành phải viết giấy ủy quyền cho cô con gái ngày ấy đang học phân viện báo chí trên Hà nội để nó chi tiêu đóng tiền học, tiền thuê nhà hàng tháng. Riêng chi tiết này nhà văn Tô Đức Chiêu, đồng hương với tôi đã viết một bài in trên báo Tiền Phong ngày ấy. Khi báo ra tôi chỉ lo ông chú biết, thế nào cũng bị ông cho một trận. Nhưng rồi mọi chuyện cũng qua, nhờ phúc tổ, tôi và bà con trong họ cũng đã xây được ngôi từ đường bằng toàn bộ tiền bản quyền tác phẩm "Bến không chồng" dịch sang tiếng Pháp và tiếng Ý cộng với tiền đóng góp của bà con họ tộc. Linh hồn cụ tổ họ Dương nhà tôi lâu nay không nơi nương náu, lang bạt kỳ hồ trên ngọn đa ngọn quéo, nay đã có nơi trú ngụ, con cháu khói hương tuần rằm giỗ tết. Bữa khánh thành từ đường cả họ ăn mừng suốt từ chiều hôm trước sang hết ngày hôm sau, múa hát chầu văn dâng hương vui như ngày hội. Tôi xúc động thấy cả bí thư chủ tịch xã cũng sắm lễ vào dâng hương cụ tổ nhà tôi. Ngày chạp tổ năm nay vẫn diễn ra như mọi năm, vẫn những hồi chuông ngân vang lẫn lời thỉnh cầu...a mô di đà... hương hồn cụ tổ linh thiêng mờ ảo trong khói hương nghi ngút. Tôi nhận ra từng gương mặt bà con họ tộc cô dì chú thím, đang thành tâm khấn vái. Trong số họ có rất nhiều người là hình bóng của những nhân vật trong các sáng tác của tôi. Mỗi người mang một số phận. Có người đã mất, những cô gái trong "Bến không chồng" xưa trẻ trung duyên dáng giờ thành bà già, da nhăn nheo. Thím "Xeng" ngày nào bị tôi bắt quả tang ăn vụng xôi trong ngày giỗ tổ, bao năm nay chỉ sống bằng nghề cắp mủng khắp ngõ xóm đường làng bán rong ngô rang, kẹo lạc cho trẻ con, giờ ốm nằm liệt giường. Mỗi lần về thăm thím, biếu thím năm chục một trăm, thím mắng yêu: Cha bố anh trưởng họ, lại còn cho cả tiền thím. Thắm, con gái thím năm nay đã ngoài năm mươi vẫn không chịu lấy chồng nguyện sống một mình làm "bà tổ cô". Họ tôi có đến mấy cô đã về già vẫn không chồng. Lần nào về tôi cũng thấy Thắm lụi cụi một mình trong gian nhà cấp bốn chỉ kê vừa chiếc giường và bộ bàn ghế nhỏ. Tôi không sao lý giải nổi đời người đàn bà lại có thể sống âm thầm lặng lẽ suốt cả một thời con gái xuân sắc. Hồi trẻ Thắm cũng mặn mà duyên dáng lắm. Ngay cả con sông Đình, với cái "bến không chồng" xưa nước trong leo lẻo, cả làng chiều chiều đều ra tắm mát cùng lũ trẻ chung tôi lặn ngụp tối ngày, cảnh sắc nên thơ là vậy mà sao giờ như nhỏ hẹp lại, nước đục ngầu không một bóng chim tăm cá. Môi trường đồng đất bị hủy diệt vì thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ. Tôi ngẩn ngơ khao khát nhớ về kỷ niệm xưa, cả niềm yêu thương và nỗi đau nhân thế. Tôi một mình lần mò ra "bến không chồng". Không còn con ba ba thuồng luồng hiện lên mặt nước săn bắt trẻ con. Dấu tích đoạn sông Hạnh tắm đêm vì sự cuốn hút gợi dục của dòng nước mát khiến Hạnh phát điên vì nhớ Nghĩa giờ không còn nữa. Bên kia sông cây ruối già cổ thụ đầu cánh mả Rốt có con ma mặt đỏ trú ngụ chuyên săn hiếp đàn bà phụ nữ góa chồng giờ cũng không còn. Hồi làm phim "Bến không chồng", tôi và đạo diễn Lưu Trọng Ninh về chọn cảnh tìm cây đa bến nước sân đình để quay đành phải ra đi vì hai cây cổ thụ đã chết ngẻo từ lâu. Nền đình Đoài xưa giờ là trụ sở đảng ủy. Lần tôi về tặng đảng ủy, ủy ban xã cuốn tiểu thuyết "Bến không chồng" đúng vào ngày đảng bộ xã họp, các đảng viên truyền tay nhau xem và bình luận thế nào đó. Đến tối, đang ăn cơm tôi nghe bà vợ ông Đột nói oang oang từ ngoài sân: Thằng Hướng về đấy a, mày viết sách nói xấu gì ông Đột nhà bà hả. Tôi sững sờ đành phải lựa lời giải thích để bà bớt giận: Bà lại nghe người ta hiểu lầm cháu rồi, cháu nói là nói cái thời cuộc nó thế! (Ông Đột ngày ấy không biết chữ được bầu làm chủ tịch xã cầm ngược lá đơn của Lão Khi xin bán trâu lại ngỡ đơn kiện). Ông Đột cũng chỉ là nạn nhân thôi...Cả làng mình ai cũng tốt... Tôi phải giải thích mãi bà Đột mới hiểu ra và bảo: có thế chứ, cái thời ấy chả riêng gì ông Đột nhà bà, cả làng cả nước đều u mê tỳ quốc thế. Bà Đột hả hê ra về. Lại đến cái đận xã tổ chức đón danh hiệu anh hùng thật hoành tráng, anh con trai ông Đột gọi tôi ra giọng uất ức: Anh thấy đấy, bố em là chủ tịch đầu tiên của cái xã này, anh đã viêt cả trong tiểu thuyết mà đến ngày đón danh hiệu anh hùng chúng nó không thèm mời bố em, cán bộ bây giờ họ chỉ nghĩ đến tiền thôi, ai lắm tiền là chúng trọng chúng mời, bất kể người đó có là việt gian phản động. Tôi phải an ủi anh con trai ông chủ tịch tiền bối của xã để anh ta thông cảm cho cán bộ xã bây giờ họ cũng phải lo toan quá nhiều công việc nên quên đấy thôi...Tôi nói tránh đi thế để anh ta bớt giận. Chuyện này chẳng riêng gì cán bộ xã tôi, căn bệnh thành tích, đúng hơn, người Việt chúng ta, căn bệnh "Hoành tráng" đã ngấm vào máu rồi khó sửa lắm. Cũng tại muốn "hoành tráng" nên phải cố, phải xoay xở đủ đường, muốn hoành tráng phải có tiền, muốn có tiền phải ‘vận động" nhìn xem anh nào có khả năng tài trợ bất kể anh ta là ai. Quyên góp vẫn không đủ nên đành phải bán đi mấy mảnh đất để có tiền tổ chức đón danh hiệu anh hùng cho thật "hoành tráng". Từ anh nông dân nghèo rớt mồng tơi vẫn thich hoành tráng, vẫn thích oai, ăn chưa đủ no cũng cố gom góp chắt chiu làm được ngôi nhà rõ to. Có người làm xong được nhà thì nợ chồng chất, có anh chưa làm xong đã ngẻo. Còn mọi chuyện cưới xin ma chay cũng phải làm cho thật hoành tráng. Rồi đên cả ông nhà nước cũng thích ‘hoành tráng", cái gì cũng muốn nhất thế giới, đánh nhau cũng anh hùng nhất, nước mình thì nhỏ mà thủ đô cũng phải to nhất nhì thế giới. Rồi các trụ sở đảng, các cơ quan công quyền, các ban ngành, đoàn thể, đến các cơ quan xí nghiệp từ trung ương đến địa phương, anh nào cũng muốn hoành tráng. Hình thức thì nom rõ lộng lẫy nhưng nội dung thì lạc hậu trì trệ nghèo nàn, hiệu quả kinh tế lại thấp. Trên ty vi chả mấy ngày là không phát trực tiếp các chương trình kỷ niệm lế lạt hội hè hoành tráng tiêu tốn tiền tỷ trong khi dân còn đang khốn khổ trăm đường. Ông anh tôi bảo, cứ đà này nông thôn chỉ còn ông bà già. Bọn trẻ bây giờ tìm mọi cách đi hết, kẻ ra thành phố, người đi nước ngoài làm thuê...

