Ký sự quê nhà (phần 3)


Ngôi từ đường họ Dương đã bị cháy trụi thời cải cách sau 47 năm đã dược xây dựng
lại bằng toàn bộ số tiền bản quyền tác phẩm tiểu thuyết "Bến không chông"
dịch sang tiếng Pháp và tiếng Ý cộng với số tiền đóng góp của bà con trong họ tộc
Ảnh 3 Cắt băng khánh thành ngôi từ đường họ
Ký sự quê nhà (phần3)
Dương Hướng
Quê nội
Những cảnh đời đi vào trang văn
Quê nội tôi có tục cả làng làm chạp tổ vào ngày mồng một tháng chạp hàng năm. Vào ngày này, dòng họ nào khấm khá tắt bếp, ông bà con cháu kéo nhau đến từ đường họ cúng tổ đánh chén tưng bừng, họ nào "yếu" hoặc quá đông không kham nổi thì đại diện mỗi nhà một người. Những năm đói kém, mỗi suất "đinh" góp vài ba đồng, bát gạo, mấy năm gần đây mỗi suất cũng chỉ vài ba chục ngàn là cỗ cũng đủ món xôi thịt, rượu, cam táo Trung Quốc vàng rực ban thờ tổ. Tôi là trưởng tộc nên năm nào cũng phải hai lần về cúng tổ vào ngay mồng 1 tháng 5 là ngày giỗ tổ và ngày 1 một tháng chạp là ngày chạp tổ. Ông chú họ tôi tuyên bố xanh rờn: Một năm bốn tiết xuân hạ thu đông anh không về được thì đóng tiên theo suất đinh ở nhà chúng tôi lo, nhưng hai ngày trọng đại- mồng một tháng năm và mồng một tháng chạp, anh là trưởng họ không thể vắng mặt. Cảnh giỗ chạp có trong tiềm thức từ ngày tôi còn bé tý, cả họ gọi tôi là thằng trưởng nam con và ông chú họ giao làm mật vụ chuyên đi canh chừng trong lúc sắp cỗ nhốn nhào có ai ăn vụng xôi oản hay ăn cắp thịt, cá, tiết canh lòng lơn thì báo cho chú. Tôi đã đưa vào tiểu thuyết "Bến không chống" cả mấy chương viết về dòng họ nhà tôi với những dữ kiện kinh hoàng khi tôi còn là cậu bé con lên mười, chứng kiến cảnh ngôi từ đường họ bốc cháy rừng rực vào một buổi sáng trong thời kỳ cải cách ruộng đất. Và những nhân vật như chú Vạn, Hạnh, Dâu, Thắm đều là những người trong họ tộc và bạn bè thân tình trong làng, trong xóm. Suốt bao năm, kể từ ngày ngôi từ đường bị cháy trụi, họ Dương tôi không còn nơi để cúng tổ, làm chạp (họ nhà tôi lớn, dân số chiếm tới nửa làng) Sau này lớn lên đi bộ đội tôi nung nấu có ngày sẽ bằng mọi giá phải xây lại ngôi từ đường để họ tộc có nơi thờ cúng tổ tiên. Tới giờ phút này nhìn ngôi từ đường mới, nhìn bà con họ tộc đến cúng tổ, lòng tôi nao nao. Quê tôi nghèo lắm, cả họ trông chờ vào mối mình tôi là trưởng lại lại là nhà văn chắc phải giàu có lắm. Chả thế, ngày tiểu thuyết "Bến không chồng" lên phim, ông chú họ đọc báo, xem ty vi, nghe người ta kháo thế nào mà đúng đêm giao thừa năm ấy, thắp hương cúng vái xong, ông thay mặt cả họ điện cho tôi, giọng đấy phấn khích: Hướng ơi, mày được mấy trăm triệu tiền bản quyền phim "Bến không chồng", bỏ ra vai ba chục triệu, xây từ đường họ nhà mình cho thật oách vào nhá! Mày về mà xem thằng họ Vũ nó xây từ đường họ to nhất xã rồi. Tôi lặng người chẳng biết giải thích cách nào để ông chú hiểu tiền bản quyền tiểu thuyết làm phim chỉ được có bốn triệu, tôi ngại đi lấy, đành phải viết giấy ủy quyền cho cô con gái ngày ấy đang học phân viện báo chí trên Hà nội để nó chi tiêu đóng tiền học, tiền thuê nhà hàng tháng. Riêng chi tiết này nhà văn Tô Đức Chiêu, đồng hương với tôi đã viết một bài in trên báo Tiền Phong ngày ấy. Khi báo ra tôi chỉ lo ông chú biết, thế nào cũng bị ông cho một trận. Nhưng rồi mọi chuyện cũng qua, nhờ phúc tổ, tôi và bà con trong họ cũng đã xây được ngôi