 Tôi lững thững từ bến không chồng bước lên cầu Đá Bạc (cầu Đình Đoài). Dòng sông cạn kiệt, nước đục ngầu. Xa xa là cánh mả rốt, nhấp nhô lăng mộ đủ sắc mầu vàng son. Các cụ nói cấm sai "Âm thịnh dương suy". Ngôi mộ tổ dòng họ Dương nhà tôi cũng mới xây nom thật ‘hoành tráng". Nơi ấy có cả nấm mồ Nguyễn Vạn, Trần Tăng, Ngô Quất, là những nhân vật trong ba cuốn tiểu thuyết "Bến không chồng"- "Dưới chín tầng trời" và "Trần gian đời người" của tôi. Bên kia cầu là nền Đình Đoài xưa, bây giờ là trụ sở đảng ủy xã. Hai cây quéo cổ thụ đã chết ngẻo từ bao giờ. Chính nơi đây là máu thịt, là tình yêu đời tôi. "Nước sông Đình vừa trong vừa mát- đồng làng Đoài bát ngát lúa ngô..." Câu ca ngày nào lại vang lên.
  -Ảnh 1 Ngôi từ đường họ Dương bị cháy trụi thời cải cách sau 47 năm mới được xây dựng lại
  -Ảnh 2 đội tế dâng huong ngày khánh thành từ đường họ Dương
Ảnhbây giờ là Dòng sông cạn kiệttNền đình Đoàiđể quay thì đành phải thất vọng ra đi vìchọn cảnhgiờ cũng không                Hạnh             Hạnh Phúc Hạn



CHUC MỪNG NĂM MỚI


Năm mới Dương Hướng chúc tất cả bạn bè
quý khách gần xa lời chúc an lành hạnh phúc


Ký sự quê nhà (phần 2)

 

Ký sự quê nhà (phần 2)

Dương Hướng

Dì Tào cậu Tưởng

Câu chuyện của vị khách trên chuyến xe chất lượng cao của hãng Hoàng Hà cứ ám ảnh mãi trong tâm trí tôi. Khi về đến nhà gặp cảnh dì và cậu tôi, khiến tôi không thể không viết. Dì Tào và cậu Tưởng đều là em ruột của mẹ tôi. Chúng tôi gọi dì Tào là do tập tục quê tôi, con gái về nhà chồng thì gọi theo tên chồng, Tào là tên chồng dì. Chú Tào đã hy sinh trong chiến trường miền Nam thời đánh Mỹ. Dì Tào ở vậy nuôi ba cô con gái. Cả ba cô con gái dì đều đặt tên vần "T": Toan, Tính, Toán. Dì tôi cho dù có lo toan tính toán thế nào cũng không tránh khỏi số. Cái số dì rõ là vất vả trăm đường. Ba người con gái của dì thì hai người đã trưởng thành lấy chồng sinh  con ở riêng nơi khác. 
    (Xem tiếp)


Ký sự quê nhà

 

  Đại hội VHNT Quảng Ninh lần lX vừa kết thúc, tôi có việc gia đình phải về quê gấp. Tôi biết không khí sau đại hội vhnt tỉnh còn đang nóng, nhiều bạn vẫn đang muốn lên tiếng trao đổi tiếp những vấn đề còn dang dở, nhưng khốn nỗi quê nhà tôi lại chưa có internet nên tôi đành phải thông báo đóng mục trao đổi lại. Bây giờ mọi chuyện cũ đã qua rồi mong các bạn không nhắc lại nữa. Tôi mở lại mục trao đổi nhưng xin các bạn không nên bàn chuyện ngoài văn chương học thuật. Trong chuyến về quê cuối năm, tôi xin được kể cùng các bạn câu chuyện sau.

                                        Ký sự quê nhà
                                         Dương Hướng

Chuyện là thế này. Sáng sớm, sau hôm đại hội bế mạc, cả hai vợ chồng tôi tay xách vai mang lỉnh kỉnh những thứ linh tinh: từ cân táo Tàu đến cân chả mực, vài thang thuốc Bắc về làm quà cho cha mẹ.
    (Xem tiếp)


Giải Thuât

 

Truyện ngắn của Nguyễn Hiệp:

GIẢI THUẬT

Má ơi con má điên rồi

Má còn trông đứng đợi ngồi mà chi

(Nguiễn Ngu Í)

            Giải thuật là một thứ nhức đầu, bởi vậy khi tự chuyển linh hồn mình qua một thân xác mới, một thân xác cứng đơ bị treo lơ lửng giữa không trung, tôi mới có dịp suy nghĩ về thứ hình vẽ đường đi rối rắm, phức cảm của nó; gọi là thuật toán cũng được, gọi là thuật văn cũng xong. 
   (Xem tiếp)


Thưa cùng bạn đọc

 

Dương Hướng thưa cùng bạn đọc:

 Hưởng ứng đại hội VHNTQN lần thứ lX, Dương Hướng tôi với cương vị là trưởng ban văn, đã có bài tham luận với nhan đề "Văn nghệ và lãnh đạo văn nghệ" đưa  trên blog của mình được dư luận quan tâm.Chỉ trong bốn ngày đã có tới gần 40 lượt người viết bài mạn đàm góp ý xây dựng rất chi là xôm trò. Bàn thân Dương hướng đã phải có bốn mươi cái com trả lời đáp lễ cùng các bạn xa gần. Đặc biệt có bài của bạn Thành Nam được đông đảo bạn đọc tranh luận sôi nổi. Có bạn đã làm thơ vui bảo Dương Hướng đã kéo đại hội về ‘nhà mình" Thú thực lúc đầu cũng thấy zui zẻ thật (văn nghệ mà) Phải công bằng có rất nhiều ý kiến thẳng thắn trung thực, đưa ra những mặt hạn chế, những yếu kém trong lĩnh vực văn học nghệ thuật tỉnh nhà. dám nói lên nhưng trăn trở, những bức xúc lâu nay ta thường né tránh không dám nói ví như cái "HÈN" của kẻ sỹ.. Nhưng phải thú thật nhiều bạn vui quá đôi khi quá trớn thành ra đã có kẻ lợi dụng giả danh là Thành Nam nói tới những chuyện quá khích mất vui gây phiền toái hiểu lầm lẫn nhau. Thậm chí lợi dụng chuyện vui nhằm nói xấu, hạ bệ bôi bác ảnh hưởng tới uy tín cá nhân nghi kỵ lẫn nhau gây mất đoàn kết. Đến nay đại hội đã kết thúc, mọi chuyện đã khép lại. Phải nói là văn học nghệ thuật Quảng Ninh đã vừa trải qua cơn sóng gío chưa từng có, một nhiệm kỳ kéo dài gần 7 năm, một đại hội thật sôi động, kịch tính và cũng rất chi là văn nghệ. Ngay phút đầu đã gây kịch tính, căng thẳng gay gắt, lại vừa xuê xoa đáng yêu. Những tuyên ngôn  nghe đến rợn người, ngỡ tan đại đại hội nhưng lại ngay lập tức cười Zui zẻ vỗ tay hoan hô rào rào. Thế mới lạ. Không khí trong hội trường lắng lại thì không khí ngoài sảnh lại rôm rà. Nhưng chung quy lại văn nghệ sỹ Quảng Ninh vẫn cứ một lòng một dạ nhiệt tình tiến hành làm bổn phận của mình một cách nghiêm túc nhất. Đại hội biểu quyết nhất trí ban chấp hành khóa lX là 25 người,. danh sách đề cử là 27. Kết quả 25 người đã trúng cứ với số phiếu tương đối tập trung. 25 người ban chấp hành khóa trước giới thiệu đều trúng cử, 2 người ra đại hội giới thiệu thêm đều không trúng. Ban chấp hành đã tranh thủ bầu các chức năng chủ tịch và các phó chủ tịch, ban kiểm tra.

 Kết quả: Đồng chí Phạm Hồng cẩm giữ chức chủ tịch hội, hai phó chủ tịch là Nguyễn thị Thu Hà và Pham Thành.

 Đại hội văn học nghệ thuật Quảng Ninh lX bế mạc vào hồi 12h ngày 25/12/2008.

Nhân dịp năm mới Dương Hướng xin chúc tất cả bạn bè xa gần vào thăm một lời chúc tốt lành. Do cuối năm bận rộn nhiều việc về quê làm nghĩa vụ gia tiên họ tộc  không tiếp đón các bạn được nên đành phải đóng tạm phần trao đổi. Khi nào công việc xong Dương Hướng tôi lại xin được cùng các bạn chung vui.


Ý kiến nhỏ

  Ý kiến nhỏ

Tranh Hoang Hai Anh
Dương Hướng

Hành động giết người tàn bạo làm bảy người chết ở cảng than thuộc phường Hà Khánh, thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh là một tội ác khủng khiếp chưa từng có. Thái độ ngang nhiên của kẻ giết người đã đánh thức lương tâm mỗi công dân và các cấp lãnh đạo, cơ quan pháp luật, buộc chúng ta  phải suy nghĩ cho thật thấu đáo về chuyện này. Trước hết là một công dân tỉnh Quảng Ninh, tôi thật sự thấy kinh hoàng muốn lên tiếng nói tới điều mà chúng ta lâu nay quen né tránh không dám nhìn thẳng vào  thực trạng xã hội đang bị suy thoái trầm trọng về đạo đức và nhân tính con người. Việc tìm ra thủ phạm để trừng trị là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng. Điều tôi muốn  quan tâm là lâu nay chúng ta quen được "ru ngủ" với những điều tốt đẹp bề ngoài và lạnh lùng trước thực trạng xã hội đã và đang bị suy thoái về đạo đức, nghèo nàn về văn hóa, hèn kém về tinh thần trong mọi lĩnh vực: Sự giả dối trong giáo dục (bệnh thành tích)- sự lừa lọc trong kinh doanh (nạn hàng giả, hàng kém chất lượng)- sự tha hóa chốn quan trường (mua quan bán tước)- Nạn tham nhũng hoành hành (Khoảng cách giàu ngèo quá lớn) đã dẫn đến tình trạng lớp trẻ thiếu niềm tin lao vào con đường ăn chơi cờ bạc nghiện hút nên đã không ít những phi vụ cướp giật chém giết thanh trừng lẫn nhau trong các băng nhóm tội phạm. Đáng sợ hơn cả mọi người cứ lạnh lùng làm ngơ chấp nhận sự giả dối, cam phận trước bất công, băng giá trước cái ác. Đã đến lúc chúng ta phải báo động đỏ. Đừng tưởng nhà lầu xe hơi kín cổng cao tường là an toàn. Tội ác có ngày sẽ tới ngay đầu ngõ, và không loại trừ có ngay cả trong nhà mình.


Noi nguoc de noi tieng

 

NÓI NGƯỢC DỄ NỔI TIẾNG

Người viết: Nguyễn Thẩm Văn

Một buổi sáng, tình cờ mở trang Văn hóa của Vietnam.net thấy có đăng bài viết "Sai lầm chiến lược của vạn đại quân sư Gia Cát Lượng" của nhà văn Phạm Viết Đào, tôi thấy băn khoăn quá. Chúng ta có quyền xét lại mọi thứ đã qua, kể cả đạo Khổng lẫn học thuyết Maxk, với mục đích cái gì còn học được thì phải học, cái gì lỗi thời thì bỏ, nhưng ở đây dường như ông Đào phủi sạch, như thể muốn hạ bệ Vũ hương hầu. tôi nghĩ thế và nảy ra ý định viết bài cãi lại nhà văn. Theo Vietnam.net thì bài viết của nhà văn Phạm Viết Đào đã được giải cuộc thi gì đó tại Trung Quốc (điều này tôi không mấy quan tâm) còn nhà văn Phạm Viết Đào thì cho biết khi viết bài này, ông không hề biết tiếng Tàu nên không căn cứ vào một sử liệu nào nói về thời Tam Quốc mà chủ yếu dựa vào những cảm nhận của mình về tác phẩm Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung. Vậy thì tôi cũng xin mạn phép cãi lại ông theo cách đó, tức là bằng những cảm nhận của mình khi đọc tác phẩm bất hủ này.