từ đường bằng toàn bộ tiền bản quyền tác phẩm "Bến không chồng" dịch sang tiếng Pháp và tiếng Ý cộng với tiền đóng góp của bà con họ tộc. Linh hồn cụ tổ họ Dương nhà tôi lâu nay không nơi nương náu, lang bạt kỳ hồ trên ngọn đa ngọn quéo, nay đã có nơi trú ngụ, con cháu khói hương tuần rằm giỗ tết. Bữa khánh thành từ đường cả họ ăn mừng suốt từ chiều hôm trước sang hết ngày hôm sau, múa hát chầu văn dâng hương vui như ngày hội. Tôi xúc động thấy cả bí thư chủ tịch xã cũng sắm lễ vào dâng hương cụ tổ nhà tôi. Ngày chạp tổ năm nay vẫn diễn ra như mọi năm, vẫn những hồi chuông ngân vang lẫn lời thỉnh cầu...a mô di đà... hương hồn cụ tổ linh thiêng mờ ảo trong khói hương nghi ngút. Tôi nhận ra từng gương mặt bà con họ tộc cô dì chú thím, đang thành tâm khấn vái. Trong số họ có rất nhiều người là hình bóng của những nhân vật trong các sáng tác của tôi. Mỗi người mang một số phận. Có người đã mất, những cô gái trong "Bến không chồng" xưa trẻ trung duyên dáng giờ thành bà già, da nhăn nheo. Thím "Xeng" ngày nào bị tôi bắt quả tang ăn vụng xôi trong ngày giỗ tổ, bao năm nay chỉ sống bằng nghề cắp mủng khắp ngõ xóm đường làng bán rong ngô rang, kẹo lạc cho trẻ con, giờ ốm nằm liệt giường. Mỗi lần về thăm thím, biếu thím năm chục một trăm, thím mắng yêu: Cha bố anh trưởng họ, lại còn cho cả tiền thím. Thắm, con gái thím năm nay đã ngoài năm mươi vẫn không chịu lấy chồng nguyện sống một mình làm "bà tổ cô". Họ tôi có đến mấy cô đã về già vẫn không chồng. Lần nào về tôi cũng thấy Thắm lụi cụi một mình trong gian nhà cấp bốn chỉ kê vừa chiếc giường và bộ bàn ghế nhỏ. Tôi không sao lý giải nổi đời người đàn bà lại có thể sống âm thầm lặng lẽ suốt cả một thời con gái xuân sắc. Hồi trẻ Thắm cũng mặn mà duyên dáng lắm. Ngay cả con sông Đình, với cái "bến không chồng" xưa nước trong leo lẻo, cả làng chiều chiều đều ra tắm mát cùng lũ trẻ chung tôi lặn ngụp tối ngày, cảnh sắc nên thơ là vậy mà sao giờ như nhỏ hẹp lại, nước đục ngầu không một bóng chim tăm cá. Môi trường đồng đất bị hủy diệt vì thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ. Tôi ngẩn ngơ khao khát nhớ về kỷ niệm xưa, cả niềm yêu thương và nỗi đau nhân thế. Tôi một mình lần mò ra "bến không chồng". Không còn con ba ba thuồng luồng hiện lên mặt nước săn bắt trẻ con. Dấu tích đoạn sông Hạnh tắm đêm vì sự cuốn hút gợi dục của dòng nước mát khiến Hạnh phát điên vì nhớ Nghĩa giờ không còn nữa. Bên kia sông cây ruối già cổ thụ đầu cánh mả Rốt có con ma mặt đỏ trú ngụ chuyên săn hiếp đàn bà phụ nữ góa chồng giờ cũng không còn. Hồi làm phim "Bến không chồng", tôi và đạo diễn Lưu Trọng Ninh về chọn cảnh tìm cây đa bến nước sân đình để quay đành phải ra đi vì hai cây cổ thụ đã chết ngẻo từ lâu. Nền đình Đoài xưa giờ là trụ sở đảng ủy. Lần tôi về tặng đảng ủy, ủy ban xã cuốn tiểu thuyết "Bến không chồng" đúng vào ngày đảng bộ xã họp, các đảng viên truyền tay nhau xem và bình luận thế nào đó. Đến tối, đang ăn cơm tôi nghe bà vợ ông Đột nói oang oang từ ngoài sân: Thằng Hướng về đấy a, mày viết sách nói xấu gì ông Đột nhà bà hả. Tôi sững sờ đành phải lựa lời giải thích để bà bớt giận: Bà lại nghe người ta hiểu lầm cháu rồi, cháu nói là nói cái thời cuộc nó thế! (Ông Đột ngày ấy không biết chữ được bầu làm chủ tịch xã cầm ngược lá đơn của Lão Khi xin bán trâu lại ngỡ đơn kiện). Ông Đột