 (Xem tiếp)


Ngày em về


Ngày em về
Thơ Văn Công Hùng



thương tháng sáu em về như lá ướt

nẻo thiên đường sấp ngửa chớp ran ran



Ảnh Dương Minh Long

 

 

 (Xem tiếp)


Đà Linh trò chơi tiếp tục

 (Xem tiếp)


Nghĩ thêm về lời kêu gọi của Hồ Chí Minh

Nghĩ thêm về lời kêu gọi "Không có gì quý hơn độc lập tự do"
Bùi Minh Quốc   
11/12/2008

    Lời kêu gọi lịch sử ấy của chủ tịch Hồ Chí Minh đã vang lên lần đầu tiên vào buổi sáng ngày 17.7.1966 tại hội nghị chính trị đặc biệt họp giữa thủ đô Hà Nội, làm rung động mãnh liệt mọi trái tim Việt Nam yêu nước, yêu dân chủ tự do.Vì độc lập, vì tự do, biết bao người con của tổ quốc Việt Nam đã không chút đắn do hiến dâng cả tính mạng suốt mấy cuộc chiến đấu trường kỳ.
   

Thực ra, ngay từ năm 1942, tư tưởng KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP TỰ DO của Hồ Chí Minh - cũng là lẽ sống của bất cứ con người bình thường nào - đã ghi rõ ràng trong bốn câu thơ này :
  Trên đời ngàn vạn điều cay đắng
  Cay đắng chi bằng mất tự do
  Mỗi việc mỗi lời không tự chủ
  Để cho người dắt tựa trâu bò
 (Hồ Chí Minh - Nhật ký trong tù)
     Như thế, độc lập, trong tư tưởng Hồ Chí Minh không chỉ hạn hẹp ở độc lập dân tộc, dầu rằng độc lập luôn luôn là nỗi ám ảnh nghìn đời của dân tộc ta, và vào thời điểm ra đời những câu thơ trên đang là nhiệm vụ bức thiết hàng đầu. Độc lập, ở Hồ Chí Minh còn một tầng nghĩa nữa sâu hơn, đó là vị thế độc lập của mỗi con người, trước hết là cái quyền suy nghĩ độc lập và công khai nói lên tiếng nói độc lập, để không rơi vào cảnh "mỗi việc mỗi lời không tự chủ để cho người dắt tựa trâu bò".
   

Tự do cũng vậy.Tự do không chỉ là quyền của mỗi dân tộc trong mối quan hệ với dân tộc khác (lâu nay không ít bài trên báo đài thường có kiểu nói lướt nói tắt "Độc lập Tự do của tổ quốc" làm cạn nghĩa một lẽ sống phổ quát);tự do trước hết và căn bản là quyền của mỗi con người.Cho nên, ngay sau khi lãnh đạo nhân dân làm Cách Mạng Tháng Tám thành công, Hồ Chủ Tịch liền phải lập tức nhấn mạnh rạch ròi: "Nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng không có nghĩa lý gì"(1).Chắc rằng Hồ Chủ Tịch đã thấy trước, nếu không nói rạch ròi như vậy, ắt sẽ khó tránh khỏi tình trạng áp đặt cách hiểu cạn cợt về độc lập để lấn át các quyền tự do căn bản của người dân, trước hết là quyền suy nghĩ độc lập và tự do nói lên tiếng nói độc lập.
     Nhưng suy nghĩ độc lập để tìm ra lẽ phải, nói và làm theo lẽ phải là việc tưởng như đương nhiên bình thường bình dị mà thực ra lại hoàn toàn không đơn giản giữa cái thế thái nhân tình vô cùng rắc rối này.Ngay từ 1942  Cụ Hồ đã ghi lại thành thơ sự trải nghiệm ấy : "Vốn biết việc đời không phải dễ/Mà nay càng thấy khó khăn hơn" (Nhật ký trong tù).
     Cũng trong năm 1966, có một người cộng sản thấm nhuần tư tưởng "Không có gì quý hơn độc lập tự do" đã dũng cảm làm theo sự suy nghĩ độc lập xuất phát từ thực tiễn của mình : thực hiện khoán trong hợp tác xã nông nghiệp - một việc động trời đụng chạm gay gắt vào các giáo điều đang ngự trị trói buộc nền sản xuất.Người đó là ông Kim Ngọc, bí thư tỉnh ủy Vĩnh Phú.Bí thư Kim Ngọc phải trả giá nặng nề cho tư tưởng  "Không có gì quý hơn độc lập tự do" như thế nào mọi người nay đã rõ, nhưng sự hy sinh cao cả của ông đã được đền bù xứng đáng (tuy muộn mằn,phải đợi đến 22 năm) khi "khoán Kim Ngọc" được  những cán bộ chủ chốt kiên trung của đảng bộ Hải Phòng dũng cảm tiếp tục thực hiện tạo cơ sở thực tiễn cho "khoán 100" rồi "khoán 10", đưa Việt Nam từ chỗ năm nào cũng phải cử người xách túi đi xin viện trợ lương thực chỉ trong một thời gian ngắn đã có thóc gạo dồi dào và tiến lên thành nước xuất khẩu gạo đứng hàng thứ hai thế giới.
     Quyền suy nghĩ độc lập và tự do nói lên suy nghĩ độc lập cùng các quyền căn bản khác của người dân chỉ có thể trở thành hiện thực bình thường bằng một chế độ dân chủ.Cho nên Hồ chủ tịch khẳng định rõ :
    "Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do.Tự do là thế nào ? Đối với MỌI VẤN ĐỀ, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình góp phần tìm ra chân lý.Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người"(2).
 Tôi xin nhấn mạnh mấy chữ MỌI VẤN ĐỀ trong câu vừa dẫn trên, nghĩa là dứt khoát không được phép đặt ra các vùng cấm cho việc tự do bày tỏ ý kiến.Hơn nữa, thật đặc biệt sâu sắc và triệt để, Hồ chủ tịch coi việc tự do bày tỏ ý kiến không những là quyền mà còn là nghĩa vụ của mọi người.Đã là nghĩa vụ thì những ai không dám tự do bày tỏ ý kiến để góp phần tìm ra chân lý là người đó chưa làm tròn trách nhiệm đối với xã hội và với chính bản thân mình.Và do đó, lẽ tất nhiên, những ai cậy quyền cậy thế mà hạn chế, áp chế việc tự do bày tỏ ý kiến của mọi người là có tội lớn với xã hội, là phản bội tư tưởng Hồ Chí Minh.
 Hồ Chủ tịch còn luôn khẳng định :
 "Dân chủ là của quý báu nhất của nhân dân" (3)
"Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng nhân dân đưa cách mạng tiến lên"(4).
(Xin nhấn mạnh mấy chữ "phát huy dân chủ đến cao độ" trong câu vừa dẫn trên để càng thấy tính triệt để trong tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền làm chủ của người dân : yêu cầu đặt ra không phải chỉ là phát huy dân chủ ở mức bình thường, thậm chí tệ hơn nữa chỉ đối phó bằng kiểu thực hiện dân chủ một cách làng nhàng, hời hợt, hình thức - căn bệnh kinh niên rất phổ biến bấy lâu nay - mà phải là "phát huy dân chủ đến cao độ").
     " Thực hành dân chủ là cái CHÌA KHOÁ VẠN NĂNG có thể giải quyết mọi khó khăn"(5).
Và trong di chúc của mình, chủ tịch Hồ Chí Minh lại hai lần nhấn mạnh DÂN CHỦ :
     "Trong Đảng phải thực hành DÂN CHỦ"
     "Xây dựng một nước Việt Nam hoà bình thống nhất độc lập DÂN CHỦ và giầu mạnh"
     Đại hội Đảng lần thứ 9 đã đưa DÂN CHỦ thành mục tiêu xây dựng xã hội, coi dân chủ là tiền đề để có công bằng và văn minh, dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực - là CHÌA KHOÁ VẠN NĂNG, mở ra một nguồn sức mạnh vô cùng lớn để giải quyết mọi khó khăn đưa đất nước phát triển lành mạnh và bền vững, đảm bảo tự do hạnh phúc cho mỗi con người.
     Chung quy lại, đã đến lúc sự thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh phải được thể hiện bằng hành động dứt khoát : chuyển ngay việc NÓI DÂN CHỦ thành việc LÀM DÂN CHỦ.
 Dân chủ trong Đảng và dân chủ trên toàn xã hội.
 Muốn thế, đảng viên phải làm chủ Đảng và công dân phải làm chủ các hội đoàn mà mình tham gia.
Từng đảng viên, từng công dân phải chủ động nắm lấy và thực hành quyền làm chủ của mình một cách kiên quyết và kiên trì, từng ngày một, từng việc một, từ việc dễ đến việc khó, tiến tới làm chủ thường xuyên, trong mọi việc, từ việc nơi tổ đảng, tổ nông hội, tổ công đoàn dến những việc ở tầm chiến lược quốc gia.
Làm chủ phải là lẽ sống, là nếp sống, là niềm vui sống hàng ngày của mối con người, của mọi người.      
        B M Q
________________  
(1), (2), (4), (5) Hồ Chí Minh, Toàn tập, NXB CTQG, H, t4, tr 56, t8, tr216, t9, tr 582, t12, tr 249.
(3) Bài nói với trí trức ở lớp nghiên cứu chính tri, ngày 8.12.1956

(Bài đã đăng báo Văn nghệ, tác giả có bổ sung)


Văn nghệ và lãnh đạo văn nghệ

 

              
  Văn nghệ và lãnh đạo văn nghệ

                                                 Dương Hướng

           (Đại hội VHNT tỉnh Quảng Ninh lần IX)

                       24-25-12-2008
Trong không khí cởi mở, dân chủ đón chào đại hội, tôi xin phép được nêu ra vài nhận xét về mối quan hệ cốt tử cho sự sinh tồn và phát triển giữa văn nghệ sỹ và người làm công tác lãnh đạo, quản lý văn nghệ trong giai đoạn hiện nay của cả nước nói chung và Quảng Ninh chúng ta nói riêng
.

           (Xem tiếp)


Ngành GD có thể làm gì để cứu nhân cách Việt?

Ngành GD có thể làm gì để cứu vãn nhân cách Việt?
Võ Thị Hảo   
08/12/2008

 Tự nhiên cho ra lò những  công dân chính trực và hồn nhiên, thấy nóng thì biết bảo rằng nóng và ngược lại - đó là trách nhiệm và những điều ngành giáo dục có thể làm mà không tốn kém và không phải chờ đợi ai.  
 
Ra đường gặp giả trá

Nếu tôi khôn ngoan, trước khi viết về sự giả dối, tôi cần phải rào đón khoảng mươi dòng, rằng về cơ bản nhân dân Việt Nam ta luôn trung thực thật thà dũng cảm, rằng nhân dân ta luôn có truyền thống trọng chữ tín. Rằng được sự quan tâm của lãnh đạo các cấp nói chung và lãnh đạo ngành tư tưởng văn hóa nói riêng, người Việt Nam ta hiện nay và ngành giáo dục đang có nhiều tiến bộ và gặt hái được nhiều thành tựu. Rằng người Việt Nam đi đâu cũng có uy tín trên trường quốc tế và luôn luôn dược nể trọng là một dân tộc anh hùng...

Vâng. Phản xạ rào đón, dù chỉ là rào đón để làm đà thôi,  để báo chí có thể đăng nổi, hoặc để tung ra một lời nói thẳng, vẫn là một phản xạ gắn liền với sự giả trá. 
Ngành giáo dục cần đi tiên phong trong việc chối bỏ thói quen viết đại tự "giả trá" trên  tâm hồn những trẻ em bắt đầu gia nhập cộng đồng.

Khốn khổ thay! Tại sao chúng ta phải rào đón đủ điều trước khi nói thật? Tại sao nói thật là điều "ghê răng" đến thế? Tại sao trước mỗi lời phát biểu, từ một học trò tiểu học miệng còn hơi sữa đến một người lãnh đạo một cơ quan đơn vị, địa phương cũng cứ phải leo lẻo một đoạn dài lê thê cảm ơn ngành nọ cấp kia dù trong lòng biết thừa rằng chẳng có gì phải cảm ơn cả. Vì họ đã ăn lương ngân sách thì  dù là ai cũng phải làm tròn trách nhiệm và không làm tròn trách nhiệm chính là tội lỗi.

  
Tại vì chúng ta nói một đằng làm một nẻo quen rồi.

Tại sao con người ta cứ phải "khôn ngoan"? Tại sao đa phần con người Việt Nam hiện nay mất đi cái sự hồn nhiên tối thiểu của mọi sinh vật: thấy nóng phải biết kêu rằng nóng, thấy lạnh thì nói rằng lạnh?!

Để được yên thân, rất nhiều người trong chúng ta đều phải giả vờ hoặc phải lờ đi. Để cầu an hoặc cầu lợi, nhiều khi chúng ta thấy nóng thì bảo lạnh. Hoặc vờ không biết rằng nóng.

Như thế, là con người đã từ bỏ sự chính trực. Quyền được hồn nhiên và được chính trực, đó là quyền đương nhiên của muôn loài - trong đó, trẻ con chưa đi học mẫu giáo, và từ loài  bò sát trở lên, còn giữ lại được cho mình.

Có ai, bỗng một ngày nghĩ lại mà giật mình, rằng người chính trực, người thật thà hiện nay khó sống lắm không?!

Cứ nhìn thầy giáo Khoa thì biết. Thầy Khoa đã làm những việc tối thiểu mà một con người có tự trọng phải làm. Thầy phản ứng và chống lại sự  giả trá trong thi cử, cái được gọi bằng một mỹ từ nhẹ nhàng là "bệnh thành tích" tại một ngôi trường nhỏ ở Hà Tây.

Thế mà, thầy bị trù dập, bị trả thù hết lần này lượt khác. Không những bản thân mà đến vợ con cũng khốn đốn.

Sự trả thù của những người bị ảnh hưởng quyền lợi do phản ứng chính trực của thầy Khoa đã là điều trái pháp luật, cần bị trừng trị, nhưng còn có thể hiểu được. Nhưng điều hết sức đáng buồn, là chính cộng đồng xung quanh thầy, không có quyền lợi liên quan, đa phần cũng  xa lánh, miệt thị, coi thầy là người kỳ dị, rách việc, rồi gán cho thầy bao nhiều tội tình. Rồi không có chứng cứ gì để mạt sát thầy về hành vi hay nhân cách thì họ quy cho là thái độ kiêu căng!