cũng chỉ là nạn nhân thôi...Cả làng mình ai cũng tốt... Tôi phải giải thích mãi bà Đột mới hiểu ra và bảo: có thế chứ, cái thời ấy chả riêng gì ông Đột nhà bà, cả làng cả nước đều u mê tỳ quốc thế. Bà Đột hả hê ra về. Lại đến cái đận xã tổ chức đón danh hiệu anh hùng thật hoành tráng, anh con trai ông Đột gọi tôi ra giọng uất ức: Anh thấy đấy, bố em là chủ tịch đầu tiên của cái xã này, anh đã viêt cả trong tiểu thuyết mà đến ngày đón danh hiệu anh hùng chúng nó không thèm mời bố em, cán bộ bây giờ họ chỉ nghĩ đến tiền thôi, ai lắm tiền là chúng trọng chúng mời, bất kể người đó có là việt gian phản động. Tôi phải an ủi anh con trai ông chủ tịch tiền bối của xã để anh ta thông cảm cho cán bộ xã bây giờ họ cũng phải lo toan quá nhiều công việc nên quên đấy thôi...Tôi nói tránh đi thế để anh ta bớt giận. Chuyện này chẳng riêng gì cán bộ xã tôi, căn bệnh thành tích, đúng hơn, người Việt chúng ta, căn bệnh "Hoành tráng" đã ngấm vào máu rồi khó sửa lắm. Cũng tại muốn "hoành tráng" nên phải cố, phải xoay xở đủ đường, muốn hoành tráng phải có tiền, muốn có tiền phải ‘vận động" nhìn xem anh nào có khả năng tài trợ bất kể anh ta là ai. Quyên góp vẫn không đủ nên đành phải bán đi mấy mảnh đất để có tiền tổ chức đón danh hiệu anh hùng cho thật "hoành tráng". Từ anh nông dân nghèo rớt mồng tơi vẫn thich hoành tráng, vẫn thích oai, ăn chưa đủ no cũng cố gom góp chắt chiu làm được ngôi nhà rõ to. Có người làm xong được nhà thì nợ chồng chất, có anh chưa làm xong đã ngẻo. Còn mọi chuyện cưới xin ma chay cũng phải làm cho thật hoành tráng. Rồi đên cả ông nhà nước cũng thích ‘hoành tráng", cái gì cũng muốn nhất thế giới, đánh nhau cũng anh hùng nhất, nước mình thì nhỏ mà thủ đô cũng phải to nhất nhì thế giới. Rồi các trụ sở đảng, các cơ quan công quyền, các ban ngành, đoàn thể, đến các cơ quan xí nghiệp từ trung ương đến địa phương, anh nào cũng muốn hoành tráng. Hình thức thì nom rõ lộng lẫy nhưng nội dung thì lạc hậu trì trệ nghèo nàn, hiệu quả kinh tế lại thấp. Trên ty vi chả mấy ngày là không phát trực tiếp các chương trình kỷ niệm lế lạt hội hè hoành tráng tiêu tốn tiền tỷ trong khi dân còn đang khốn khổ trăm đường. Ông anh tôi bảo, cứ đà này nông thôn chỉ còn ông bà già. Bọn trẻ bây giờ tìm mọi cách đi hết, kẻ ra thành phố, người đi nước ngoài làm thuê...
Tôi lững thững từ bến không chồng bước lên cầu Đá Bạc (cầu Đình Đoài). Dòng sông cạn kiệt, nước đục ngầu. Xa xa là cánh mả rốt, nhấp nhô lăng mộ đủ sắc mầu vàng son. Các cụ nói cấm sai "Âm thịnh dương suy". Ngôi mộ tổ dòng họ Dương nhà tôi cũng mới xây nom thật ‘hoành tráng". Nơi ấy có cả nấm mồ Nguyễn Vạn, Trần Tăng, Ngô Quất, là những nhân vật trong ba cuốn tiểu thuyết "Bến không chồng"- "Dưới chín tầng trời" và "Trần gian đời người" của tôi. Bên kia cầu là nền Đình Đoài xưa, bây giờ là trụ sở đảng ủy xã. Hai cây quéo cổ thụ đã chết ngẻo từ bao giờ. Chính nơi đây là máu thịt, là tình yêu đời tôi. "Nước sông Đình vừa trong vừa mát- đồng làng Đoài bát ngát lúa ngô..." Câu ca ngày nào lại vang lên.
-Ảnh 1 Ngôi từ đường họ Dương bị cháy trụi thời cải cách sau 47 năm mới được xây dựng lại
-Ảnh 2 đội tế dâng huong ngày khánh thành từ đường họ Dương
Ảnhbây giờ là Dòng sông cạn kiệttNền đình Đoàiđể quay thì đành phải thất vọng ra đi vìchọn cảnhgiờ cũng không Hạnh Hạnh Phúc Hạn



Bản in