Trong cuộc sống, hiện tượng cộng đồng đối xử với những người như thầy Khoa không hiếm. Trong nhiều cơ quan đơn vị, người trung thực dám làm chứng cho sự thật, không cam tâm a dua dối trá theo cường quyền, thay vì được đồng nghiệp, bạn bè ủng hộ, thì bị xa lánh và những kẻ ghen ghét thừa cơ bịa đặt vu cáo tung tin thất thiệt.

Kẻ xấu luôn được dung dưỡng bằng một môi trường có quá nhiều người luôn muốn nghe những điều xấu về người khác, luôn tiếp tay cho sự vu cáo. Quá nhiều người thích nói xấu  người khác, sợ sự thật như dơi sợ ánh ngày và mong người khác thất bại, là để tự an ủi mình.

Ra đường, chúng ta luôn bị tổn thương vì sự giả trá

Kìa xem cái người bán xăng cho chúng ta. Dù thế nào thì họ vẫn ăn bớt của ta. Và nếu  ta cự nự, thì họ lập tức nổi khùng. Họ độc quyền. Những người bán hàng cho ta cũng vậy. Chín mươi chín phần trăn cân dối. Ta không mua của họ thì biết mua của ai?

Mỗi mét vuông mặt đường chứa đựng sự dối trá. Vì số tiền người làm đường lấy từ công quỹ thường lớn gấp ba lần số tiền thực chi cho đường. Những mặt đường ngày càng co hẹp lại, để tiền vào túi cá nhân qua các cử chỉ thụt két và hối lộ để được nhận dự án. Những công trình xây dựng, những bệnh viện, những hàng rởm. Những khoản tiền cứu trợ, những chương trình vì người nghèo bị xà xẻo....

Những nhà máy gian dối để thải chất độc ra sông giết cộng đồng và môi trường. Những người làm hoa quả, làm nước mắm, làm sữa... dùng độc chất để tăng sự bóng bẩy và chỉ số giả về chất dinh dưỡng, không cần biết đến việc mình đang hãm hại mọi người.

Những huân huy chương thật được trao cho những thành tích giả sau những cuộc chạy chọt... Những lời nói giả ngày ngày được phóng đại trên loa truyền thanh và các phương tiện thông tin đại chúng.

Và trên các giảng đường, những kiến thức lạc hậu, cũng chính là nững kiến thức giả được tung ra, làm mất thì giờ và thui chột nhiều thế hệ trẻ. Những giáo trình giả rồi những điểm số giả... không thể kể hết.

Những sự giả ấy, còn tiếp tục làm mục ruỗng nhân cách người Việt Nam.

Chúng ta có thể tiếp tục tồn tại khoẻ mạnh với một cái nền nhân cách đã mục ruỗng không? Tương lai nào đang chờ đợi? Khi mà không một người nào trên đất Việt Nam này, nếu trung thực với chính mình có thể nói rằng tôi đã không từng một lần giả trá.

Người viết bài này cũng từng giả trá, khi trên chiếc băng ca là bố mình, và nhiều lần trước kia là mẹ mình, đang đợi chờ trước phòng cấp cứu của bệnh viện. Khi những nhân viên của bệnh viện thờ ơ trước cái chết cận kề của người thân, nếu không có tiền được dúi vào tay họ. Khi những y tá sẽ đâm mũi kim rất thô bạo vào cánh tay gầy của mẹ mình. Khi đến một người quét dọn của bệnh viện cũng có thể kiếm cớ xẵng giọng và quát nạt, nếu ta  không biết ý mà dúi tiền lót tay cho họ!

Và như thế, tôi đã giả trá, không chỉ một lần, khi tôi dúi tiền  lót tay cho họ, dù biết rằng thế là không tốt. Tôi đã và sẽ còn phải đưa. Bất cứ ai cũng vậy, nếu tôi không muốn người thân của mình chết tức tưởi vì sự bỏ mặc đến trở thành độc ác của những người đang được trả lương bằng những đồng tiền thuế của chúng ta và họ có trách nhiệm phải làm tròn nhiệm vụ.

Nhưng rất nhiều người đã, đang và còn sẽ tiếp tục độc ác, vì họ nắm vận mệnh của những người rơi vào hoàn cảnh phải lệ thuộc họ.


Ngành giáo dục có thể làm nhiều điều để chống lại sự giả trá mà không tốn kém và không phải chờ đợi ai. Ảnh: chuvanan-yenbai.edu.vn


Ai đã "đầu têu" giả trá?

Sẽ chẳng có ai nhận đâu. Rồi ai cũng sẽ nói rằng tôi rất thật thà, lương thiện.

Nhưng nói dối phải có nguồn gốc. Chỉ có những người đi trước mới có thể dạy cho trẻ con và kẻ đi sau biết nói dối. Bản thân trẻ con mới sinh ra và chưa một ngày gia nhập cộng đồng và bắt chước tập tính của cộng đồng thì không biết nói dối.

Có ngôi nhà nào có thể xây được trên nền móng là một đầm lầy?

 Sự giả trá trở thành thường nhật, thành đương nhiên. Sự chính trực trở thành lạc lõng. Người chính trực khó sống. Cộng đồng trở nên hư hoại nếu không dám phản đối cái xấu và ủng hộ sự lương thiện. Đó chính là thảm họa khủng khiếp, lâu dài,  chính là cái đầm lầy khổng lồ sẽ chôn vùi chúng ta.

Để tìm ra nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, có rất nhiều nhưng  một trong những điều thấy nhỡn tiền, chính là ở nhiều người có trách nhiệm. Rất nhiều quan chức đã nói một đằng làm một nẻo. Của cải tài sản của họ do tham nhũng mà có. Họ lên chức không phải do tài năng mà do mối quan hệ và chạy chọt và chiều lòng cấp trên. Họ không chịu bất cứ trách nhiệm nào khi địa bàn hoặc lĩnh vực họ phụ trách trì trệ, để xẩy ra những hậu quả nghiêm trọng.

Và ngành giáo dục, trong khung cảnh đó, không thể không bị ảnh hưởng, đã góp phần không nhỏ trong việc chiều lòng một số  ngưười có vị trí trong xã hội, vén tay áo tô đậm thêm cái đại tự "giả trá" trên những tờ giấy trắng đầu đời.

Ngành giáo dục có thể bắt đầu, nhưng... ?

 Vì căn bệnh "thành thích", vì sự giả dối - mà Phó Thủ tướng  Nguyễn Thịên Nhân đã nói trong Thư gửi ngành giáo dục vào ngày 20/11/2008.

Thực ra, bệnh thành tích vẫn là một mỹ từ. Chỉ có một từ để gọi cái được gọi là bệnh thành tích - đó là sự giả trá, trong tất cả các ngành, không chỉ trong ngành giáo dục. Nói chỉ riêng ngành giáo dục là oan. Nhưng, để bắt đầu xây dựng lại nhân cách Việt,  lại phải bắt đầu từ nhiều thứ, trong đó ngành giáo dục có thể làm được nhiều điều.

Đi tiên phong trong việc chối bỏ thói quen viết đại tự "giả trá" trên tâm hồn những trẻ em bắt đầu gia nhập cộng đồng. Tự nhiên cho ra lò những  công dân chính trực và hồn nhiên, thấy nóng thì biết bảo rằng nóng và ngược lại - đó là trách nhiệm và những điều mà ngành giáo dục có thể làm mà không tốn kém và không phải chờ đợi ai.

Vì Việt Nam, hơn bao giờ hết, đang cần những công dân không cam chịu cái xấu. Nhhững công dân cần những kiến  thức cập nhật chứ không phải kiến thức từ những giáo trình giả trá chỉ để thầy cô giáo và một số cá nhân có quyền lực trong ngàng tính điểm với cấp trên để được yên thân hoặc để được thăng tiến.

Cần  tạo ra một phong trào và tạo thành lề thói sâu rộng trong xã hội rằng con người cần nhìn lại mình và chống sự giả trá trên mọi lĩnh vực,  trong toàn xã hội. Cần thức tỉnh con người lấy lại bản ngã đầu tiên mà tạo hoá đã ban cho muôn loài.

Để thoát khỏi những đầm lầy.

Võ Thị Hảo (nhà văn)
Nguồn: Tuần Việt Nam VNN.VN


Tiểu thuyết mới của Phùng Văn Khai

    Vài cảm nhận khi đọc tiểu thuyết “Hư Thực” của Phùng Văn Khai                                                                          Dương Hướng
“Hư Thực” là cuốn tiểu thuyết đầu tay của nhà văn Phùng Văn Khai, nhà xuất bản Hội Nhà Văn cấp giấy phép đã ra mắt bạn đọc như đón chào năm mới 2009. Tôi có vài nhận xét theo góc độ của người sáng tác khi đọc tiểu thuyết “Hư thực. “Hư thực” trước hết là một cuốn tiểu thuyết có lối viết khác với tất cả cuốn tiểu thuyết Việt Nam mà tôi đã đọc. Cũng có thể nó không lôi cuốn đôi với một số người quen đọc theo cách cảm nhận thông thường xưa nay. Tôi nghĩ có lẽ tiểu thuyết “Hư thực”, tác giả sáng tác dành riêng cho giới “văn sỹ” chúng ta, đọc nó ta bất chợt có niềm cảm hứng cho sự sáng tạo thăng hoa, nó gióng như thứ men lạ tạo nên niềm hứng khởi đặc biệt. Một tiểu thuyết có bố cục cũng rất lạ, không đầu không cuối, không chương hồi, không cốt truyện, không biết đâu là nhân vật chính phụ, tất cả được thể hiện bằng những giấc mơ. Phải đọc nó với sự tập trung cao độ mới hy vọng tìm ra ý tứ sâu sắc trong đó. Càng đọc, càng cuốn ta vào một thế giới hư ảo mà các nhân vật tự bộc lộ ra băng những giấc mơ đan xen với thực tại, vừa hư vừa thực khiến ta mê mụ, đắm chìm, u uất, đau buồn và khát khao, dâng trào cảm hứng. Những giấc mơ của đời sống thực được tác giả xếp đặt rất tinh, phản ánh bằng tư duy của hai nhân vật là Y và họ Đào xuyên suốt tác phẩm với một loạt những nhân vât hết sức đặc biệt: cô gái người rừng, người đàn bà điên, ông già và con chó...cuộc sống của họ bị dồn đẩy tới tận cùng nơi rừng rú và hang hốc. Họ bị cô đơn đến tận cùng, càng ngày họ càng bị “lún sâu” trước cảnh huy hoàng của đời sống xã hội hiện đại. Nhưng điều đáng nói là những nhân vật đáy xã hội được tác giả khắc họa bằng những chi tiết rất “đắt” mô tả rất sắc nét đời sống bên ngoài (lớp vỏ) và chiều sâu bên trong (nội tâm) các nhân vật với ý chí tình cảm và cả bản năng siêu đẳng của con người để tồn tại, để duy trì sự sống của một kiếp người. Bi kịch điển hình của lớp người đáy xã hội, như ông già cô đơn, cô độc, nhưng vẫn đầy khao khát sống, khao khát dục vọng mà không chốn nương thân, không nơi nương tựa, không bạn tri âm, và kinh khủng nhất không cả niềm tin vào đồng loại (con người) phải làm bạn và nương nhờ vào một con chó...   Những trang viết về người đàn bà điên cũng thật sinh động, mà nhân bản, vừa tối tăm, vừa mơ hồ nhuốm mầu huyền thoại ám ảnh người đọc: “...Bao giờ cũng vậy, cứ chiều chiều, lúc sẩm tối, vắng người, chị lại vảng ra bới những thức ăn thừa trong bãi rác, vừa ăn vừa khẽ mỉm cười, có lúc như là hát...Chị luôn mặc hở hang đại khái. Mùa đông mùa hè đều phong phanh như nhau. Tóc chị đen dài, cáu bện vào nhau, từng lọn từng lọn ôm lòa xòa khuôn mặt khó đoán định tuổi tác...Chị sán đến bới đống vỏ ốc và khêu những con còn sót, những phần lòng ốc, cứt ốc mà khách đã bỏ, hôi thối nồng nặc có khi từ mấy hôm trước thản nhiên ăn rất ngon lành   Cảnh trong rừng sâu, rồi cảnh sông nước, mây mù sương khói, cảnh làng Bái liên tục lật đi lật lại trong những giấc mơ. Những mảng đời được tác giả dè dặt lần lượt bóc tách, từng phần từng phần rất điệu nghệ rất bài bản bằng những cảm xúc tuôn trào lên những trang văn óng ánh sắc màu huyền ảo hư hư thực thực, Đọc tác phẩm “Hư thực” tôi có cảm nhận tác giả đã dũng cảm từ bỏ đời sống thường nhật “lặn sâu” vào cõi thiêng, cõi riêng để cùng sống cùng mơ cùng đồng cảm với các nhân vật của minh, và tác giả rất khéo léo dụ họ, thôi miên họ thêu dệt lên những giấc mơ thần tiên, những cơn ác mộng về những tội ác, những nỗi khát khao dục vọng, những niềm đam mê cuồng nộ, những quằn quại xác thịt và cả nuối tiếc, ghen tuông ích kỷ, hận thù và chết chóc đau thương...     Bắt đầu vào câu chuyện, tác giả đã lấy bối cảnh cho hai nhân vật Y và họ Đào bắt đầu cuộc hành trình đi trên “con tầu định mênh”- đi vào cõi hư thực, đi vào cõi mê. Nó giống như thể nhà văn muốn lý gải được chiều sâu của đời sống thực tại, anh ta phải rũ bỏ mọi vướng bận đời thường để đi đến tận cùng của niềm đam mê nghệ thuật- anh ta phải trải qua một hành trình gian khó, trải qua những cơn đau, những vật vã của đời sống thực và những khát khao cháy bỏng của những giấc mơ. Ngay những trang mở đầu tác giả đã tả con tầu số phận: “...Con tầu đơn độc vẫn lao mình trong đêm đen về nơi vô định. Bóng tối trập trùng, lạnh lẽo bủa vây...” Và khi phác họa nhân vật, Phung văn Khai chỉ lướt qua mấy dòng đã thể hiện lên thân phận nhân vật và tính cách cá biệt của nhân vật họ Đào. Người cầm bút nó phải khác ở người bình thường là ở đó- Nhân vật họ Đào dám quên mình, dám chấp nhận, dám đối mặt với số phận. “... Họ Đào thân cô thế cô, bấp bênh nghề ngỗng, lang bạt kỳ hồ, gia đình xa thẳm, vợ con không màng, tiền tài im lặng, trú ngụ thất thường...lại cầm bút viết văn- viết không xu thời, nịnh thế...Con tầu còn có ga dừng, trạm đỗ, còn hú mừng một ban mai, chào đón một cung đường... Còn họ Đào thì toàn ưa thích những chuyện gió trăng: ...Lạ là cái văn chương họ Đào âm thầm nhân hậu. Văn phong lạ lùng, kỳ ảo da diết, vang sâu và rất thiện tâm, thiện chí ở đời. Oái oăm ở chỗ dường như rơi đúng vào thời buổi người ta không cần những đặc tính trên, họ còn đang mải bè cánh thù tạc, phĩnh phờ ỡm ờ, xúi giục, bợ đỡ lẫn nhau, những thứ có chặt đầu gã cũng không làm được...” Đọc tiểu thuyết “Hư thực” không ai kể lại được diễn biến của câu chuyện. “Hư thực” là một chuỗi hình ảnh đời thực được mã hóa bằng những giấc mơ đan xen giữa hiện tại quá khứ, giữa nhân vật này lẫn nhân vật kia, lúc sáng lúc tối ẩn hiện, chập chờn những cảnh sắc, những ảo ảnh. Với lối viết hư hư, thực thực lôi cuốn ta vào chốn hồng hoang không biết là hư hay thực:“...Ơ! như là trăng lên. Trăng thật. Trăng muộn mằn yếu ớt run rẩy và cô độc trên nền trời xám ngoét... Họ Đào không nói không rằng lặng lẽ rời đống lửa, gần như không gây ra tiếng động, đi hút ra phía lòng suối cạn. Chắc họ đến với nhau. Thêm một đêm, một khắc bên nhau. Biết đâu ngày mai vĩnh viễn không gặp lại...Những hình ảnh, cử động theo hơi gió hơi sương lả lướt hiện về. Những tà áo mỏng manh chập chờn biến hiện. Một điều gì lưỡng lự, chưa rõ rệt đang buông vào cõi bất định. Tiếng gí u u ngoài con suối cạn. Những luồng sáng chập chờn, gieo rắc, chợt chìm đi rồi lại bùng lên...Lòng suối cạn như cái huyệt đen thăm thẳm, trải dài bất tận...bỗng lúc ấy... Giữa khung tròi xám, từ từ hiện lên một khuôn mặt lặng lẽ mờ ảo nhưng rõ dần và rất trắng. Một khuôn mặt đẹp đến lạnh lùng, nhưng chỉ thoáng thôi lại từ từ biến mất như chưa từng hiện ra. Cái khuôn mặt thoáng hiện ấy có phải người con gái đêm qua...” Đọc đoạn văn trên ta nhận ra tác giả phải có những cảm xúc thăng hoa, những quan sát tinh tường trong trạng thái nửa mê nửa tỉnh nên mới có những ngôn từ vừa như mê mụ vừa như tinh anh ma quái. Phùng Văn Khai đã có những tìm tòi đổi mới cách viết cứ ngỡ vớ đâu viết nấy, thấy gi tả nấy cứ tưởng là viết lung tung giống như người lạc rừng vào chốn hoang vu đi không phương hướng, nhưng thực chất, tác giả đã bày đặt   một trận đồ bát quái rất tài tình. Đọc “Hư thực cứ phải đọc đi đọc lại nhiều lần mới sáng tỏ. Đọc “Hư thực” tôi cứ liên tưởng Phùng Văn Khai giống như người “nghệ sỹ” ngồi chợ quê với đôi tay tài hoa nặn nhoay nhoáy những cục bột thành những con tò he với đủ sắc màu, với đủ kiểu dáng hình hài vạn vật, cả giai nhân tuyệt sắc, cả ma quỷ thánh thần. Tình tiết diễn biến của tác phẩm không thể hiện bằng chương hồi mà nó được tác giả cài cắm bằng những giấc mơ, hoặc chỉ những câu chuyện trao đổi hoặc những cảm nhận của nhân vật Y về nhân vật họ Đào liên quan móc nối với cô gái trong rừng, với người đàn bà điên, với người đàn ông và con chó... Tất cả các nhân vật cứ nhào quyện vào nhau, lúc là hình, lúc lại là bóng, khi là hiện tại, khi là quá khứ, khi mê khi tỉnh liên tục hiển hiện trên trang viét với những câu văn, những ngôn từ đầy ắp cảm xúc, khiến ta cứ thấy vấn vương dăng mắc mãi vào câu chuyện của hết nhân vật này đến nhân vật kia. Đôi lúc ta lại thấy lẫn lộn mê hoặc và hư ảo không biết đâu là thực đâu là hư.    “Hư thực” là một tác phẩm văn học đày tính nhân văn phản ánh một cách sâu sắc và tinh tế đời sống hiện thực xã hội mà con người đang phải trải qua, đang phải đấu tranh để tồn tại, để được làm người, được khao khát sống, khao khát yêu và được viết lên những gì mà nhân vật họ Đào đã dám viết, dám dấn thân.   



Bản Tường Trình (tiếp kỳ trước)




Tranh PHUNG PHAM
Tiếp theo bài viết "Chỉ còn biết kêu trời" được bạn đọc hưởng ứng và yêu cầu  tôi công bố bản tưởng trình của tôi để bạn đọc hiểu rõ mọi chuyện.
Bản tường trình này tôi viết vội chỉ trong một buổi tối với tâm trạng bức xúc để sáng hôm sau gửi nhanh lên nhà xuất bản theo đúng tinh thần của giám đốc và tổng biển tập. Nếu có gì sơ xuất hoặc quá lời mong bạn đọc lượng thứ.
Bản tường trình

Kính gửi nhà xuất bản hội nhà văn

Tôi là Dương Văn Hướng, sinh ngày 7/8/1949, đảng viên Đảng Cộng Sản Việt Nam, hội viên hội nhà văn Việt Nam, đã từng là bộ đội thuộc Lữ đoàn 573, chiến đấu trên chiến trường Quân Khu 5 trong thời gian chống Mỹ cứu nước, hiện đang công tác tại cục hải quan Quảng Ninh.

    Theo yêu cầu của nhà xuất bản hội nhà văn, tôi tường trình, nói rõ quan điểm lập trưởng nhất quán của mình trong sáng tác văn học nói chung cũng như tác phẩm "Dưới chín tầng trời" nói riêng của tôi.

     (Xem tiếp)


1 2 3 4 5 6 7 8 9 10  Sau»